HẮC BẠCH CÔNG TỬ NAM KỲ

CÔNG TỬ BẠC LIÊU

CÔNG TỬ MỸ THO

Một bản tin trên báo cách đây 2 năm vào ngày 3/9/2010 với cái tựa đề “Con trai Công Tử Bạc Liêu vẫn chưa xây được nhà thờ tự”. Việc xây một căn nhà đối với người thường thì không có gì lạ, nhưng đối với “cậu ấm” con của Công Tử Bạc Liêu thì đúng là một chuyện đầy mâu thuẫn.

Nội dung bản tin, “Sau gần một năm xin được đất để xây nhà thờ phượng cho cha mẹ, cậu ấm Trần Trinh Đức, con trai của Công tử Bạc Liêu vẫn chưa có đủ tiền để xây nhà.”

Ông Trần Trinh Đức không có việc làm, không có nhà ở, chạy xe ôm mà không có khách, thậm chí không có tiền mua gạo. Cái nghèo của ông làm cho người ta nhớ đến người cha đã “đốt tiền nấu trứng tỏ ra mình giàu” ngày xưa.

Người dân Nam Kỳ miệt lục tỉnh trước kia không còn lạ gì với “cụm từ” “Công tử Bạc Liêu” đã trở thành một thành ngữ để chỉ chung những chàng trai hào hoa, phóng khoáng, sành điệu ăn chơi và xài tiền như nước.

Có nhiều giai thoại lý thú được loan truyền trong dân gian về cách ăn chơi của Hắc, Bạch công tử ở Nam Kỳ trong những thập niên 1930, 1940.

1/- Xuất thân của Công Tử Bạc Liêu

Công tử Bạc Liêu Trần Trinh Huy sinh ngày 22/6/1900, còn có tên là Ba Huy, là một tay ăn chơi nổi tiếng ở Saigòn và miền Nam vào thời đó. Tên thật là Trần Trinh Quy, nhưng cho rằng cái tên Quy không sang trọng cho nên đổi lại là Trần Trinh Huy.

Ba Huy là con trai của ông Trần Trinh Trạch, ông Trạch xuất thân là một thư ký vườn, nhà nghèo, được ông bá hộ Phan Văn Bì, một đại địa chủ “Vua lúa gạo Nam Kỳ” gả con gái cho, trở nên giàu có. Nhờ cha vợ cho đất và cấp vốn, cộng thêm chút đỉnh chữ nghĩa và biết làm ăn, chẳng bao lâu Trần Trinh Trạch trở nên một địa chủ xếp vào hạng nhất ở Nam Kỳ.

Trần Trinh Trạch sở hữu 74 sở điền với 145,000 hecta đất trồng lúa và 100,000 hecta ruộng muối. Ông Trạch có 7 người con. Ba Huy là con trai thứ hai.

2/- Con người của Trần Trinh Huy

Trần Trinh Huy, (Ba Huy, Hắc Công Tử) du học Pháp 3 năm. Về nước không có mảnh bằng nào, để lại một người vợ Pháp và đứa con ở Paris. Người Huy cao lớn, khoảng 1.7 mét, lực lưỡng nhưng không cục mịch. Dáng người thanh thoát, sang trọng đầy sinh lực. Ba Huy rất hào phóng, rộng rãi, dễ dãi. Người ăn kẻ ở trong nhà lầm lỗi cũng ít la rầy, bà con ở xa đến thăm cũng được cho tiền. Tá điền nghèo được giúp đở.

Giao thiệp với người Pháp thì không khúm núm, nịnh bợ như nhiều người khác. Giới giang hồ tứ chiếng xem Ba Huy như là tay nghĩa khí ngon lành nhất Nam Kỳ. Ba Huy cũng ủng hộ, giúp Việt Minh một lần 13,000 giạ lúa. Ông thích hội hè, là người đầu tiên tổ chức “Thi hoa hậu miệt vườn” ở Hậu Giang.

Vợ : Ba Huy có 4 vợ và rất nhiều nhân tình. Vợ 1. Người Pháp có 1 con. Vợ 2. Ngô Thị Đen, người Bạc Liêu. Có người con gái là Cô Hai Lưỡng sang sống bên Pháp. Vợ 3. Nguyễn Thị Hai. Có 3 con : Thảo, Nhơn, Đức. Vợ 4. Khoảng 1968, Ba Huy dọn về căn biệt thự đường Nguyễn Du, Saigòn. Mỗi buổi sáng, đứng trên lầu nhìn xuống, thấy một cô gái gánh nước đẹp quá. Con ông già sửa xe đạp. Ba Huy đến nhà, xin đổi căn biệt thự lấy cô gái, đó là người vợ sau cùng của Ba Huy.

Ông mất ngày 16/1/1973 đưa về an táng ở huyện Vĩnh Lợi, Bạc Liêu.

3/- Những giai thoại

Đi thăm ruộng bằng xe hơi hoặc ca nô : Ba Huy được cha ủy nhiệm cho trông coi điền sản. Ông đi thăm các sở điền bằng xe hơi hoặc ca nô. Việc nầy là một sự kiện đặc biệt. Ba Huy đi đến đâu thì tá điền ùn ùn kéo đến xem, vì cả đời họ chưa thấy xe hơi bao giờ. Đi đòi nợ các tỉnh, ông dùng xe Ford Vedette, đi chơi thì dùng xe Peugeot Sport, loại xe nầy chỉ có 2 chiếc ở miền Nam, chiếc kia là của vua Bảo Đại.

– Ba Huy thuê người Pháp làm công cho mình : Đó là ông Henri, chồng bà Tư Nhớt, một người trong gia tộc Trần Trinh. Henri làm quản lý, điều hành tài sản, dưới quyền của Ba Huy. Quản lý được hưởng 10% lợi tức thu được hàng năm, vì thế  ông Henri làm việc mãi cho đến sau ngày 30/4/1975 mới về Pháp.

– Công tử Bạc Liêu mê nghề võ : Cái mốt của thời đó là học võ nghệ để nâng cao khí phách thượng võ của kẻ anh hào. Ông không học võ Tây, võ ta, mà sang Thái Lan mướn một ông thầy thượng hạng về dạy võ Xiêm cho mình và người em út là Tám Bò.

Một sự kiện chấn động cả nước là đi thăm ruộng bằng máy bay : Vì điền sản của gia tộc Trần Trinh lúc đó là 145,000 hecta ruộng lúa và 100,000 hecta ruộng muối, cho nên cần máy bay để đi thăm ruộng, vì đi xe hơi rất mệt mỏi.

Lúc đó, cả nước cũng chỉ có 2 chiếc máy bay tư nhân. Chiếc kia là của vua Bảo Đại.

Một lần đi thăm ruộng ở Rạch Giá, vì thấy lái máy bay dễ quá, cho nên Ba Huy mới giành với phi công người Pháp, để cho ông lái. Hứng chí, bay qua Hà Tiên cho đến khi đồng hồ báo sắp hết xăng nên phải đáp khẩn cấp, mới biết đó là đất Thái Lan.

Cha của ông phải đem 200,000 giạ lúa qua nộp cho Thái Lan để chuộc người và máy bay. Sự việc máy bay đi lạc đường được tờ báo Le Courrier Saigonnais đăng tin và nhiều tá điền xác nhận là họ đã tham gia làm phi trường ở Cái Dầu. Đó là loại L-19 2 chỗ ngồi.

– Sinh hoạt cực kỳ sang trọng và xa hoa : Ra đường đóng bộ Veston bằng thứ hàng đắt nhất thời đó. Ăn sáng kiểu Tây, trưa ăn cơm Tàu, chiều cơm Tây. Khi đi Saigòn, xe mới cáu cạnh có tài xế lái. Không ở ngôi biệt thự riêng mà ở nhà hàng khách sạn sang trọng nhất. Có lúc hứng chí, đi dạo phố với hàng chục chiếc xe kéo. Chiếc ông ngồi, còn những chiếc khác thì để những vật dụng lặt vặt như là cái nón, cây can… chạy theo xe không cũng được trả tiền.

Ông luôn luôn xê dịch và thích ở những nơi ăn chơi. Chiều cuối tuần thì nghỉ mát ở Vủng Tàu, Đà Lạt hoặc Cần Thơ…Rất mê cờ bạc, có khi đánh một ván 30,000 đồng, trong thời điểm mà lúa chỉ có 1.7$ một giạ, lương tháng của Thống Đốc Nam Kỳ là 3,000$/tháng.

4/. Hắc Công tử và Bạch Công tử

– Bạch Công tử : Bạch Công tử cũng là tay ăn chơi nổi tiếng ở miền Nam thời đó. Bạch Công tử tên thật là Lê Công Phước, thường gọi là Phước George. Là con trai thứ tư của Đốc Phủ sứ Lê Công Sủng, người làng Điều Hoà, quận Châu thành tỉnh Mỹ Tho (Định Tường, Tiền Giang).

Bạch Công tử sang Pháp du học năm 1909. Phước George da trắng nên gọi là Bạch công tử để phân biệt với Công tử Bạc Liêu, da ngâm đen, là Hắc Công tử.

Phước G. rất mê cải lương, sang Pháp học về sân khấu. Về nước, cùng với Nguyễn Ngọc Cương lập ra gánh hát lấy tên 2 người là gánh Phước Cương. Một năm sau, Phước tách ra lập gánh Huỳnh Kỳ để cho Phùng Há quản lý và cưới Phùng Há sau đó.

a/- Giai thoại : Tác giả Nguyễn Thiện viết : “Đang lúc cô Ba Trà, một phụ nữ có sắc đẹp làm xao xuyến tâm hồn Bạch công tử, cô nầy thua bài sạch túi, thì Bạch công tử lái xe đến nhà rủ xuống Cần Thơ ăn cá cháy và đánh bài gỡ vốn. Hai người vừa đến khách sạn Bungalows thì Hắc công tử vừa tới, thắng xe cái két. Cả hai lâm vào cảnh khó xử trước người đẹp, việc chiếm mỹ nhân chỉ còn nhờ vào tài nghệ chinh phục của mỗi người.

Cả ba cùng vào khách sạn. Bạch công tử lột chiếc cà rá nhận hột xoàn trị giá 3,000$ để trên bàn, trước khi vào phòng tắm. Lúc trở ra, thấy cô Ba Trà đang đeo thử chiếc cà rá vào ngón tay, thì Bạch công tử lên tiếng tặng luôn cho cô. Sau đó, Hắc công tử mua tặng cho cô một chiếc giá gấp đôi.

Một lần, gánh Huỳnh Kỳ xuống hát ở Bạc Liêu cùng cô Bảy Phùng Há. Hắc công tử được mời đi xem. Đang xem hát, Bạch công tử rút thuốc ra hút làm rớt tờ giấy bạc Con Công (5$), và cúi xuống tìm. Hắc công tử bèn đốt tờ giấy “Bộ Lư” (100$) soi sáng cho Bạch công tử.

Bị chơi một vố khá đau về mặt mũi, Bạch công tử thách thức, mỗi người mua một kí lô đậu xanh nấu chè. Dùng tiền giấy thay củi để đốt, nồi chè nào sôi trước thì người đó thắng.

Tối hôm đó, Hắc công tử cho trải thảm đỏ từ ngoài cổng vào tận thềm nhà, cứ mỗi một thước thì có gia nhân cầm đuốc soi đường chào đón phái đoàn của Bạch công tử.

Nhiều người chứng kiến cuộc thi, vì thấy số tiền giấy bị đốt khá nhiều, ai nấy đều toát mồ hôi. Cuối cùng thì Bạch công tử thắng.”

Ba Huy, Hắc công tử, mất ngày16/1/1973. Sau 30/4/1975, tất cả tài sản, nhà cửa của Công tử Bạc Liêu bị tịch thu. Hiện nay, dinh thự vẫn còn giữ nguyên kiến trúc và nhà của Ba Huy được dùng làm nhà hàng khách sạn mang tên “Công tử Bạc Liêu” là thương hiệu kinh doanh du lịch của tỉnh ủy Bạc Liêu.

5/. Biệt thự

Biệt thự xây cất năm 1909 do kỷ sư Pháp thiết kế. Toàn bộ vật liệu xây dựng như thép đúc, cửa, đá cẩm thạch lót nền, gạch, khung sắt trang trí đều nhập từ Pháp qua. Các bù lon, đinh ốc vít đều có khắc chữ P chứng tỏ rằng sản xuất từ Paris. Nội thất được trưng bày bằng đồ gổ, sứ, đồng rất quý giá.

Khách sạn có 6 phòng, 5 phòng thường và một phòng đặc biệt mang tên “Phòng Công Tử”, giá tiền gấp đôi và phải đặt trước cả tháng mới hy vọng có phòng. Đa số là du khách ngoại quốc.

6/. Cậu ấm chạy xe ôm kiếm ăn từng bữa

Người con của Ba Huy là ông Trần Trinh Đức, 61 tuổi, cho biết gia đình ông gặp nhiều khó khăn, nợ nần chồng chất do đứa con gái sa vào cờ bạc. Bán hết tài sản nhỏ mọn không đủ trả nợ, phải chạy trốn nợ sang Campuchia làm nghề mua bán giày dép cũ. Sống không nổi phải trồi về Việt Nam chạy xe ôm kiếm ăn từng bữa.

Nhân dịp về Bạc Liêu tổ chức giỗ thứ 36 của cha, ông Trần Trinh Đức được một nhà mạnh thường quân là ông Nguyễn Chí Luận, chủ tịch Hội đồng Quản trị, Giám đốc công ty cổ phần địa ốc Bạc Liêu tặng cho một lô “đất vàng” 200 m2 ở khu du lịch Hồ Nam, Bạc Liêu. Đồng thời vận động các nhà mạnh thường quân khác góp tiền mua một căn nhà 3 gian trị giá 300 triệu đồng cho gia đình ông Đức làm nơi thờ phượng đồng thời kết hợp với kinh doanh du lịch để cho khách đến tham quan. Ông Đức cũng được trả 5 triệu đồng/tháng về công tác quản lý nhà thờ Công Tử Bạc Liêu.

7/. Mối tình giữa Bạch công tử và Phùng Há

– Phùng Há : Phùng Há tên thật là Trương Phụng Hảo (30/4/1911 – 5/7/2009), người làng Điều Hoà, quân Châu Thành tỉnh Mỷ Tho. Thân phụ là người Hoa tên là Trương Nhân Trưởng, gốc ở Sơn Đông, Trung Quốc. Thân mẫu là Lê Thị Mai, người Mỹ Tho.
Phùng Há là phát âm theo tiếng Quảng Đông của Phụng Hảo

Thân phụ qua đời năm bà 9 tuổi. Gia đình lâm vào cảnh nghèo khó. Năm 13 tuổi bà phải đi làm công trong một lò gạch để kiếm tiền.

Giọng ca thiên phú của bà được ông bầu Hai Cu để ý nâng đở, mời bà vào gánh Tái Đồng Ban, đóng cặp với Năm Châu. Năm Châu và nhạc sĩ Tư Chơi (Huỳnh Thủ Trung) là 2 người thầy đầu tiên của bà và cũng là 2 người đàn ông có mặt trong cuộc đời tình cảm của bà. Năm 1926, bà kết hôn với nghệ sĩ Tư Chơi. Năm Châu thua buồn, rời gánh hát ra đi. Năm 1929, bà li dị.

Sau đó, bà kết hôn với Bạch công tử Phước George. Ông lập gánh hát Huỳnh Kỳ cho bà làm bầu gánh năm 18 tuổi. Gánh Huỳnh Kỳ rất nổi tiếng trong thời đó.

Bà có 2 con với Phước G, cả hai đều chết sớm.

Do khủng hoảng kinh tế thế giới năm 1933 và do Bạch công tử vung tiền qua cửa sổ cho nên gánh Huỳnh Kỳ bị sập tiệm.

– Cuộc đời thê thảm của Bạch Công tử : Do ăn chơi phung phí, cờ bạc, phụ nữ, hút xách cho nên bị tán gia bại sản. Con bị bịnh không có tiền chạy thuốc, con chết. Vợ bỏ. Ông lại mang bịnh ghiền á phiện mà không có tiền hút. Ông sống lang thang trong khu vực Vườn Ông Thượng (Vườn Tao Đàn, Saigòn). Nhờ có một địa chủ ở Chợ Gạo (Mỹ Tho) là ông Nguyễn Hoàng Phi đem về nhà nuôi và ông chết một thời gian ngắn sau đó.
Cho đến nay, mồ của ông cũng còn là một nắm đất, không có mộ bia.

Năm bà Phùng Há 99 tuổi, bà có tìm đến mộ và muốn đem hài cốt ông về hoả táng, đem tro vào thờ ở Chùa Nghệ Sĩ Gò Vấp, do bà làm Chủ tịch Hội đồng Quản trị, nhưng bị người giữ mộ là con của ông Nguyễn Hoàng Phi từ chối.

KẾT LUẬN

Những công tử con nhà giàu ăn chơi hoang phí, thì tiền bạc cao như núi cũng hết sạch. Không có một quan niệm đúng đắn và lý tưởng của cuộc đời đối với bản thân, gia đình và xã hội thì khi gặp nạn, tất cả đều sụp đổ. Con cái không có một cái nghề nuôi thân.
Về tài sản, nhà cửa của Công Tử Bạc Liêu thì sau 30/4/1975, nhà nước có quyền tịch thu hết cũng không có gì đáng nói, xin miễn bàn. Nhưng việc lợi dụng và sử dụng tên tuổi của “kẻ xấu” để kinh doanh hốt bạc thì thật là không ổn.

Khách sạn “Công Tử Bạc Liêu” và “Phòng công tử” là thương hiệu kinh doanh du lịch cần phải được sử dụng hợp pháp thì mới chính đáng và trung thực. (theo Trúc Giang)

NGƯỜI VIẾT THƯ THUÊ

Ở BƯU ĐIỆN SÀI GÒN

Thấy bài viết đáng được ghi nhớ nên chuyển đến các thân hữu bạn bè đọc câu chuyện của 1 nhân viên công chức bưu điện Saigon của chế độ cũ còn ở lại tiếp tục giúp đồng bào trong nước dịch những bức thơ tình cảm giao liên giữa gia đình tại VN ra nước ngoài và ngược lại. Rất đáng được biết đến và suy ngẫm tình con người với nhau.

Người viết thư thuê

“… phải viết tay mới rèn giũa được nhân cách, giữ được lòng người. Tôi sợ sau này sẽ chẳng còn ai nhớ đến thư tay nữa. Tôi chỉ mong là người giữ lại hồn cho những lá thư, chứ mọi danh hiệu đều vô nghĩa…”, ông Dương Văn Ngộ, người viết thư thuê lâu năm nhất Việt Nam tâm sự.

Những cánh thư xuyên thế kỷ

Tôi đã cố ý đến Bưu điện trung tâm Sài Gòn từ sớm để chờ cảnh ông đến. Nhưng ngay khi bước vào sảnh chính của tòa nhà, tôi đã nhận ra dáng ông cụ Dương Văn Ngộ, người viết thư thuê cuối cùng ở Sài Gòn, ngồi đó. Ông cụ nhỏ con, đầu bạc trắng, áo sơ mi trắng ngắn tay và cặp kính rất dày. Một tay ông cầm chiếc kính lúp tra từ điển, tay còn lại đang chậm rãi viết lên giấy.

Tôi im lặng dõi theo, ông đang dịch một đoạn thư của một người mẹ sang tiếng Pháp cho gia đình con trai đang sinh sống ở ngoại quốc, để cô con dâu người Pháp cũng hiểu được lá thư. Ông còn đọc lại cho bà mẹ nghe xem đã đúng nội dung chưa, có cần sửa gì không. Bà mẹ gửi ông 50.000 đồng tiền công nhưng ông chỉ lấy 10.000 đồng. “Việc này đơn giản, tôi chỉ lấy vậy thôi ! Tiền còn lại bà để làm được nhiều việc khác”, ông giải thích.

Ông chưa kịp nghỉ tay, một người phụ nữ khác đến nhờ viết giúp địa chỉ lên phong thư gửi con ở Úc. Thấy thiếu địa chỉ, ông giải thích cặn kẽ và yêu cầu gọi cho người thân bổ sung địa chỉ, để tránh thất lạc. Ông còn hướng dẫn cách ghi số điện thoại lên bì thư, một số thủ tục đăng ký kết hôn với người nước ngoài.

Phải đợi ông tiếp xong hai vị khách, tôi mới dám đến gần trò chuyện. Ông tuy đã ngoài 80 nhưng vẫn còn nhanh nhẹn, hoạt bát. “Ở nhà không làm gì, buồn tay buồn chân lắm, lên đây làm việc, gặp mọi người tôi mới vui. Chắc là cái nghiệp nó bám với mình rồi”.

Ông Ngộ thường làm việc từ 8h sáng đến 16h chiều mỗi ngày, đạp xe từ nhà ở Thị Nghè lên Bưu điện thành phố cũng mất khoảng 20 phút. Ông bảo : “Việc hôm nào, tôi làm xong hôm đó không nhận và hứa hẹn đén ngày mai, vì đâu biết mai mình có khỏe để tiếp tục được không. Nhiều người ở xa gắn bó với tôi nhiều năm nay, thường phải liên lạc trước xem hôm nay tôi có đi làm không để mà sắp xếp kẻo mất công mất việc”.

Ông còn được một nhà báo nước ngoài gọi là “người nối thế giới bằng những cánh thư”. Hơn nửa thế kỷ qua, ông đã viết hàng vạn lá thư, mỗi bức là một nội dung hỉ nộ ái ố khác nhau. Trong đó là những bức thư tình gửi đến hàng chục nước trên thế giới, chủ yếu là Pháp, Anh, Canada, Mỹ… kết nối tình yêu, nhiều đôi đã thành vợ thành chồng.

Có những bức thư đã giúp mọi người tìm được thân nhân. Ông xúc động kể về trường hợp một người mẹ ở Bình Phước nhờ ông viết thư hỏi thăm khắp nơi mà tìm thấy người con trai làm thợ hồ bên Pháp. Hai mẹ con ngày vẫn thường xuyên đến thăm và cảm ơn ông.

“Tôi sẽ không để ngành Bưu điện mang tiếng”

Ông Ngộ chia sẻ thêm về nguyên tắc làm việc của mình : đúng giờ, đúng lương tâm, đúng trách nhiệm. Ông không bao giờ nhận viết những lá thư có nội dung gây hiềm khích, bêu riếu, kích động nhau. Ông luôn yêu cầu phải ghi đủ họ tên, địa chỉ kể cả người gửi và người nhận, chỗ dán tem đúng quy định.

Ông hóm hỉnh nói : “Kiến thức học được hơn 70 năm trước vẫn nhớ rõ, cộng với hơn 30 năm làm nhân viên bưu điện càng vận dụng khéo léo. Vậy mà có tên của mấy cô quầy dịch vụ ngày nào cũng gặp mà không nhớ nổi. Đó cũng là nguyên tắc trong nghề, phải tuyệt đối giữ bí mật và quên ngay những gì mình vừa viết ra cho khách”.

Bằng thứ giọng đặc và ấm, ông chậm rãi kể về cuộc đời mình. Ông sinh ngày 3/3/1930. Ông từng học trường Petrus Ký, lấy bằng trung học Pháp năm 22 tuổi và gia nhập đội ngũ nhân viên Bưu điện Sài Gòn. Được học và tiếp xúc từ nhỏ nên ông thông thạo cả tiếng Pháp và Anh, được giáo viên nhận xét “có thể nói như người bản xứ”.

Ông tâm sự : “Sau khi về hưu, tôi và mấy anh em có xin lãnh đạo Bưu điện bố trí bàn làm việc để tư vấn, dịch và viết thư thuê cho bất kỳ ai có nhu cầu. Chẳng có gì phải ngại cả. Đến nay, đa số anh em ngày đó đã mất, còn một người đã hơn 90 tuổi không thể tiếp tục công việc. Tôi ráng bám nghề đến chừng nào không làm được nữa”.

Ông còn giải thích nghề này trong tiếng Anh gọi là “public writer”, nghĩa là “người viết thư cho công chúng”. Ông bảo từ này dịch sát nghĩa nhất, bởi vì phí dịch vụ là tùy lòng hảo tâm của mỗi người. “Tôi làm trước hết để phục vụ công chúng, không để ngành Bưu điện mang tiếng. Thứ hai nữa là để bạn bè quốc tế có cái nhìn thiện cảm với Việt Nam”.

Vì vậy, dù có mệt trong người nhưng ông vẫn luôn mỉm cười trò chuyện, chụp hình cùng khách nước ngoài. Đa số khách tham quan Bưu điện Trung tâm Sài Gòn bởi ta vẫn giữ được nét văn hóa riêng này.

Những kỷ vật vô giá

Ông Ngộ bảo rằng mình lên báo đã nhiều; nhưng khi viết về cuộc đời ông, nhiều tờ báo nhằm thu hút độc giả cải biên, nói quá lên. Ông không kiện tụng gì mà chỉ lấy bút mực khoanh tròn những chỗ viết sai. Như để minh chứng cho điều đó, ông lấy một xấp giấy cũ photo hàng chục bài báo viết về ông, có cả báo Đức, báo Mỹ, báo Nhật…

Ánh mắt ông ánh lên niềm tự hào, mỗi trang là một câu chuyện khác nhau “Bài này của cô Thanh Trúc, phóng viên người Việt của một tờ báo tại Mỹ. Cô ấy phỏng vấn tôi qua điện thoại rất lịch thiệp và không làm phiền nhiều. Nhờ vậy mà tôi được nhiều người biết đến”.

“Tôi nhớ nhất là ông Trần Hải, gốc Hải Phòng, là Việt Kiều bên Mỹ. Ông ấy mến tôi lắm, thấy báo ở Âu châu đăng bài về tôi, ông ấy liền cắt và gửi về Việt Nam kèm theo phong thư nữa” – Ông kể tiếp.

Trên bàn làm việc của ông còn có rất nhiều thứ khác như : Giấy chứng nhận Người viết thư thuê lâu năm nhất Việt Nam của Trung tâm sách Kỷ lục Việt Nam, những bức thư, hình ảnh, bưu thiếp… cảm ơn từ nước ngoài gửi về. Ông coi chúng như vật báu, phân loại và giữ gìn cẩn thận. Đó là niềm vui lớn nhất, giúp ông gắn bó công việc đến tận bây giờ.

Hơn nửa thế kỷ qua, ông vẫn cần mẫn với công việc của mình. Được biết thêm, gia đình ông rất khó khăn, có một người con gái mắc bệnh tâm thần, bản thân ông cũng bị cao huyết áp. Ngoài ra, ông không nhận được thêm khoản lương hay trợ cấp nào.

Trước khi chào tạm biệt, ông cười hiền và nói : “Đám trẻ giờ chẳng quan tâm đến viết thư nữa, chúng có máy tính thư điện tử, điện thoại 3G. Mấy cái đó “vô tính” lắm, phải viết tay mới rèn giũa được nhân cách, giữ được lòng người. Tôi sợ sau này sẽ chẳng còn ai nhớ đến thư tay nữa. Tôi chỉ mong là người giữ lại hồn cho những lá thư, chứ mọi danh hiệu đều vô nghĩa cả…”.

Yên Huỳnh post

Thế là hai vợ chồng cãi nhau !

– Vợ tôi hỏi: Trên TV có gì lạ không anh ?

Tôi trả lời: Có rất nhiều bụi bậm, chắc tại em quên lau.

Thế là hai vợ chồng cãi nhau.

– Cuối tuần, vợ tôi muốn đi đến một nơi thật đắt tiền.

Tôi chở bả tới cây xăng (gas station) gần nhà.

Thế là hai vợ chồng cãi nhau.

– Ngày mai sinh nhật bà xã tôi, tôi hỏi bả muốn gì ?

Bả nói bả muốn một cái gì láng cóng, đi từ 0 tới 200 trong vòng 3 giây. Tôi mua cho bả cái cân nhỏ để trong phòng tắm.

Thế là hai vợ chồng cãi nhau.

– Vợ tôi khỏa thân đứng trước tấm gương ngắm nghía 5 phút rồi bảo tôi :

Em thấy hình như em ốm đi và giảm cân một chút phải không anh ?

Tôi nói : Chắc em cần phải đi bác sĩ mắt khám lại.

Thế là hai vợ chồng cãi nhau.

– Vợ tôi khỏa thân đứng trước gương ngắm nghía 5 phút rồi bảo tôi :

Sau hai mươi năm lấy nhau, em thấy mình già hơn, mập hơn và xấu hơn trước nhiều phải không anh ? Em buồn quá, ơ anh nói gì đi chứ.

Tôi nói : Tuy vậy mắt em vẫn còn tốt như hai mươi năm về trước, 20/20.

Thế là hai vợ chồng cãi nhau.

– Kỷ niệm hai mươi năm cưới nhau, tôi hỏi bả muốn đi đâu.

Bả nói : Em muốn đi đến một chổ mà từ lâu em đã không đặt chân đến

Tôi nói : Ủa Em muốn vào trong bếp hả ?

Thế là hai vợ chồng cãi nhau.

– Vợ tôi hỏi : Anh ơi cái quần xanh này có làm mông em to hơn không anh ?

Tôi nói : Ừa, nhưng mà không to bằng cái quần trắng hôm qua.

Thế là hai vợ chồng cãi nhau.

– Giáng Sinh năm vừa rồi, tôi có tặng cho bà già vợ tôi một mảnh đất thiệt to trong một nghĩa trang thành phố rất đẹp để mai này bả có…  đi thì có chỗ đẹp.

Giáng Sinh năm nay, vợ tôi muốn biết tôi sẽ mua quà gì cho má của bả.

Tôi nói : Mua quà làm gì, quà năm rồi bả chưa xài tới mà mua quà mới chi cho tốn tiền.

Thế là hai vợ chồng cãi nhau.

– Tôi muốn mua một thùng Heineken giá $29.90, bà xã tôi không chịu vì mắc quá. Nhưng khi tôi thấy bả mua một lọ kem dưỡng da mặt cho đẹp giá $7.50.

Tôi nói : Em biết không sau khi hết thùng Heineken anh thấy em đẹp hơn nhiều…

Thế là hai vợ chồng cãi nhau.

– Khi đi ngang qua tiệm Walmart, tôi mua 4 cái vỏ bánh xe hơi, Vợ tôi cằn nhằn :

Anh mua vỏ bánh xe làm gì, anh đâu có xe đâu.

Tôi nói : Chứ hồi nãy em mua 4 cái “sú-chiêng” anh có cằn nhằn gì em đâu.

Thế là hai vợ chồng cãi nhau.

– Tôi nói : Sau ngày cưới em, anh thành Triệu phú.

Vợ tôi : Em hãnh diện quá. Có phải nhờ em anh thành công không ?

Tôi nói : Trước khi cưới em anh là Tỷ phú.

Thế là hai vợ chồng cãi nhau.

– Tôi với vợ tôi vào phòng khám bệnh Nha Khoa

– Bác sĩ nhổ răng tốn bao nhiêu tiến vậy?

– $100.00

– Ối ! Đắt quá bớt được không ?

– Nếu không dùng thuốc tê $80.00.

– $60.00 vẫn đắt.

– Nếu nhổ bằng cái kìm bình thường để nhổ đinh thì $40.00.

– Vẫn còn đắt.

– OK ! $20.00, nhưng học trò tôi sẽ nhổ chứ không phải tôi.

– Được… Được. Em em mau mau ngồi xuống trước khi Bác sĩ đổi ý.

Lần này hai vợ chồng uýnh nhau chứ không cãi nhau.

Yên Nhàn post (theo NDLe  – TVG St)

Advertisements

Bản tin số 244 – Ngày 31/8/12

HÌNH ẢNH

THÀNH PHỐ

NEW YORK

(1876-2013)

Chào các bạn, 

Các bức ảnh kèm theo khiến tui có vài ba phút nhớ lại hình ảnh, kỷ niệm của chuyến đi thăm thành phố New York hồi tháng 10/2010. Tui cũng chợt cười vui khi nhớ lại nội dung mail của bạn Đệ mới đây, giải thích với bà xã về mối quan hệ bạn bè đồng môn với lời kết bỏ lửng !

Lược dịch lời chú thích kèm theo ảnh như sau (để anh chàng Việt nếu có post lên trang web hổng bị khiếu nại là sính tiếng tây, tiếng u) :

Kết cấu ảnh chụp tuyệt vời này làm nổi bật những đổi thay của thành phố New York với những tòa nhà chọc trời trong 137 năm qua, thành phố Manhattan thường được ca ngợi là có một tòa nhà chọc trời cao nhất trên thế giới (các ứng cử viên khác bao gồm Hồng Kông, Chicago và Singapore) và thật là thú vị khi nhìn lại thành phố này vào những năm 1800. Từ những ngày đầu nhập cư của cư dân thành phố, trải qua kỷ nguyên của cuộc Đại suy thoái, sau đó tòa tháp đôi Trung tâm Thương mại Thế giới cũ (nơi tọa lạc đài tưởng niệm 9/11 hiện nay) và kết thúc vào năm 2013 là một Trung tâm Thương mại Thế giới mới tham gia vào hình ảnh thành phố, lấy lại ngai vàng là thành phố New York và tòa nhà chọc trời cao nhất nước Mỹ.

Thân Bình post

Xem toàn bộ, Click vào đường dẫn :

http://urbanpeek.com/2012/08/16/nyc-skyline-over-the-years-1876-2013/

– Cám ơn Bình. Tôi chưa từng thấy hình Manhattan thời 1876, 1932 như hình này.

Vũ Quang Việt

Các bạn,

Tôi có rất nhiều kỷ niệm với thành phố New York. Một phần công việc của tôi là kiểm tra và đánh giá một số công trình xây cất của thành phố, vì thế đã có dịp đi rất nhiều chỗ để quan sát về cầu cống, đường xá, công viên, buildings.  Mai mốt xa hẳn sẽ nhớ mãi những ngày tháng ở đây, một quãng đời của mình.

Vũ Ngọc Côn

Tôi bị trễ hẹn với Vũ Ngọc Côn vì mấy tấm hình này!

De Nguyen

H1: New York city, cho tòa tháp đôi (chỗ tòa nhà màu xanh và công viên nho nhỏ). H2: New York city, chật chội và đông đúc nhìn từ trên Empire State building.

VIỆT NAM NĂM 1915

Xem New York rồi mời xem lại nước ta vào năm 1915. Mời bấm vào đường dẫn :  

Viet Nam 1915-Giang

Phú Lê

CẮT SỬA NHÀ CỬA

Các bạn thân,

Mấy tháng qua xóm tôi có một số nhà bỏ tiền vô công tác cắt sửa. Không có cất nhà mới nhưng thêm phòng. Hiện tương nầy rất phổ thông trong hoàn cảnh kinh tế hiện tại. Mục đích chánh của việc thêm phòng là giúp con cái (1) khỏi mướn apartments và (2) khi lập gia đình. Thiếu tiền là nguyên nhân chánh tại sao một số lớn trai gái kẹt hôn nhân.

Đặng Lắm

NHỮNG TƯỢNG PHẬT

CAO NHẤT THẾ GIỚI

1/. Ngôi đền tượng Phật Mùa Xuân ở Trung Quốc : Hiện nay ngôi đền tượng phật Mùa Xuân đang nắm giữ vị trí bức tượng cao nhất thế giới nhưng trong tương lai, vị trí này có thể sẽ nhường lại cho bức tượng Phật Di Lặc bằng đồng cao 152 m vốn đang được lên kế hoạch xây dựng tại miền bắc Ấn Độ.

Ngôi đền tượng phật Mùa Xuân được xây dựng tại vùng núi Jiuhua ở miền trung Trung Quốc là ngôi đền thờ phụng đức Phật Tỳ Lô Giá Na.Đức Phật đứng trên chiếc bệ hình hoa sen cao 25m. Tòa sen lại ngự trên một ngôi đền thờ phụng được xây dựng trên đỉnh đồi. Người ta tình được tổng chiều cao của tượng Đức Phật là 208m.

2/. Tượng Phật Laykyun Setkyar ở Myanmar : Đứng vị trí thứ 2 của bảng xếp hạng là bức tượng Laykyun Setkyar cao 116 m, thuộc thôn Khatakan Taung, gần Monywa, Myanmar. Bức hình trên được chụp vào năm 2006, tức là 10 năm sau khi bắt đầu xây dựng, bức tượng chỉ vừa mới hoàn thành phần khung thép đồ sộ của mình.

Hiện nay, bức tượng Phật khổng lồ này là một trong những điểm du lịch hấp dẫn nhất Myanmar.

3/. Tượng Phật Ushiku Daibutsu ở Nhật Bản : Các Ushiku Daibutsu Nhật Bản, còn được gọi là Đức Phật Tổ Ushiku, nằm ở Ibaraki, phía bắc Tokyo, bức tượng này miêu tả Đức Phật Tổ A Di Đà.

Bức tượng khổng lồ cao 110m, nặng 4.000 tấn, chỉ cần chú ý đến số liệu của nó là người ta đã có thể tưởng tượng được nó to lớn đến mức nào. Chỉ riêng chiều dài gương mặt là 20m cũng đã bằng phân nửa tượng Nữ Thần Tự Do của Mỹ. Bên trong bức tượng này là một khu bảo tàng rộng lớn và có cả một hệ thống thang máy lên đến độ cao 85m cho du khách sử dụng.

4/. Tượng Phật Nanshan Haishang Guanyin ở Trung Quốc : Tượng Phật Guanyin là bức tượng cao 108m, đứng vị trí thứ 4 trên thế giới nhưng lạ xếp thứ hai tại Trung Quốc. Bức tượng này được xây dựng ở Hải Nam, một hòn đảo nhiệt đới của Trung Quốc và là một khu nghỉ mát ven biển nổi tiếng. Đây là bức tượng cửa Quan Thế Âm Bồ Tát, vị nữ thần của lòng nhân ái.

Để hoàn tất bức tượng này, người ta đã mất 6 năm ròng rã và lễ khánh thành cuối cùng cũng diễn ra vào tháng 4 năm 2005. 108 nhà sư từ Đại lục, Hongkong, Đài Loan, Macao đã đến tham dự buổi lễ cùng với hàng ngàn du khách hành hương từ phương xa đến đây.

THÔNG TIN TUYỆT MẬT

CỦA NASA VỀ

NGÀY TẬN THẾ ?

Một bản tin nói về “thông tin tuyệt mật chưa được công bố của NASA” liên quan đến “ngày tận thế 21/12/2012” đăng trên các website tổng hợp tin tức đang khiến cộng đồng mạng xôn xao, thậm chí hoang mang.

Bản tin trích dẫn gián tiếp các giải thích của nhà khoa học Don Yeomans về “thời điểm cả tiểu hành tinh Nirubu, mặt trời và trái đất cùng nằm trên một đường thẳng sẽ trùng hợp với nhiều vụ nổ lớn xảy ra trên bề mặt của mặt trời”, và các vụ nổ này “tác động trực tiếp” vào cả trái đất, làm “trái đất bị xoay nghiêng một góc 180o, nghĩa là thế giới sẽ hoàn toàn bị đảo ngược”, và “khi đó trên bề mặt trái đất sẽ có sự chuyển biến dữ dội bởi các lục địa bắt đầu di chuyển lại gần nhau hơn và việc va chạm giữa chúng có thể khiến sự sống trên trái đất hoàn toàn biến mất”. Và thời điểm xảy ra vụ nổ cũng như các tác động khủng khiếp dẫn đến tận thế được nêu trong bản tin này là 21/12/2012.

Bản tin này khiến người đọc tin tưởng vì đó là những thông tin gắn với tên tuổi của một nhà khoa học của NASA : Don Yeomans, và các giải thích về sự đảo ngược của trái đất dẫn đến sự di chuyển của các lục địa có vẻ khoa học và đáng tin. Tuy nhiên, khi xem đoạn video dài ba phút đăng kèm ngay bên dưới bản tin này, có thể nhận thấy ngay rằng những gì được dẫn ra phía trên chỉ là những giả thuyết không thể xảy ra. Thực chất ngay trong đoạn video, ông Don Yeomans giải thích rằng sự thẳng hàng của trái đất, mặt trời, và một hành tinh nào đó là điều vẫn thường thấy, rằng bão mặt trời vẫn thường xuất hiện ngay cả khi các hành tinh thẳng hàng hay không thẳng hàng v.v. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất được ông Yeomans nói bằng một câu tiếng Anh dễ hiểu nằm ở những giây cuối đoạn video ba phút này là : “Không có bằng chứng nào rằng nó (sự đảo cực của trái đất) sẽ xảy ra vào tháng 12 này”. Ông Yeomans cũng dẫn lại một câu nói của nhà thiên văn học Mỹ Carl Sagan : “Các tuyên bố khác thường bắt buộc phải có các chứng cứ khác thường”.

Bị lừa tập hai

Xuất hiện trên một website tổng hợp tin tức trong những ngày qua, bản tin có tựa đề “NASA dự báo thế giới diệt vong vào ngày 21/12/2012” đã gây xôn xao trên mạng ở Việt Nam. Tuy nhiên, kết nối (link) đính kèm theo tên nguồn ghi ngay dưới bản tin này thay tên tác giả đã cho thấy đây là bản dẫn lại nguyên văn một bản tin khác được đăng trên một website tổng hợp tin tức từ giữa tháng 3./2012. Và từ năm tháng trước, khi bản tin về ngày tận thế 21/12/2012 lan truyền, những tờ báo uy tín ở Việt Nam đã có nhiều bài viết nói về tính xác thực của thông tin này. Thế nhưng, tái xuất hiện trên mạng sau gần nửa năm, bản tin này vẫn đánh lừa được dư luận lần thứ hai. (theo Mai Hương)

QUYÊN TIỀN ĐỂ ĐƯỢC…

SỜ NGỰC

Để có cơ hội được sờ ngực các cô gái trẻ đẹp, những người tham gia sẽ phải góp tiền cho một tổ chức nâng cao hiểu biết về căn bệnh AIDS. Buổi quyên tiền từ thiện này được tổ chức vào hai ngày 25 và 26/8 vừa qua tại thủ đô Tokyo (Nhật Bản), là một phần trong sự kiện “Erotica will Save the World” (Khiêu dâm sẽ cứu cả thế giới).

Tại sự kiện này, nhiều hoạt động được diễn ra, trong đó “Quyên tiền được sờ ngực” là thu hút nhiều sự chú ý nhất. Để có cơ hội chạm cả hai tay lên bầu ngực nảy nở của một trong 10 cô gái trẻ đẹp tại đây, người tham gia bắt buộc phải quyên góp một khoản tiền.

Các bước tham gia lần lượt bao gồm xếp hàng xuất trình giấy chứng minh thư để xác nhận đã đủ 18 tuổi, quyên tiền, rửa sạch tay và cuối cùng là sờ ngực. Các nhà tổ chức cũng không giới hạn số lần sờ ngực đối với những người có mong muốn được “tận hưởng” thêm, nếu họ không ngại thực hiện lại toàn bộ quy trình này.

Rocketnews 24 đưa tin toàn bộ số tiền quyên được sẽ được gửi tới tổ chức STOP ! AIDS nhằm nâng cao hiểu biết, cách điều trị cũng như cách phòng ngừa bệnh AIDS.

Ở Nhật Bản, việc để ngực trần cho mọi người chạm hiện rất phổ biến. Nhiều quán rượu còn cung cấp dịch vụ vừa uống bia vừa sờ ngực của phục vụ bàn sau một ngày làm việc vất vả. (theo Hướng Dương)

Lan caysu post

NÓI TIẾP CHUYỆN

LUYỆN BÙA NUÔI NGẢI

Cây ngải tổhay còn gọi là ngải ấn, ngải quấn. Bề ngoài nhìn như cây lá Láng nhưng điều đặc biệt là khi ra lá thì lá sau quấn vào lá trước như bắt ấn. Ngải này có tác dụng trị tà điên, vong nhập, chiêu tài, nạp bảo, loại trừ thị phi khẩu thiệt. Đặc biệt khi bị bùa ngải, hoặc yểm đối, sử dụng ngải này công năng cấp kỳ.

Cây ngải tím. là loại ngải cầu tài hàng đầu. Tương truyền, Ngải tím mà trồng tại vùng có vàng thì sẽ thâu vàng vào trong củ ngải. Khi có hoa thì chủ nhơn sẽ ngắt 1 bông hoa nhỏ xíu sên vô chai dầu thơm. Hàng ngày khi bán hàng thì xức nước thơm này lên tóc, cửa hàng sẽ đông như chợ tết

Luyện bùa thâu ngải.

Ngải sẽ vô tác dụng nều không có bùa luyện. Bùa này chuyên đề luyện ngải. hãy tập vẽ và luyện trong 7 đêm, thời lượng mỗi đêm là 1 cây nhang.

Loại ngải này thường cần rất là nhiều nước, nên khi chúng ta chăm sóc ngải thì phải tưới nhiều một chút. Có bỏng gạo thì mỗi ngày cho nó ăn một chút. Cứ Mùng 1 và ngày rằm thì nên cho ngải ăn thêm 1 trái trứng gà ta cho mỗi chậu. Lấy trái trứng gà còn tươi, gõ nhẹ 2 đầu cho bể ra một chút xíu, lấy chân nhang chọc ra một lỗ nhỏ, bới đất và chôn đầu nhọn của trái trứng xuống. lần sau thì phải lấy cái vỏ trước ra. Nên nhẹ nhàng và cư xử tốt với ngải, không nên đòi hỏi ngải thực hiện quá nhiều việc.

Ngải là một loại cây có linh tính cho nên sự Huyền diệu của ngải không cần phải bàn cãi. Ngải có mấy trăm loại và các câu chú luyện ngải thì vô số kể. Người lào thái miên dân tộc mường tè … mỗi nơi có một kiểu ác chiến riêng.

P/S: Luyện ngải không đơn giản nhưng cũng cực kỳ đơn giản.

Không đơn giản ở chỗ thứ nhất, Ngải có được không phải là từ 1 thầy chuyên luyện ngải, hoặc có cơ duyên gặp ngải tự nhiên – nhưng không biết cách lấy. Khi biết được là nơi có ngải, không được lấy ngay mà phải về chuẩn bị đồ để lấy ngải :

1 – chuần bị 1 cây tre đực vót như chiếc đũa cả và mài vát làm dụng cụ đào. 2 – Chỉ đỏ.

3 – hai khúc củi xoan đào (hoặc quỷ kiến sầu). 4 – bùa thâu ngải. 5 – chu sa. 6 – móng tay và tóc của người cần lấy ngải. 7 – Đồ đựng ngải (giỏ tre). 8 – Nước rửa

Chọn ngày có trực khai hoặc ngày Ngũ quỷ, chọn phương có tài thần mà đến. Thắp nhang khấn cầu và đọc bài kinh thâu ngải – tùy vào mỗi loại ngải mà có bài kinh và chú khác nhau. không được nói chuyện hoặc đùa giỡn trong thời gian lấy ngải. đào đất xung quang cây ngải. lấy 2 khúc củi xoan đào cắm 2 bên cây ngải. Đọc câu thần chú thâu ngải và lấy chỉ đỏ cột giữ ngải cố định. Đào thông xuống dưới đáy rễ ngải, lấy củ ngải, rửa sạch và nhai nuốt ngay tại chỗ. Cho ngải vào giỏ tre, cho bùa và chu sa xuống hố ngải đã lấy, xong thì lấy chu sa rắc thành hình Cửu long phù (bùa tứ tung ngũ hoành) lên khu đất lấp. mang ngải về bằng đường khác và tuyệt đối không được quay mặt lại nhìn. thứ 2 là khi mang ngải về không biết cách chăm sóc ngay từ ban đầu. Có thể thực hiện những bước như sau.

Gỡ hết đất trong gốc ngải ra, kiếm tra xem còn sót củ ngải nào không, nếu còn thì gỡ hết củ ra, tỉa lá ngải cho gọn lại, cho bùa vào chậu sành, trồng ngải vào chậu và tụng kinh cho ngải, sau khi tụng kinh thì có thể đặt tên cho nó. Từ nay không được gọi là Ngải mà phải gọi theo tên mình đã đặt. tuyệt kỵ, khi chưa được 49 ngày thì không được bắt ngải thực hiện bất cứ việc gì, hãy chăm sóc bình thường bằng cáh cho nước và thắp nhang đều đặn. Thứ 3, khi trồng ngải thì ngải sẽ theo tính nết của ngừoi trồng nó, nghĩa là nếu gặp chủ độc ác thì cây này sẽ cực kỳ độc ác, nó có thể thanh toán cả chủ nó, gặp chủ ngải có lòng nhân từ và thiện ý thì nó sẽ là 1 cây ngải quý, giúp ích cho đời rất nhiều. lưu ý; Ngải vốn có tính linh, không được thóa mạ chửi bới ngải, nếu có hiện tượng đó thì chủ nhà sẽ gặp những chuyện xui xẻo, thậm chí là mất mạng.

Còn tại sao là cực kỳ đơn giản – nếu ta chỉ trồng những cụm ngải khách và cầu tài, chăm sóc thường xuyên theo hướng dẫn, coi ngải như 1 thành viên trong gia đình thì rất nhiều điều may mắn ngải sẽ mang về cho thân chủ….

Hoàng Nguyễn post

BA MÓN NGON

ĐẦU MÙA CHAY

Đầu bếp chúng tôi khi bước vào mùa Vu Lan Thắng  Hội, xin giới thiệu đến các bạn ba món chay dễ làm, nhiều sắc màu khởi đầu cho mùa ăn chay tháng 7.

Rau cuộn

Nguyên liệu: 4 phần ăn : 10 bẹ lớn bắp cải tròn Hà Nội, 10 bẹ lớn bắp cải tím, 200g bắp non, 200g su su, 200g càrốt, 2 miếng đậu hũ chiên vàng, 100g bông hẹ, 1/2 chén chao, 1 muỗng canh bơ đậu phộng.

Cách làm : Bắp cải trụng nước sôi, bỏ phần cọng cứng. Bắp non, su su, càrốt luộc chín, cắt khúc dài khoảng 5cm, ngang cm. Đậu hũ cắt như rau củ. Trải lá cải ra, cho rau củ, đậu hũ lên cuộn lại, cột bằng bông hẹ luộc. Chao dằm nát, nêm vừa ăn, cho bơ đậu phộng vào trộn đều, chấm với rau cuộn.

Đậu hũ non xốt nấm rơm

Nguyên liệu: 4 phần ăn : 2 cây đậu hũ non, 200g nấm rơm, 300g cải thìa, dầu mè, nước tương, hạt nêm, bột năng.

Cách làm : Cải thìa trụng qua nước sôi, vớt ra ngâm nước lạnh trong 10 phút rồi để ráo nước. Nấm rơm xào với ít dầu ăn và tỏi, nêm chút nước tương và hạt nêm. Cho đậu hũ non cắt khoanh vào, rưới bột năng pha nước, thêm vài giọt dầu mè rồi cho lên đĩa đã xếp sẵn cải thìa.

Canh ngũ sắc

Nguyên liệu: 4 phần ăn : 1 trái bắp Mỹ, 1 củ càrốt, 1 miếng đậu hũ trắng, 250g bông cải xanh, 250g cải thảo, gia vị, tỏi phi, ngò.

Cách làm : Càrốt tỉa hoa, bắp cắt khúc, cải thảo và bông cải cắt miếng vừa ăn. Nấu 1 lít nước sôi, cho bắp cắt khúc vào nấu khoảng 10 phút để ra chất ngọt, kế tiếp cho càrốt, cải thảo, bông cải xanh vào nấu sôi trong 5 phút. Cuối cùng cho đậu hũ vào, nêm gia vị vừa ăn, trang trí ngò và tỏi phi.

– Xem Cách Tách Lòng Đỏ Trứng rất độc đáo

Xin cứ xem, sẽ chắc chắn làm được, không cần phải hiểu tiếng… lạ !

http://www.tastespotting.com/features/how-to-separate-eggs-video-water-bottle

Mỹ Nhàn post (theo Minh Cúc)

THIỆN & ÁC

RANH GIỚI… MONG MANH

Hai tiểu thiền sư đang đi qua cánh rừng thì nhìn thấy một con sư tử bị thương. Vết thương quá nặng, hai người dù cố gắng ra sao cũng không cách nào chữa khỏi. Con vật thở nặng nhọc, ánh mắt như van xin họ hãy sớm kết liễu nó, để nó khỏi phải chịu nỗi đau thể xác hành hạ thế này. Hai tiểu thiền sư ái ngại nhìn nhau. Sư tử chẳng thể sống thêm được bao lâu, nếu không sớm giúp nó giải thoát, mỗi khoảnh khắc sống sẽ chỉ thêm đau đớn. Nhưng giới luật lại nghiêm cấm sát sinh. Lúc này, giết hay không giết, mới thực là thiện tâm đây ?

Thế nhân bao đời nay vẫn không cách nào đưa ra câu trả lời chính xác.

Lại một câu chuyện khác, trong một bộ phim…

Một tướng quân cả đời chính trực, gương mẫu, quan tâm binh lính và vô cùng nghiêm khắc với bản thân. Chính vì vậy, ông được người người kính trọng. Con trai ông cũng là một thanh niên đầy tài năng và nhiệt huyết, đã cùng ra trận theo đoàn quân. Khi đi tuần, anh đã vô tình cứu và thả một cô gái bị thương, mà không biết đó là gián điệp ngoại bang bị quân ta truy đuổi. Tướng quân quyết xử chàng trai tội chết. Dù phó tướng và binh lính trong quân nhất loạt quỳ xuống cầu xin, ông vẫn không thay đổi quyết định. Thật may, phu nhân tướng quân đã mời một vị hòa thượng mà tướng quân vô cùng kính trọng đến.

– Theo tướng quân, thế nào là chí công vô tư ? – Vị hòa thượng hỏi.

– Là phân biệt rõ trắng đen, bất luận là ai cũng không thiên vị – Tướng quân trả lời rành mạch.

Vị hòa thượng cười :

– Vậy thì ngài không hề chí công vô tư, hơn nữa còn tự tư tự lợi.

Hòa thượng giải thích rằng, tướng quân chỉ vì người mắc lỗi là con trai mình nên mới phạt nặng, đổi lại là một binh lính bình thường, chắc chắn ông sẽ cảm thông. Như vậy làm sao gọi là chí công vô tư ? Lòng ông lo sợ bị người ta nói là thiên vị con trai, nên xử nặng con, như vậy càng là tự tư tự lợi, ôm lấy cái thanh danh của mình.

Cuối cùng, tướng quân đã ngộ ra.

Công tâm và thiên vị, ranh giới cũng thật mong manh…

Cuộc sống luôn có hai mặt của nó. Đứng trước sự việc nào, cũng không nên vội vàng đánh giá. Để sau này ngẫm lại, không phải hối tiếc vì những sai lầm đã gây ra. Người ta có quyền suy nghĩ đơn giản, nhưng không có nghĩa là vô tri không xét đoán. Người ta có thể sống theo cảm tính, nhưng không đồng nghĩa với việc quên đi những giá trị chân, thiện vốn có ở trong lòng.

Đó chính là lý do chúng ta có lý trí, và trái tim… Để nhận ra cái đúng, cái sai giữa hai mặt cuộc sống. (theo Ánh Nguyệt)

Yên Huỳnh post

TRỞ LẠI SÀI GÒN

Mời các thân hữu xem phim Trở lại Sài gòn để thấy lại những hình ảnh thân thương ngày xưa. Bộ tài liệu này dành cho những ai yêu Sài Gòn, cả ngày trước và bây giờ.

Tác giả Frank Ford, một người lính Mỹ đã từng đứng bên kia chiến tuyến, qua serie này đã tái hiện một Sài Gòn cách đây hơn 30 năm rất đầy đủ, rất chân thật. Từ những quán ăn bình dân, những khu nhà ổ chuột, đến những khách sạn quốc tế, những nhà hàng nổi tiếng, những tượng đài kỷ niệm…

Chắc chắn trong đây có những con đường, ngôi nhà mà các bạn đi ngang qua hằng ngày, nay bỗng thấy chúng thật khác lạ… và có những nơi chỉ còn lại trong những bức ảnh và ký ức của người Sài Gòn…

Video chỉ mang tính chất cá nhân của tác giả, không có ý đồ chính trị hay đề cập đến những vấn đề nhạy cảm. Trình độ nghe dịch của tôi cũng chưa cao lắm nên có nhiều chỗ chưa hay, mong các bạn thông cảm và đóng góp để tôi hoàn thiện bộ tài liệu này.

Chân thành cảm ơn bác Frank Ford đã cung cấp tư liệu và giúp đỡ cháu hoàn thành seri này.

1.Trở lại Sài gòn – P1 – Sân bay Tân Sơn Nhất

http://www.youtube.com/popup?v=em-NjDeNJDY

2. Trở lại Sài gòn – P2 – MACV

http://www.youtube.com/popup?v=qt0NJFbRVfA

3. Trở lại Sài gòn – P3 – Cổng phụ căn cứ TSN.

http://www.youtube.com/popup?v=5CDh6bYhzT4

4. Trở lại Sài gòn – P4 – Cổng chính căn cứ TSN

http://www.youtube.com/popup?v=jHNxbjrJ0fs

5. Trở lại Sài gòn – P5 – Đường Cộng Hòa.

http://www.youtube.com/popup?v=gI6nBmTgss8

6. Trở lại Sài gòn – P6 – Trung Tâm Sài gòn 1.

http://www.youtube.com/popup?v=lU5YAyzFAX8

7. Trở lại Sài gòn – P7 – Trung Tâm Sài gòn 2.

http://www.youtube.com/popup?v=UqURk9X269w

8. Trở lại Sài gòn – P8 – Trung Tâm Sài gòn 3.

http://www.youtube.com/popup?v=49zGMDlALaM

THƯ GIÃN VỚI ẢNH VUI

Yên Nhàn (tổng hợp)

VÀO MÙA VU LAN (3)

XUẤT XỨ 2 TIẾNG

VU LAN

Rằm tháng 7 Âm lịch hàng năm là ngày xá tội vong nhân, dân gian gọi một cách nôm na là ngày cúng cô hồn. Nhưng đây cũng còn là ngày báo hiếu mà giới tăng ni Phật tử gọi là ngày Lễ Vu Lan. Vậy lễ Vu lanlễ cúng cô hồn có phải là một hay không ? Và đâu là xuất xứ của hai tiếng “Vu Lan” ?

Lễ Vu Lan bắt nguồn từ sự tích về lòng hiếu thảo của Ông Ma Ha Một Ðặc Già La (Maha Moggalyana), thường gọi là Ðại Mục Kiền Liên, gọi tắt là Mục Liên. Vốn là một tu sĩ khác đạo, về sau Mục Liên đã quy y và trở thành một đệ tử lớn của Phật, đạt được sáu phép thần thông rồi được liệt vào hạng thần thông đệ nhất trong hàng đệ tử của Phật. Sau khi đã chứng quả A La Hán, Mục Liên ngậm ngùi nhớ đến mẫu thân, bèn dùng huệ nhãn nhìn xuống các cõi khổ mà tìm thì thấy mẹ đã đọa vào kiếp ngạ quỷ (quỷ đói) nơi địa ngục A Tì. Thân hình tiều tụy, da bọc xương, bụng ỏng đầu to, cổ như cọng cỏ. Mẹ Mục Liên đói không được ăn, khát không được uống. Quá thương cảm xót xa, Mục Liên vận dụng phép thần thông, tức tốc đến chỗ mẹ. Tay bưng bát cơm dâng mẹ mà nước mắt lưng tròng. Mẹ Mục Liên vì đói khát lâu ngày nên giật vội bát cơm mà ăn. Tay trái bưng bát, tay phải bốc cơm nhưng chưa vào đến miệng thì cơm đã hóa thành lửa. Mục Liên đau đớn vô cùng, khóc than thảm thiết rồi trở về bạch chuyện với Ðức Phật để xin được chỉ dạy cách cứu mẹ.

Đức Phật cho Mục Liên biết vì nghiệp chướng của các kiếp trước mà mẹ ông mới phải sanh vào nơi ác đạo làm loài ngạ quỷ. Một mình Mục Liên thì vô phương cứu được mẹ dù ông có thần thông đến đâu và dù lòng hiếu thảo của ông có thấu đến đất trời, động đến thần thánh. Phải nhờ đến uy đức của chúng Tăng khắp các nẻo đồng tâm hiệp ý cầu xin cứu rỗi cho mới được. Bởi vậy, Phật dạy Mục Liên phải thành kính đi rước chư Tăng khắp mười phương về, đặc biệt là các vị đã chứng được bốn quả thánh hoặc đã đạt được sáu phép thần thông. Nhờ công đức cầu nguyện của các vị này, vong linh mẹ Mục Liên mới thoát khỏi khổ đạo.

 Đức Phật lại dạy Mục Liên sắm đủ các món để dâng cúng các vị ấy, nào là thức thức thời trân, hương dâu đèn nến, giường chõng chiếu gối, chăn màn quần áo, thau rửa mặt, khăn lau tay cùng các món nhật dụng khác. Ðúng vào ngày rằm tháng 7 thì lập trai đàn để cầu nguyện, thiết trai diên để mời chư tăng thọ thực. Trước khi thọ thực, các vị này sẽ tuân theo lời dạy của Ðức Phật mà chú tâm cầu nguyện cho cha mẹ và ông bà bảy đời của thí chủ được siêu thoát.

Mục Liên làm đúng như lời Phật dạy. Quả nhiên vong mẫu của ông được thoát khỏi kiếp ngạ quỷ mà sanh về cảnh giới lành. Cách thức cúng dường để cầu siêu đó gọi là Vu Lan bồn pháp, lễ cúng đó gọi là Vu Lan bồn hội, còn bộ kinh ghi chép sự tích trên đây thì gọi là Vu Lan bồn kinh.

Ngày rằm tháng 7 do đó được gọi là ngày lễ Vu Lan. Vậy lễ này có phải cũng là lễ cúng cô hồn hay không ? Không ! Ðây là hai lễ cúng khác nhau được cử hành trong cùng một ngày.

Sự tích lễ cúng cô hồn đại khái như sau :

Căn cứ theo “Phật Thuyết Cứu Bạt Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Ðà La Ni Kinh” mà suy thì việc cúng cô hồn có liên quan đến câu chuyện giữa ông A Nan Ðà, thường gọi tắt là A Nan, với một con quỷ miệng lửa (diệm khẩu) cũng gọi là quỷ mặt cháy (diệm nhiên). Có một buổi tối, A Nan đang ngồi trong tịnh thất thì thấy một con ngạ quỷ thân thể khô gầy, cổ nhỏ mà dài, miệng nhả ra lửa bước vào. Quỷ cho biết rằng ba ngày sau A Nan sẽ chết và sẽ luân hồi vào cõi ngạ quỷ miệng lửa mặt cháy như nó. A Nan sợ quá, bèn nhờ quỷ bày cho phương cách tránh khỏi khổ đồ. Quỷ đói nói : “Ngày mai ông phải thí cho bọn ngạ quỷ chúng tôi mỗi đứa một hộc thức ăn, lại vì tôi mà cúng dường Tam Bảo thì ông sẽ được tăng thọ mà tôi đây cũng sẽ được sanh về cõi trên”. A Nan đem chuyện bạch với Ðức Phật. Phật bèn đặt cho bài chú gọi là “Cứu Bạt Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Ðà La Ni”, đem tụng trong lễ cúng để được thêm Phước. Phật tử Trung Hoa gọi lễ cúng này là Phóng diệm khẩu, tức là cúng để bố thí và cầu nguyện cho loài quỷ đói miệng lửa, nhưng dân gian thì hiểu rộng ra và trại đi thành cúng cô hồn, tức là cúng thí cho những vong hồn vật vờ không nơi nương tựa vì không có ai là thân nhân trên trần gian cúng bái.

Vì tục cúng cô hồn bắt nguồn từ sự tích này, cho nên ngày nay người ta vẫn còn nói cúng cô hồn là Phóng diệm khẩu.Có khi còn nói tắt thành Diệm khẩu nữa. Diệm khẩu, từ cái nghĩa gốc là (quỷ) miệng lửa, nay lại có nghĩa là cúng cô hồn. Ðiều này góp phần xác nhận nguồn gốc của lễ cúng cô hồn đã trình bày trên đây. Phóng diệm khẩu mà nghĩa gốc là “thả quỷ miệng lửa”, về sau lại được hiểu rộng thêm một lần nữa thành “tha tội cho tất cả những người chết”. Vì vậy, ngày nay mới có câu : “Tháng bảy ngày rằm xá tội vong nhân”.

Vậy lễ Vu Lan và lễ cúng cô hồn là hai lễ cúng khác nhau. Một đằng thì liên quan đến chuyện ông Mục Liên, một đằng lại liên quan đến chuyện ông A Nan. Một đằng là để cầu siêu cho cha mẹ và ông bà bảy đời, một đằng là để bố thí cho những vong hồn không ai thờ cúng.Một đằng là báo hiếu, một đằng là làm phước. Sự khác nhau giữa hai bên là hiển nhiên, nhưng nhiều người vẫn cứ lẫn lộn. Chẳng hạn trước đây, ông Thái văn Kiểm cho rằng lễ Vu Lan và lễ xá tội vong nhân (fête des Trépassés) là một. Còn lễ cúng cô hồn (fête des âmes errantes) và lễ xá tội vong nhân (Pardon des Trépassés) chính là một thì ông lại xem là hai (X. Les fêtes traditionnelles Vietnamiennes, B.S.E.I., t. XXXVI, no1, 1961, pp. 64-65). Mới đây, hai tác giả Thích Minh Châu và Minh Chi cho rằng lễ Vu Lan là để cầu nguyện cho vong hồn những người đã chết không còn phải đọa cảnh khổ nữa (Từ điển Phật học Việt Nam, Hà Nội, 1991, tr. 795, mục Vu Lan bồn). Nhưng đây không phải là “những người đã chết ” nói chung vì như đã biết, đó chỉ là cha mẹ cùng với ông bà bảy đời mà thôi.

Yên Huỳnh post (theo An Chi – Huệ Thiên) 

Kinh Vu-lan và Báo ân cha mẹ  :   http://youtu.be/7OLJ6TxEIQg

– Mời nghe “Ngàn cánh hạc”

Vào mùa vu Lan mời các bạn nghe và đọc về những cánh hạc. Mời Click vào đường sẫn :  1-Birds-1-Cranes

AI LÀ THẦY CỦA NGÀI ?

Khi Hasan, một nhà hiền triết Hồi giáo sắp qua đời, có người hỏi ông : “Thưa Hasan, ai là thầy của ngài ?”

Hasan đáp : “Những người thầy của ta nhiều vô kể. Nếu điểm lại tên tuổi của các vị ấy hẳn sẽ mất hàng tháng, hàng năm, và như thế lại quá trễ vì thời gian của ta còn rất ít. Nhưng ta có thể kể về ba người thầy sau của ta.

Người đầu tiên là một tên trộm. Có một lần ta đi lạc trong sa mạc, khi ta tìm đến được một khu làng thì trời đã rất khuya, mọi nhà đều đi ngủ cả. Nhưng cuối cùng ta cũng tìm thấy một người, ông ta đang khoét vách một căn nhà trong làng. Ta hỏi ông ta xem có thể tá túc ở đâu, ông ta trả lời :

“Khuya khoắt thế này thật khó tìm chỗ nghỉ chân, ông có thể đến ở chỗ tôi nếu ông không ngại ở chung với một tên trộm.”

Người đàn ông ấy thật tuyệt vời. Ta đã nán lại đấy hẳn một tháng ! Cứ mỗi đêm ông ta lại bảo : “Tôi đi làm đây. Ông ở nhà và cầu nguyện cho tôi nhé !”. Mỗi khi ông ta trở về ta đều hỏi : “Có trộm được gì không ?” và ông ta đều đáp : “Hôm nay thì chưa, nhưng ngày mai tôi sẽ cố, có thể lắm chứ”. Ta chưa bao giờ thấy ông ta trong tình trạng tuyệt vọng, ông ta luôn hạnh phúc.

Có lần ta đã suy ngẫm và suy ngẫm trong nhiều năm ròng để rồi không ngộ ra được một chân lý nào. Ta đã rơi vào tình trạng tuyệt vọng, tuyệt vọng đến nỗi ta nghĩ mình phải chấm dứt tất cả những điều vô nghĩa này. Ngay sau đấy ta chợt nhớ đến tên trộm, kẻ hằng đêm vẫn quả quyết : “Ngày mai tôi sẽ làm được, có thể lắm chứ !”

Người thầy thứ hai là một con chó. Khi ta ra bờ sông uống nước, có một con chó xuất hiện. Nó cũng khát nước. Nhưng khi nhìn xuống dòng sông, nó thấy cái bóng của mình nhưng lại tưởng đó là một con chó khác.

Hoảng sợ, nó tru lên và bỏ chạy. Nhưng rồi khát quá nó bèn quay trở lại. Cuối cùng, mặc nỗi sợ hãi trong lòng, nó nhảy xuống sông và cái bóng biến mất. Ta hiểu đây là một thông điệp đã được gửi đến cho ta : Con người phải biết chiến thắng nỗi sợ trong lòng bằng hành động.

Người thầy cuối cùng là một đứa bé. Ta đến một thành phố nọ và thấy một đứa bé trên tay cầm một cây nến đã thắp sáng để đặt trong đền thờ. Ta hỏi đứa bé : “Con tự thắp cây nến này phải không ?”

Đứa bé đáp : “Thưa phải.”

Đoạn ta hỏi: “Lúc nãy nến chưa thắp sáng, nhưng chỉ một thoáng sau đã cháy sáng. Vậy con có biết ánh sáng từ đâu đến không ?”

Đứa bé cười to, thổi phụt ngọn nến và nói : “Ngài thấy ánh sáng đã biến mất, vậy ngài bảo ánh sáng đã đi đâu ?”

Cái tôi ngạo nghễ của ta hoàn toàn sụp đổ, pho kiến thức kim cổ của ta cũng sụp đổ theo. Lúc ấy ta nghiệm ra sự dốt nát của bản thân. Và từ đó ta vất đi tất cả những tự hào về kiến thức của mình.

Đúng là có thể nói ta không có một ai là thầy, nhưng điều này không có nghĩa ta không phải là một học trò. Ta xem vạn vật là thầy. Tinh thần học hỏi của ta luôn rộng mở hơn tất cả các người. Ta học hỏi từ tất cả mọi vật, từ cành cây ngọn cỏ đến đám mây trên trời kia. Ta không có một người thầy vì ta có hàng triệu triệu người thầy mà ta đã học được mỗi khi có thể. Điều thiết yếu trong cuộc sống là luôn làm một học trò.

Điều này có nghĩa là gì ? Nghĩa là có khả năng học hỏi, luôn sẵn sàng học để biết chấp nhận ý nghĩa của vạn vật.

Mai Trung Tín

TỰ LỰC VĂN ĐOÀN

NHỮNG NGƯỜI MẤT

CẢ VỐN LẪN LỜI

LTS: Nhân kỷ niệm 80 năm phong trào Thơ mới và ngày thành lập tổ chức văn học Tự lực văn đoàn, hội Nghiên cứu và giảng dạy văn học cùng với đại học Sài Gòn, khoa văn học và ngôn ngữ đại học Khoa học xã hội và nhân văn, khoa ngữ văn đại học Sư phạm và tạp chí Thế giới mới dự định mở toạ đàm “Phong trào Thơ mới và Tự lực văn đoàn – 80 năm nhìn lại” vào cuối tháng 9/2012. Chúng tôi xin trích đăng một bài viết có tính tư liệu độc đáo về xuất thân của các tay bút chủ lực của Tự lực văn đoàn do cố nhà văn Nghiêm Đa Văn ghi lại từ lời kể của mẹ nhà văn Khái Hưng. Tựa bài là : Mẹ tôi kể về Tự Lực văn đoàn : “Những người mất cả vốn lẫn lời”.

Mẹ tôi là con gái út cụ Cử Tiết : Nguyễn Đức Tiết . Ông ngoại tôi đỗ tiến sĩ đời Đồng Khánh, nhưng không thích mọi người gọi là ông Nghè, vì ông không nhận mũ mãng vinh quy của ông vua mới do Tây dựng lên, mà theo hịch của ông  vua cũ : Hàm Nghi thời ông đỗ Cử nhân, trưởng Nam. Ông ngoại tôi có ba người bạn đồng khoa : cụ Cử Nguyễn làng Xuân Cầu, cụ Cử Đặng làng Hành Khiển, cụ Cử Trần làng Cổ Am. (ông ngoại tôi là người làng Diêm Điền).

Tình bằng hữu của các cụ nhà nho  ngày xưa rất đặc biệt. Ông ngoại tôi theo cụ Tán Thuật làm quân sư trong cánh quân Sơn Nam hạ của cụ hiệp trấn Kinh Bắc Tạ Quang Hiện, dân gian gọi chủ tướng là Đề Hẹn, gọi quân sư là Đốc Tít.

Còn cụ Cử Nguyễn làng Xuân Cầu bỏ quan di dạy học. Cụ Cử làng  Hành Thiện theo quân triều đình làm  tham tán quân vụ. Cụ Cử làng Cổ Am thì di làm quan. Mỗi người một chí hướng, mỗi người một cảnh ngộ nhưng tình bạn trước sau  như một. Cụ Cử Trần làng Cổ Am làm quan đến tổng đốc đã nhận các con bạn “làm  giặc” về nuôi là con, cho ăn học thành tài.

Mẹ tôi kể : Cụ Cử Hành Thiện có các con trai là cậu Khóa Thiều. cậu Khóa Khu ; cụ Cử Xuân Cầu có bác giáo Hoan; ông ngoại tôi có bác Khóa Cảnh; cụ Cử Cổ Am có cậu Tú Dzư, cậu giáo Tiêu… Khi cụ tuần Trần Mỹ (tức cụ Cử Cổ Am) trị nhậm ở Thái Bình, Nam Định. tất cả các bác. các cậu đều về ở nhà cụ và học ở trường Thành Chung Nam Định, trừ một vài người đỗ vào trường bảo hộ tức trường Bưởi Hànội.

Người sớm có chí lo việc “quốc sự” là cậu Tú Dzư , tức Trần Dzư. Trần Dzư chống lại quyết định của bố, không chịu vào trường Hậu bổ, đào tạo các quan tri huyện. Vì trái ý cha. cậu Tú Dzư bị cắt hết  trợ cấp . Cậu ấm con quan bi đẩy ra cuộc đời  với hai bàn tay trắng, khi tuổi đời chưa tới hai mươi. Tú Dzư bôn ba Hà Nội, Hải phòng tìm bạn cùng chí hướng. Sau nhiều tháng thất nghiệp đói rét, Tú Dzư xin một chân thư ký một đại lý bán dầu hỏa ở huyện Cẩm Giàng và thị trấn Ninh Giang, trên đường quốc lộ nối liền Hà Nội – Hải phòng. Tại nơi này Tú Dzư gặp một người bạn dân gốc Quảng Nam, cả gia đình ra Bắc theo sự chuyển nhiệm sở của người cha, giữ một chức quan nhỏ. Cha chết, cả nhà ở lại. Người bạn đó là Tam. Tam có hai người em là Lân và  Long. Lúc bấy giờ anh Tam đã bắt đầu viết vài ba bài báo in trong tạp chí  của ông Phạm Quỳnh và đã in một cuốn sách nhỏ, Lân và Long còn đi học .

Mấy anh em thường quây quần bàn chuyện quốc sự, tức là việc ái quốc chống Pháp như tất cả các thanh niên có khí huyết hồi đó. Vì ý nguyện yêu nước mà cậu Tú Dzư nhận tên mình trùng với tên một danh tướng nhà Trần nên bỏ cách đặt tên ”Trần Cộc” tức là họ Trần không có tên lót hay tên đệm, tự đặt cho mình cái tên lót  “Khánh” trở thành Trần Khánh Dz­ư. Lấy việc bán dầu hỏa giống với việc bán than chờ thời để tỏ ý nguyện và cái chí của mình.

Làm thư­ ký đại lý bán dầu hỏa một thời gian. Tú Dzư ­cùng ba anh  em Tam, Lân, Long lên Hà Nội góp tiền mở một hiệu ảnh ở trước cửa chợ Đồng Xuân, đặt tên hiệu ảnh Hương Ký. Những người trẻ nhiều mơ mộng muốn cái việc chớp hình của mình ghi lại cái đẹp nhất của tục vật, cái hương của đời. Để thêm ngư­ời làm việc, cậu Tú Dzư­ vào Nam Định rủ thêm Cảnh là em nuôi, Tiêu là em ruột lúc bẩy giờ bị đuổi khỏi trường Thành chung vì tham gia phong trào bãi khóa đòi thả cụ Phan Bội Châu và đẻ tang cụ Phan Chu Trinh.

Mấy anh em tập trung vừa làm thấy vừa làm tớ ở hiệu ảnh Hư­ơng Ký nhỏ bé.

Cánh Nam Đồng thư­ xã của Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khắc Nhu, Phạm Tuấn Tài, Trần Huy Liệu, Nguyễn Phương Thảo… tìm đến bàn việc quốc sự với nhóm Hư­ơng Ký. Cảnh ly khai các anh theo nhóm Nam Đồng thư­ xã với chủ nghĩa Tam Dân : Dân tộc : độc lập, Dân quyền : tự do, Dân sinh : hạnh phúc, do ông Tôn Dật Tiên (bên Tầu) đề xướng. Còn anh em trong nhóm Hương Ký rất mê Thế kỷ ánh sáng của các triết gia Đức, Vônte, Montesquieu…

Cảnh vì giỏi tiếng Quan Thoại và nói được tiếng Quảng Đông được cử đi học thêm về chủ nghĩa Tam Dân ở Quảng Châu. Tại đây, Cảnh gặp Đinh Chương Dư, giới thiệu với Hồ Tùng Mậu và cử vào học lớp chính trị của Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội do Nguyễn Ai Quốc tổ chức. Vài năm sau, Cảnh tham gia lập Đảng Cộng Sản Đông Dương với chi bộ nòng cột bảy người ở 5D Hàm Long Hà Nội. Đây là chuyện của lich sử Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Nhóm Nam Đồng thư xã hoàn chỉnh học thuyết của mình thành lập Việt Nam Quốc dân đảng tổ chức cuộc khởi nghĩa Yên Bái chấn động lịch sử vào cuối năm 1929. Đảng Cộng Sản Đông dương phát động phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh. Cả hai phong trà đều bị dìm trong bể máu của khủng bố trắng.

Nhưng anh em trong nhóm Hương Ký vẫn kiên quyết theo đuổi đường lối quốc sự riêng của mình. Họ làm quen thêm với một sinh viên Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương ghi tên học theo  thể thức dự thính là Lễ, và một công chức Sở Tài chính là Hiếu, sau này kéo thêm một viên chức nhà Đoan là Diệu. Họ quyết tâm và đầy tự tin tiến hành một cuộc cách mạng văn hóa, cách mạng thơ ca, cách mạng văn chương, cách mạng lối sống… Vũ khí họ chọn là ngòi bút. Lịch sử 80 năm qua cho rằng họ thiếu dũng khí không dám cầm súng… Tài chính của họ là những đồng tiền ít ỏi góp nhặt từ những chiếc túi rách đời học sinh, gia sư, công chức hạng bét. Họ là những thanh niên vừa ở tuổi hai mươi, hầu hết vô danh, có người ngoài bài luận văn ở trường, chưa hề viết một bài thơ, một đoản thiên.

Họ góp tiền lại mua một “măng sét” (tên báo) của một anh chàng nhà giàu làm báo để mua danh : Báo Phong Hóa.

Với công cụ là một tờ báo vốn sinh ra là tờ lá cải, họ đã vươn lên thành trụ cột của phong trào Thơ Mới, xây dựng nền văn chương tiểu thuyết Việt  Nam hiện đại. Chàng sinh viên học thính thị Cao đẳng Mỹ thuật tên Lễ đã trở thành  con hổ nhớ rừng và là vị  chủ soái Thế Lữ của phong trào Thơ Mới. Anh chàng thư ký nhà Đoan tên Diệu trở thành nhà thơ Xuân Diệu, người tình muôn thuở của thi ca Việt Nam. Xuân Diệu kéo thêm một người em nuôi, người bạn chí cốt  một kỹ sư canh nông, sau thành nhà thơ Huy Cận. Anh cử nhân toán lý tên Tam thành ra nhà văn Nhất Linh, nhà chính khách Nguyễn Tường Tam. Cậu Tú Dzư, làm “tự mê’ cái tên Khánh Dzư thành Khái Hưng : trở thành hai cây đại thụ góp phần đặt nền móng cho nền  tiểu thuyết hiện đại của lịch sử văn chương Việt Nam.

Cậu Long, sinh viên khoa luật, trở thành nhà văn Hoàng Đạo, nhà lý  luận của nhóm, nhà văn luận đề đầu tiên của dòng tiểu thuyết luận đề Việt Nam. Cậu Lân trở thành nhà văn Thạch Lam, một trong những bậc thày của truyện ngắn Việt Nam. Cậu giáo Tiêu, trung thành với truyền  thống “Trần Cộc” không tên đệm thành nhà văn Trần Tiêu,  nhà văn viết tiểu thuyết đầu tiên của Việt Nam mô tả cái hồn của đời  sống nông thôn. Thầy ký sở Phi Năng tên Hiếu. họ Ngô, đệm Trọng trở thành thơ trào phong nổi tiếng : Tú Mỡ nối nghiệp Tú Xương .

Nhóm Phong hóa lập nên “Tự Lực Văn Đoàn” là một văn đoàn lớn , không nhận tài trợ của bất cứ ai, lập giải văn chương, giải thưởng khẳng định các tài năng văn học Việt Nam như Anh Thơ, Tế Hanh, Nguyên Hồng,  Đỗ Đức Thu, Đỗ Tốn…

Sau này, Tự Lực Văn Đoàn ra tờ Ngày nay và nhà xuất bản Ngày Nay. Phần lớn những tác phẩm quan trọng nhất của lịch sử văn học Việt Nam đã ra mắt bạn đọc trên  các tờ Phong Hóa, Ngày Nay, nhà xuất bản Ngày Nay.

Con cái của bốn người bạn đồng khoa ngày nào, riêng Khóa Cảnh tức Nguyễn Đức Cảnh, bí thư cộng sản đầu tiên của Hải phòng, Quảng Ninh, lãnh đạo phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh, bị tử hình cũng là một thà thơ cách mạng. Giáo Hoan sau kết  giao với nhà xuất bản Tân Dân, Tiểu thuyết thứ bảy thành nhà văn Nguyễn Công Hoan; Khóa Thiếu, khóa Khu là Đặng  Xuân Thiều, Đặng Xuân Khu là những nhà thơ cách mạng. Riêng Đặng Xuân Khu có bí danh là Trường Chinh, khi làm thơ ký tên Sóng Hồng.

Mẹ tôi bảo, các cậu, các bác không chỉ là con cái của bạn đồng khoa mà đều có họ hàng đằng mẹ với nhau. Vì theo lệ  của các bậc khoa bảng Bắc  Hà, khi thành đạt, họ thường được cha mẹ kén cho những người vợ ở làng Cổ Am. Đất Cổ Am có tiếng “đẻ” ra quan. Dân gian vì thế có câu : “VÚ Đồ Sơn, L… Cổ Am”. Ba người bạn đồng khoa đều lẩy con gái nhà họ Trần, một họ lớn cuả làng Cổ Am do chính bạn mình là cụ Cử Trần My mồi lái.

Nhắc lại chuyện cũ, mẹ tôi thường thở dài và cười :

– Hồi ấy, để có tiền mua bảng hiệu “nhật trình” Phong Hóa, các bác, các cậu “ăn dỗ” đám các chị  em  gái. Cậu Tú Dzư lột của tao đôi khuyên vàng, một bộ xà tích vàng… hứa là khi nào làm ra, ăn nên sẽ trả nhưng cho tới nay, tao mất cả vốn lẫn lời.

Không chỉ mẹ tôi mất cả vốn lẫn lời mà tất cả nhũng người thân của mẹ  tôi, những người  lập nên Tự lực văn đoàn đều mất cả vốn lẫn lời như mẹ tôi. Chỉ có nền văn hóa dân tộc là được những viên gạch đặt nền móng cho nền văn chương hiện đại. Nhưng sau này những người xây lâu đài trên nền móng đó vẫn chưa thực sự công nhận những viên gạch đó là nền móng văn chương nước nhà.

Mẹ tôi là con gái út của cụ cử Tiết, là em út của tất  cả những người  anh cùng họ bên ngoại làng gổc Cổ Am. Mẹ tôi là Thừa, Nguyễn Thị Thừa.  Mẹ tôi đã kể những chuyện này.

(theo Nghiêm Đa Văn – Bài đăngtrên Văn học & Dư Luận số 5-1992)

BÁC KHÁI HƯNG

TRONG MẮT TÔI

Ngày đó, tôi còn nhỏ, được cha mẹ gửi lên Hà Nội ăn học. Có lúc ở nhờ nhà ông chú trong Hà Đông, lắm khi lại đến ở với bác Khái Hưng. Tới giai đoạn tờ Phong Hoá bị đóng cửa, nhóm Tự lực văn đoàn dồn sức cho tờ Ngày Nay thì tôi về ở hẳn với vợ chồng bác. Nhóm Tự lực văn đoàn, ai cũng nhà cửa tươm tất, riêng bác tôi lấy toà soạn làm nhà. Cơ ngơi của báo Ngày Nay là một căn nhà hai tầng nằm ở số 80 phố Quán Thánh. Toàn bộ tầng dưới là nhà in. Tầng trên có ba phòng. Một phòng tiếp khách kiêm thư viện, lưu trữ rất nhiều sách quý. Phòng rộng hơn cả là nơi bác tôi làm việc như một tổng biên tập. Cứ đến cuối tuần, thì căn phòng này lại trở thành điểm hẹn của giới văn nghệ sĩ. Họ đến đông lắm, người hát, người ngâm thơ, người chơi đàn. Thi thoảng, lại có những đêm ca trù. Còn một phòng nữa dành cho hai vợ chồng bác.

Không khí của một toà soạn báo, khỏi phải nói ai cũng biết, lúc nào cũng tấp nập. Nhất là mỗi bận ra báo, cả nhà in chạy rầm rập, đến nỗi sàn gỗ tầng trên rung bần bật. Tôi đang ở tuổi ăn, tuổi ngủ cũng không thể ngủ được. Ấy vậy mà bác tôi thì cứ viết văn, viết báo, biên tập, dịch sách đều đều, quên ngày, quên đêm. Thấy ông vắt kiệt sức như thế, tôi cứ tưởng bác mình… bất hạnh lắm. Sau mới nhận ra, kỳ thực, ông đang rất thoả nguyện. Phải chứng kiến những khi ông háo hức giở từng trang báo vừa in xong, còn nguyên mùi mực, mới cảm nhận hết niềm hạnh phúc của ông. Thế nhưng, bác gái tôi mới là một người vô cùng đặc biệt. Rất kiệm lời và luôn nhỏ nhẹ, khoan thai, bà như một hình bóng lặng thầm, nhưng rất đỗi dịu mát giữa toà soạn báo ồn ã, náo nhiệt ấy.

Cuộc sống khó khăn, bữa cơm nhiều khi chỉ có canh với rau muống luộc. Nhưng từng ngọn rau muống vẫn được bà tỉ mẩn bày gọn ghẽ, đều tăm tắp trên đĩa. Sự chăm sóc giản đơn mà tinh tế ấy đã thổi vào cái tổ ấm tạm bợ của ông bà chút hơi hướng gia đình thực sự. Không có con, bà gắn bó toàn vẹn với chồng. Bởi thế, khi nghe tin ông mất, cuộc sống với bà không còn ý nghĩa. Bác gái tôi cũng ra đi ngay sau đó.

Những năm tháng sống bên bác Khái Hưng, tôi có cơ hội thường xuyên gặp gỡ các thành viên của nhóm Tự lực văn đoàn. Tuy đồng chí hướng, nhưng mỗi người một tính cách. Nhà văn Nhất Linh là người có sức ảnh hưởng rất lớn đến đồng nghiệp, và là một nhà chính trị thực thụ. Nhờ tài tổ chức, quản lý và những ý tưởng mạnh bạo, tiên tiến của ông nên tờ Phong Hoá và Ngày Nay mới phát triển rực rỡ như thế. Tôi vẫn nhớ, hồi đó, mỗi lần ra báo là bạn đọc háo hức đón đợi trước cả tuần. Cánh sinh viên, học sinh mê mệt các cây bút chủ lực của báo, nhất là Khái Hưng, đến nỗi đứng chờ hàng giờ trước cửa toà soạn để mong gặp mặt.

Nhà văn Trần Tiêu, cha tôi, thì lại là một người vui tính, hóm hỉnh. Năm 1933, bà nội tôi tuổi cao sức yếu, bác Khái Hưng không thể rời toà soạn nên cha tôi thay anh về Hải Phòng chăm sóc mẹ già. Vì thế, ông được giao viết mảng nông thôn. Hầu hết những nhân vật của ông đều có nguyên mẫu là người làng, nên khi đọc, thấy rất thân thuộc, gần gũi. Cha tôi quan sát rất tinh và truyền tải những cảm nhận của mình vào tiểu thuyết bằng giọng điệu hài hước. Cho dù là khen ngợi hay phê phán thì cũng dễ nhận ra ông có một tình yêu thực sự với nông thôn.

Trong mắt tôi, Khái Hưng là một con người tuyệt vời, một tâm hồn nghệ sĩ tràn đầy mộng mơ, hồn nhiên, trong trẻo và ngây thơ đến kỳ lạ. Ông nhìn cái gì cũng thấy tươi mới, thậm chí nhìn cái cũ cũng vẫn thấy mới. Ông rất yêu động vật, thường dành cả tiếng chơi đùa với con mèo cưng. Ông cũng rất yêu cây cối. Lúc đầu, tôi cứ tưởng bác tôi thơ thẩn bên hoa cỏ là để lấy cảm hứng viết văn. Nhưng, hoá ra, ông yêu thiên nhiên thật. Có khi bác gọi giật tôi lại, chỉ để chỉ cho tôi thấy một con cánh cam óng ả, một con chuồn chuồn ớt đỏ rực trong nắng. Hoặc có khi tôi bắt gặp ông cầm cái que nhỏ, thích thú đấu kiếm với… con bọ ngựa đậu trên cây. Sự hồn nhiên quá đỗi ấy, cộng thêm sự ngây thơ hiếm thấy trên đời, đã khiến bác tôi gặp nạn. Ông bước vào chính trị theo kiểu… a dua, chủ yếu vì trọng tình bạn keo sơn với nhà văn Nhất Linh. Không ít lần ông tính theo cách mạng, vì một tình cảm cũng rất hồn nhiên, nhưng lại nể bạn mà thôi. Trong thời điểm Nhất Linh và những nhân vật chủ chốt khác bỏ chạy ra nước ngoài thì ông bình thản ở lại toà soạn, hồn nhiên thông báo: “Mình sẽ đi theo kháng chiến”. Hôm đó, sốt ruột không biết bác mình ra sao, tôi tìm đến toà soạn báo Ngày Nay. Đúng lúc ông chạy ra đón tôi thì xe điện xình xịch lao qua. Đến giờ tôi vẫn còn nhớ, bác tôi vẫy tay chào và hét to: “Mai bác đi kháng chiến!” Đó là lần cuối cùng tôi được gặp bác Khái Hưng. (theo lời Trần Bảng do Hương Lan ghi)

Đôi lời về nghệ sĩ Trần Bảng

Ngay từ nhỏ, Nghệ sĩ Trần Bảng đã được cha và bác hướng theo con đường văn chương. Bài học đầu tiên cậu bé Trần Bảng tiếp thu là: nếu đã mê cuốn sách dịch nào thì phải tìm cách đọc bằng được bản gốc, tức phải biết thật nhiều ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh, Pháp, Trung. Thấy ông bắt đầu với các tập truyện ngắn hiện đại, các cụ liền giáo huấn : “Đã đọc văn học nước ngoài, phải đọc từ cổ điển”. Và thế là, Bồ Tùng Linh, Goethe, Shakespeare… và không ít kịch bản kinh điển của sân khấu thế giới trở thành sách gối đầu giường của Trần Bảng. Sau này, khi tham gia kháng chiến, không có cơ hội viết văn, nhưng cơ duyên lại đưa ông đến với nghệ thuật chèo. Và chính nền tảng văn học năm xưa đã góp phần đưa Trần Bảng trở thành một tên tuổi lớn, ông “trùm” của sân khấu chèo Việt Nam

Nguyễn Văn Danh post

ĐỌC ĐỂ GIẢI SẦU

Nào những ai, nếu có ưu phiền, để dành xem lại, cái phiền tiêu luôn..

1. Già người, già tóc, già râu. Bộ phận chiến đấu còn lâu mới già

2. Mình ngu nhiều kẻ ngu hơn, cho nên được gọi là khôn hơn người.

Em xinh đâu phải nụ cười, em xinh là bởi nhiều người xấu hơn !

3. Tái dê chấm với tương gừng, ăn xong rồi lại phừng phừng như dê

4. Ở giữa 2 cái chân thật là 1 cái chân tình

5. Yêu nhau cởi áo cho nhau. Ghét nhau trợn mắt : Áo đâu ? Mặc vào !

6. Phải bình tĩnh trước gái xinh và không giật mình trước gái xấu !

7. Nhan sắc có hạn, mà lựu đạn thì có thừa

8. Muốn ngủ ngon thì đừng lấy vợ. Muốn không nợ thì đừng có yêu.

Muốn cao siêu thì đừng dại gái. Muốn thoải mái thì vào nhà tu

9. Buổi sáng thức dậy. Thể dục thể thao. Da dẻ hồng hào.

Hứng khởi tuôn trào. Lại vào ngủ tiếp

10. Hội trường yên ắng ngủ say. Thuyết trình vừa dứt… vỗ tay ra về

11. Ăn hột mít luộc có thể gây mất đoàn kết nội bộ và nghi ngờ lẫn nhau !

12. Sống tình cảm mà không tiền cũng khổ. Yêu hết mình mà không được thì thôi

13. Không có gì làm anh em ta xa cách. Chỉ … hôi nách là xa cách anh em

14. Con nhà gia giáo, huýt sáo theo liền

15. Văn hay chữ tốt sao bằng thằng dốt lắm tiền

16. Con là cái nợ, vợ là kẻ thù, thầy u là gián điệp

17. Bò không ăn cỏ bò ngu. Trai không hú gái, trai ngu hơn bò !

18. Nếu tiền không làm bạn hạnh phúc thì hãy đưa nó cho tôi

19. Cell phone thuê bao mà bạn vừa gọi,nó nằm ngoài vùng phủ sóng. Thật ra nó đang nằm trong vòng tay kẻ khác đang phủ mền

20.Thúy Kiều ôm chiếc Iphone. Gọi cho Kim Trọng khôn hồn tới ngay.

Trọng lấy laptop xách tay. Mail cho bà tú tới ngay tóm hàng

21. 6 năm trời không bia, không rượu, không thuốc lá, không đi chơi đêm không đàn bà. Và thế là……… tôi vào lớp 1

22. Ngu còn tỏ ra mình phong phú

23. Vì một người đi cố làm cả phố tắc đường

24. Em đen nhưng tâm hồn em trong trắng, vì nhà em nghèo em dang nắng … em đen

25. Mai sau về với ông bà, ăn chuối cả nải ngắm gà khỏa thân

26. Bia độc hơn rượu, bằng chứng trên thế giới chỉ có bia mộ chứ nào thấy rượu mộ ở đâu

27. Mập không phải là cái tội. Mập là để thể hiện sự vượt trội về thể xác hơn người

28. Những câu nói bất hủ, đọc sẽ không buồn ngủ

Mỹ Nhàn post

Bản tin số 243 – Ngày 30/8/12

BỨC THƯ SÀI GÒN

TẢN MẠN VÀI CHUYỆN XƯA.

THƯ GỬI BẠN BÙI VĂN VIỆT A3 HNC 60-67 HAY LÀ LỜI TÂM SỰ CỦA MỘT NGƯỜI BẠN TẬT NGUYỀN. 

Bùi Việt thân,

Được Việt nhắc hai thằng bạn lớp A3 là Lê Văn Chấn và Đặng Ngọc là hai thằng bạn yếu chân. Tôi thật sự xúc động và có cái nhìn trìu mến về Bùi Việt đã biết cảm thông đối với chúng tôi những người bị di chứng của căn bệnh quái ác “sốt tê liệt, sốt bại liệt” (polyomelit) do thời đó không có “sarbin” uống ngừa bại liệt. Bạn Ngọc lớn tuổi hơn tôi, mồm mép lanh lợi, nên tuy “què chân” nhưng không “què miệng”, trên 40 năm rồi tôi không gặp Ngọc, mặc dù có đi tìm. Khoảng năm 1972, tôi có gặp bạn Ngọc tại buổi tất niên Hội cựu học sinh Hồ Ngọc Cẩn tổ chức tại trường do thầy Hiếu Hiệu Trưởng HNC chấp thuận đơn cho phép. Thời đó mà Ngọc đã có vợ rồi, tôi có đến nhà ở trong hẽm đường Bùi Viện Q 1, nay không biết ở đâu.

Việt nói Chấn và Ngọc là hai bạn “yếu chân” tôi thật sự hết sức vui mừng. Vi có lần trong một buổi tiệc, có người hỏi tôi bạn mình tên gì, người khác trả lời “thằng Chấn què chớ ai”. Tôi nghe mà lòng tôi thấy xót xa, tủi thân cho thân phận mình, tối tôi về ngũ không được, giờ này mà bạn đồng môn gọi mình là “thằng què”. Từ năm 1967 đến nay tôi gặp lại rất nhiều bạn đồng môn HNC, đồng niên khóa, tay bắt mặt mừng, hỏi thăm sức khỏe, vui chơi “như thuở lên hai lên ba í a”. Tôi được sinh ra khỏe mạnh như bao người khác, đến năm lên 6 tôi bị sốt bại liệt nơi chân nên học tiểu học tôi phải chống nạng đi học và vào lớp Đệ thất, Rồi lại ra đời sớm tìm miếng cơm manh áo vào lúc 19 tuổi, trong khi các bạn mình xếp bút nghiên đường…. “Anh là lính xa nhà đi trấn Sơn Khê”… rồi thời gian trôi qua tôi cũng được học Hành Chính, học Kế toán tài chính (Kỹ sư kinh tế), Cữ nhân Luật, mà hành trang vào đời là “đôi chân què quặt”, cố vươn lên mà sống.

Nhưng chợt bạn mình dùng danh từ mỹ miều “Thằng Chấn què chớ ai”, làm tôi tủi thân, lòng nguội lạnh, tự lấy làm “xấu hổ’ cho mình, biết bao câu hỏi tại sao cha mẹ mình sinh ra lành lặn, mà lớn lên phải chịu “khuyết tật”, mà không khỏe mạnh lành lặn như bao bạn khác. Thế mới biết lời nói rất quan trọng, có thể làm cho con người ta “buồn bả” suốt cuộc đời, mặc cảm suốt đời về thân phận nghiệt ngã yếu hèn của mình.

Bùi Việt bệnh nơi chân cách nay hai năm tôi có biết và nhờ bạn đồng môn gửi lời thăm Việt, chắc người này quên. Nay Việt đã mỗ một chân, và sắp tới mỗ thêm một chân nửa. Như vậy, Việt có thể yếu chân, và càng sẻ cảm thông với Chấn và Ngọc hơn nữa.

Như vậy chúng ta sẽ là ba chàng ngự lâm pháo thủ của lớp A3 rồi; vì Chuẩn úy Trợ y Pháo Binh Bùi Văn Việt sẽ chờ chúng tôi, biết đâu, sông có khúc, người có lúc, tôi và bạn Đặng Ngọc  đi du lịch qua  Canada thăm Kỹ sư hóa học Khóa 1 TTKT Phú Thọ  Việt Bùi.

Thư ngắn tình dài, biết nói gì đây, hơn là Nguyện Cầu cho Bùi Văn Việt mau sớm bình phục đôi chân, sức khỏe dồi dào, lúc nào cũng tìm được niềm vui mới.

Lê Văn Chấn

(29/8/2012 – Những ngày xưa thân ái ! Sài gòn, Chiều đầu mùa mưa là chiều mùa nhung nhớ…)

Các bạn, (cc: Chấn & Việt B)

Nghe thằng Chấn tâm sự thì thấy rằng người bạn đồng môn nào đó chỉ quá vô tình (chứ không phải cố ý) bởi tật bệnh mỗi người dù nặng hay nhẹ cũng là điều khá nhạy cảm với cá nhân đó (nếu mà không vậy, thì thằng Cao Bồi Già năm qua đã không bị sút ra khỏi cái group của Yahoo, vì tè le cái bệnh siêu vi gan của một ông trùm !)

Thôi Chấn ơi, tao cũng đang là thằng đang lành lặn cũng đã trở thành thằng “xi cà que” đây nè, tụi bạn cũng nói tao có tướng đi cà thọt sau khi té xe gãy một bên chân hồi năm ngoái, nhưng tao học thiền, chả giận thằng nào sốt cả, vì giận sẽ làm già người đi, mà vốn dĩ mình đang già nên đang muốn trẻ mãi không già, chỉ muốn một điều là đừng thằng nào nói điều nhạy cảm “độc” này ngược với câuGià người, già tóc, già râu. Bộ phận chiến đấu còn lâu mới già” thì tao sẽ như Tặc Dzăng nổi giận đấy !

Và riêng với Việt Bùi, như các anh em bên Cali, nghe mày tâm sự như thế, bọn nó hy vọng là vào ngày “hội ngộ mùa hè” năm 2014, sẽ có Bùi Văn Việt xuất hiện, và bất cứ bản nhạc nào Việt Bùi cũng sẵn sàng xông ra pist “ôm đào” nhảy nhót như năm 2010.

Nguyễn Việt

NHỮNG BỨC TƯỢNG

NỔI TIẾNG NHẤT THẾ GIỚI

Từ ngày xưa, những bức tượng đã được con người tạc dựng nên với hàng nghìn lí do, từ tôn giáo, văn hóa đến tưởng nhớ, ghi công những người nổi tiếng. Ngay trong 7 kì quan thế giới cổ đại cũng đã đề cao hai bức tượng : thần mặt trời Helios của đảo Rhodes và thần Zeus ở đền thờ Olympia. Vậy, bạn đã nghĩ đến những bức tượng nào khác rồi ?

1/. Những bức tượng trên núi Nemrut Nemrut là một ngọn núi cao đến 2134m ở đông nam Thổ Nhĩ Kì, gần thành phố Adiyaman. Năm 62 trước công nguyên, vua Antichous I của Commagene cho xây một ngôi điện thờ kiêm lăng mộ cho chính mình, bao quanh bởi rất nhiều những bức tượng: tượng của chính ông, hai chú sư tử, hai chú đại bàng cùng rất nhiều vị thần Hy Lạp và Ba Tư. Thế nhưng sau khi được dựng lên, những đầu tượng bị vỡ khỏi thân và nằm rải rác trong toàn khu vực. Một điểm nhấn thu hút khách du lịch là khi mặt trời mọc sẽ chiếu lên những bức tượng không thân này một ánh cam kì ảo, góp phần tạo nên vẻ huyền bí cho vùng núi này.

2/. Đầu người Olmec – Người Olmec là những cư dân cổ xưa vào thời kì Tiền-Columbia ở vùng đất thấp nhiệt đới thuộc phía nam Mexico (bang Veracruz và Tabasco ngày nay). Những dẫn chứng nổi tiếng nhất còn sót lại của họ là những tượng đá khổng lồ tạc hình đầu người… đội mũ bảo hiểm. Đây có thể là chân dung những người lãnh đạo tối cao của họ, với chiếc mũ sắt của mỗi người được chạm khắc hoa văn khác nhau. Có đến khoảng 17 bức tượng như thế, với chiều cao dao động từ 1,47m đến 3,4m. Thật khổng lồ!

3/. Những chú sư tử của đảo Delos Đảo Delos, tọa lạc tại trung tâm quần đảo Cyclades của Hy Lạp, là một địa danh nổi tiếng cả về khía cạnh khảo cổ học, lịch sử và thần thoại. Theo truyền thuyết, đây là nơi mà nữ thần Leto đã hạ sinh cặp song sinh thần thánh của đỉnh Olympia: thần mặt trời Apollo và nữ thần mặt trăng Artemis. Dãy sư tử đá này là món quà mà người dân của đảo Naxos dâng tặng thần Apollo vào khoảng năm 600 trước công nguyên. Ban đầu, người ta ước đoán có khoảng 9 – 12 tượng cẩm thạch trắng như thế. Hiện nay chỉ còn lại 5 tượng còn nguyên và 3 phần chân đế còn sót lại.

4/. Nàng tiên cá bé nhỏ Tượng “Nàng tiên cá bé nhỏ” ngồi trên một tảng đá ở cảng Copenhagen, Langelinie, Đan Mạch. Với những du khách lần đầu nhìn thấy, họ khá ngạc nhiên bởi kích thước tương đối nhỏ của “nàng”: chỉ cao chừng 1,25m và nặng 175kg. Được nhà điêu khắc Edvard Eriksen thiết kế và dựng nên năm 1913, “nàng tiên cá” ra đời như một cách gợi nhớ về câu chuyện cổ tích nổi tiếng của nhà văn Đan Mạch Andersen. Sau nhiều lần “nàng” bị quấy phá như khoác áo choàng, sơn màu hay thậm chí… mất đầu! Các nhà chức trách tuyên bố sẽ dời “nàng” ra xa bờ hơn nhằm tránh những sự phá hoại đáng tiếc và cả việc du khách hay trèo lên bức tượng.

5/. Người mẹ nước Nga – Người mẹ nước Nga” hay còn có tên là “Tiếng gọi của đất mẹ” là một bức tượng nổi tiếng của điêu khắc gia Marmayev Kurgan ở thành phố Volgograd, được dựng nên nhằm tưởng nhớ cuộc chiến Stalingrad vào Thế chiến II. Ngay thời điểm hoàn thành năm 1967, đây là bức tượng cao nhất thế giới: khoảng 85m từ mũi kiếm đến bệ tượng, phần thân người cao 52m và thanh kiếm dài 33m. Ngoài ra, 200 bậc thềm từ chân núi đến chân tượng, tượng trưng cho 200 ngày của cuộc chiến, cũng là một điều đáng lưu ý. Hiện nay bức tượng đang bị… nghiêng do mức nước ngầm hạ thấp làm cho nền móng bị sụt lún.

6/. Nhân sư vĩ đại Tọa lạc tại cao nguyên Giza, gần thủ đô Cairo của Ai Cập, “Nhân sư” là một trong những bức tượng được xếp vào hàng vĩ đại nhất và lâu đời nhất thế giới. Cũng bởi vì quá lâu đời, nên những thông tin cơ bản như hình mẫu khuôn mặt là ai, được xây dựng khi nào, do ai thiết kế vẫn là một đề tài tranh luận nóng bỏng. Giả thuyết được nhiều sự đồng tình nhất: Pharaoh Khafre là chủ nhân của bức tượng, được tạc cách đây khoảng 4500 năm. Một điều thú vị khác là tranh luận của các nhà khoa học về lí do vì sao “Nhân sư” lại hoàn toàn mất đi chiếc mũi của mình, trong khi các phần khác chỉ bị hao mòn qua thời gian ???

7/. Người Moai – Những tượng người Moai khiến cho đảo Phục Sinh, một trong những hòn đảo tách biệt nhất trên trái đất này, trở nên nổi tiếng. Tương truyền, chủ nhân của những bức tượng là người Polynesia. “Những người Moai” ban đầu được dựng đứng khi những cư dân châu Âu đầu tiên tiếp cận được hòn đảo này, sau đó chúng bị hạ xuống trong những cuộc chiến mâu thuẫn giữa các bộ lạc. Ngày nay, có khoảng 50 “người Moai” được phục dựng trở lại trên hòn đảo và cả trong những bảo tàng văn hóa trên khắp thế giới.

8/. Chàng David Tượng David – tác phẩm của điêu khắc gia đại tài Michelangelo làm trong khoảng 1501 đến 1504 – là một kiệt tác của thời kì Phục hưng. Bức tượng cẩm thạch trắng cao 5,17m miêu tả vua David trong kinh thánh ở tư thế nude hoàn toàn với tỉ lệ cơ thể chuẩn mực và cân đối. Các chuyên gia cho rằng Michelangelo miêu tả David trước cuộc chiến với người khổng lồ Goliath vì khuôn mặc bức tượng khá căng thẳng ! Để bảo vệ tránh hư hại, bức tượng được đưa đến Phòng triển lãm Accademia ở thành phố Florence của Ý vào năm 1873, khiến cho nơi đây trở thành điểm đến ưa thích của du khách nói chung và giới nghệ sĩ nói riêng.

9/. Nữ thần tự do – “Nữ thần tự do” hay còn mang tên “Tự do sáng rọi thế giới” đã quá quen thuộc rồi phải không các bạn? Món quà thể hiện tình hữu nghị của nước Pháp dành cho Hoa Kì trong lễ kỉ niệm 100 năm độc lập (ngày 4 tháng 7 năm 1776) nay đã trở thành biểu tượng nổi tiếng toàn thế giới. Trong thiết kế của điêu khắc gia người Pháp Frederic Bartholdi, “Nữ thần tự do” Libertas của La Mã khoác chiếc áo choàng dài, đội vương miện tỏa sáng, tay phải vươn cao ngọn đuốc, tay trái cầm chắc tấm bảng luật (tabula ansata), còn xiềng xích bị vỡ tan dưới chân. Người là lí do mà hàng triệu du khách khi đến nước Mỹ đều đến đảo Liberty và ao ước một lần được chiêm ngưỡng tận mắt.

10/. Chúa cứu thế – Đây là bức tượng Chúa lớn nhất thế giới, biểu tượng của Rio de Janeiro nói riêng và là niềm tự hào của những tín đồ Công giáo trên toàn thế giới nói chung. Đặt trên đỉnh núi Corcovado cao 700m cộng với chiều cao tượng 39,6m và sải tay 30m, từ vị trí của bức tượng cho ta một tầm nhìn bao quát nhất từ vịnh Guanabara ở phía Bắc đến Lagoa Rodrigo de Freitas ở phía Nam.

11/. Tượng Hoàng Đế Yan và Huang ở Trung Quốc – Bức tượng cao 106 m này của các vị hoàng đế cổ đại Yan và Huang, vốn được người ta cho là tổ tiên của dân tộc Trung Quốc, được xây dựng ở Trịnh Châu, thủ phủ tỉnh Hà Nam. Việc xây dựng kéo dài 20 năm và được hoàn thành vào năm 2007.

Vị Hoàng đế đầu tiên, Hoàng đế Yan, sống cách đây khoảng 4.000 năm trước. Người ta nói rằng ông là hậu duệ của vua Thần Nông, sống trong bộ lạc đầu tiên của Trung Quốc. Huang, được ví như một vị Hoàng đế vàng, là một anh hùng huyền thoại và là một trong Ngũ Đế nổi tiếng của Trung Quốc.

Xuân Mai post (Nguồn Diaoconline)

VÌ SAO GỌI LÀ

“DẦU CÙ LÀ” ?

Dầu cù là hay dầu cao là một loại cao bôi ngoài da dạng sệt có tác dụng làm nóng, chữa cảm cúm và phòng một số bệnh thông thường và thường được đóng trong các hộp nhỏ bằng kim loại hoặc thủy tinh.

Dầu cù là có công dụng làm giảm nhanh các triệu chứng : cảm, ho, nghẹt mũi, nặng ngực, lạnh ngực, nhức đầu, đau cứng cơ, đau cơ do cảm hoặc ho, đau lưng, đau do phong thấp, chóng mặt, say tàu xe và trị các chứng ngứa da, nổi mẩn, vết bầm, da khô và nứt nẻ, các vết côn trùng cắn.

Dầu cù là được sử dụng xoa trực tiếp lên da hoặc xông bằng cách pha vào nước nóng, nếu trùm khăn kín thì hiệu quả sẽ cao hơn.

Theo tác giả An Chi trong Sách Chuyện Đông Chuyện Tây :

Cù là là tên mà người xưa ở miệt dưới (Miền tây Nam bộ) dùng để gọi nước Miến Điện.

Trước đây có một loại dầu cao mang nhãn hiệu Mac Phsu, sản xuất tại Miến Điện, được ưa chuộng khắp Nam bộ. Nên nó mới được gọi là dầu cù là (dầu được sản xuất từ nước Cù là). Sau này danh từ dầu cù là được dùng rộng rãi để chỉ tất cả các loại dầu cao.

Theo tác giả Nguyễn Đức Hiệp viết trên tờ Thời báo Kinh Tế Sài Gòn số ra ngày 23/8/2012, dầu “cù là” có nghĩa là dầu từ Myanmar bởi dân Nam Bộ xưa kia gọi tên quốc gia này là Cù Là.

Cũng theo tác giả, đầu thế kỷ XIX thì người Cù Là (Myanmar) đã tới miền Tây buôn bán. Cách chợ Rạch Giá khoảng 13 cây số có xóm gọi là xóm Cù Là  (làng Vĩnh Hòa Hiệp) là nơi người Cù Là sinh sống. Ngày nay, xóm này ở Rạch Giá vẫn còn tên.

Từ tháng 11/1889 tới tháng 9/1921, hoàng thái tử Myingun Min đã sống lưu vong tại Sài Gòn sau một cuộc chính biến thất bại tại triều đình Myanmar. Người Pháp cho hoàng tử Myingun sống ở Sài Gòn và chu cấp tiền bạc cho ông để có thể sử dụng ông sau này.

Bà Daw Phyu, con gái của hoàng thái tử Myingun đã lập gia đình với một người Việt nam và mở hãng dầu Mac Phsu có màu xanh lá cây nổi tiếng khắp Đông Dương (cạnh tranh trực tiếp với dầu Tiger Balm màu đỏ và dầu Nhị Thiên Đường).

Dầu của bà Daw Phyu thời đó được quảng cáo khắp nơi ở miền Nam Việt Nam như trên báo, trên bảng quảng cáo đặt tại các chợ nổi tiếng như chợ An Đông, chợ Thái Bình… với tên gọi dầu cù là, dầu gió hay dầu bạc hà chữa trị “tứ thời cảm mạo”.

Sau này, dầu cù là nổi danh trong Nam ngoài Bắc thì bất cứ loại dầu nào có tác dụng chữa bệnh (dầu cao) đều được gọi là dầu cù là, bất kể là người ở đâu sản xuất. Do vậy, trong Nam cũng gọi cả dầu của người Hoa sản xuất là dầu cù là (trong khi đó cộng đồng người Hoa gọi là Vạn Kim Du – Màn Cắm Yầu).

Ngoài Bắc có hai nhãn hiệu dầu cù là là Sao Vàng và Bồ Câu Trắng cũng đã nổi tiếng khá lâu trước khi không còn thấy sản xuất trên thị trường.

Quế Phượng post (theo Wikipedia)

KHÁM PHÁ THẾ GIỚI

BÙA NGẢI

Trong thế giới của những thầy pháp thuật thời cổ đại tồn tại nhiều bí kíp kỳ lạ. Bùa ngải là một trong số đó. Ngày nay khoa học đã cho thấy đó là những điều hoang đường, tuy nhiên những câu chuyện đồn đại xung quanh chúng vẫn là những điều đầy hấp dẫn và nhuốm màu huyền bí.

Thuật luyện những giống thực vật đặc biệt và truyền cho chúng những khả năng siêu nhiên để sai khiến vào thực hiện những nhiệm vụ như đoán biết tương lai, cải tạo số phận, hay chữa trị bệnh nan y… thời xa xưa khá thịnh hành ở nhiều nước châu Á như Trung Quốc, Ấn Độ và khu vực Đông Nam Á. Người ta gọi đó là luyện ngải và họ tin rằng ngải giúp con người chế ngự sức mạnh huyền bí.

Những pháp sư cao thủ dành cả cuộc đời mình để luyện “công lực”, họ có thể biểu diễn những kỹ năng kinh dị như nhúng tay vào vạc dầu sôi, hay dùng đinh đâm xuyên qua người… Sau khi đã luyện thành cao thủ, họ sẽ tìm và chăm sóc một số loài thực vật mà theo họ có khả năng đặc biệt để truyền các “công lực” sang. Các thầy pháp thuộc diện cao thủ bao giờ cũng là những tay chuyên luyện bùa ngải hay độc trùng. Thông qua việc nuôi ngải, luyện độc trùng, các pháp sư khẳng định quyền năng của họ, qua đó đánh giá tài cao thấp.

Theo những câu chuyện lưu truyền về thế giới bùa ngải, loại ngải quý hiếm nhất phải kể đến là Phù phấn ngải. Đây là một loại thực vật giống với hoa lan đất nhưng có bộ rễ lớn hơn, thường mọc trong rừng thẳm. Loại ngải này có một lớp bột mịn phủ trên lá, nếu ai vô ý đụng phải sẽ thấy ngứa ngáy khó chịu, sau đó toàn thân sưng phù, đau đớn trong khoảng 100 ngày sẽ chết nếu không được các vị cao tăng cứu chữa. Loại ngải này rất hiếm, còn được gọi là “Phù phấn ngải” vì lớp bột rất độc trên lá. Nhưng nếu được tôi luyện đúng cách sẽ trở thành một loại ngải cứu người rất quý.

Những cao tăng muốn tìm được loại ngải này phải vào sâu trong rừng thẳm. Khi tìm được phải loại bỏ lớp phấn độc bên ngoài một cách rất khéo rồi đem trồng vào một chậu đất nung, sau đó cho các chất tượng trưng cho Ngũ hành vào (gồm có đất núi, diêm sinh, sắt, gỗ mục, muối biển). Sau khi nuôi trồng ngải rồi, người ta đặt ngải lên bàn thờ và bắt đầu luyện ngải bằng các quyền phép của bản thân. Khi ngải được luyện xong trong nó sẽ có 2 phần được gọi là thiên năng (năng lực tự nhiên) và linh phù (năng lực của người luyện). Các tay luyện ngải cao cấp còn nuôi ngải bằng trứng gà, hoặc máu gà. Họ cho rằng làm như vậy ngải sẽ mạnh hơn. Nhưng với những người non tay, luyện cách này có thể gây nguy hại cho chính họ. Phù phấn ngải luyện xong dùng để trị bệnh mất trí, hoảng sợ thậm chí có thể tìm được người bị mất tích.

Một loại ngải còn quý hiếm hơn và bị thất truyền hàng trăm năm là Bạch đại ngải.

Người ta cho rằng Bạch đại ngải mọc ở đâu thì các loài thú dữ đều hoảng sợ và không dám sinh sống ở quanh đó. Nếu ai đó trồng loại ngải này mà không biết về tu luyện thì sẽ nguy hại cho bản thân. Trước khi nhổ cây phải ngâm một bài chú, đại khái : “Nhiệm màu thay, nhiệm màu thay / Bạch đại ngải, Bạch đại ngải…”. Nếu loài ngải này mà được một cao tăng luyện thì sẽ trở thành một loại có thể giúp con người cải tử hoàn sinh.

Những thầy pháp sư thiếu “nhân cách”, chạy theo vụ lợi cá nhân hay rình rập để luyện một loại ngải hại người đó là ngải yêu hay bùa mê, thuốc lú. Đó là thứ ngải để “lừa tình”. Ai bị trúng ngải đó tâm thần mê man, không biết gì về đạo lý, bỏ nhà cửa chạy theo tiếng gọi của ái tình. Những người bị trúng ngải yêu có dáng điệu luôn suy tư, hờ hững với xung quanh.

Loại Mê tâm ngải có tác dụng tương tự. Cây Mê tâm lá màu xanh sẫm to bản hình cái kiếm, hoa màu tím đen có đốm trắng, có mùi hắc rất khó chịu. Người trúng ngải này sẽ mất ăn mất ngủ, tâm thần bất loạn. Những kẻ muốn dùng ngải mê tâm hại người bắt buộc phải biết tên tuổi của nạn nhân thì mới thành công. Những tay nuôi loại ngải này thường bị dân làm ngải coi thường, liệt vào loại mờ ám.

Một loại ngải khác có tên khá kinh dị là Huyết nhân ngải. Loại ngải này mọc trong các khu rừng có thú dữ. Muốn tìm được loại Huyết nhân ngải phải đợi vào đêm, khi ngải ửng lên màu đỏ như máu mới có thể nhìn thấy và nhổ được vì ban ngày lá cây màu xanh như bình thường. Hoa của loài ngải này nhỏ ly ti và có màu đỏ như những giọt máu.

Tương truyền rằng loài hổ báo sau khi ăn thịt những người tuổi Dần sẽ bỏ lại quả tim của nạn nhân, từ quả tim bỏ lại đó sẽ mọc lên loài Huyết nhân ngải. Khi nhổ loài ngải này cũng phải đọc thần chú, luyện để loài Huyết nhân ngải hội đủ khí âm dương phải mất hàng năm trời. Củ của Huyết nhân ngải nếu đem ngậm một lát nhỏ sẽ có đủ sức lực để nhịn đói 1 tuần mà sức lực không suy giảm. Ngải này giúp người dùng có thần giao cách cảm, đoán biết được những sự kiện nghìn trùng xa cách.

Tại Trung Hoa có một loài thực vật rất quý hiếm mọc trong rừng sâu, trên những thân cây gỗ mục. Có những pháp sư cả đời đi tìm không thể thấy, nhưng nếu ai có duyên sẽ gặp được đó là loại Mai hoa xà vương ngải. Theo những tài liệu về bùa ngải thì loài này có thân mềm mại, lá xanh có đốm vàng trông như rồng cuốn. Hoa nở màu sắc vàng, hồng rực rỡ, có mùi hương vô cùng quyến rũ. Xung quanh cây ngải này có nhiều rắn chúa Mai hoa đến ở vì thế nên người ta lấy tên Mai hoa xà vương để đặt cho nó. Loại ngải này nếu luyện được thành công, khi ngậm vào miệng sẽ giúp thân thể cứng rắn như thép, dao chém không đứt. Nếu chẳng may ngải Mai hoa chết, người luyện ngải phải làm lễ ma chay rất trang trọng và đem chôn cây ngải trên vùng núi cao thoáng mát.

Ngày nay, khoa học phát triển không còn đất cho các pháp sư hành nghề luyện ngải nữa. Tuy vậy những câu chuyện đậm màu huyền bí vẫn là đề tài hấp dẫn những người hiếu kỳ trong lúc “trà dư, tửu hậu”. Mặt khác, các nhà Đông y học đang tiếp tục nghiên cứu những loài thực vật rất quý hiếm đó nhằm bảo tồn và phát hiện những dược chất giúp ích thực sự cho con người.

Thiên Việt post

ĐỢI MƯA

Tùy bút : Kiều Uyên Du

Nắng hạn kéo dài… kéo dài… kéo dài… dài quá…

Đồng ruộng nứt nẻ.Sông suối vắt đến gãy tay cũng không ra một nửa  giọt nước. Cây cối chết rũ hàng loạt.Côn trùng chẳng còn kiếm đâu ra thức ăn, nước uống nên thi nhau ngã chết.Gia súc ngắc ngoải …

Con người đâu có kém gì. Tử thần ngang nhiên đứngtrước cửa nhà.Y đã mang đi bao nhiêu nhân mạng rồi ? Nào ai biết. Nào ai nhớ. Khăn tang trắng xóa khắp nơi nơi. Người ta không còn sức để khóc than nữa. Con người chỉ còn sức để phát ra tiếng khào khào mà thôi.

Những cặp mắt lờ đờ nhìn lên cao xanh mà oán trách, mà mong chờ, mà cầu xin van vái. Bầu trời cứ lạnh lẽo như giữa đông tuyết giá.Không một gợn mây.

Thi nhân không còn cảm hứng làm thơ nữa.Văn nhân lại càng không thể viết được chữ nào.Mà dù có cố gắng viết ra thì cũng chỉ là gắng gượng cho qua ngày đoạn tháng, cho đắp đổi qua ngày bằng đồng tiền nhuận bút cỏn con.

Thế gian hoang vắng hơn sa mạc. Chỉ còn vật vờ những tiếng thở dài yếu ớt .

Thế nhưng…

Bỗng một hôm nọ…

Trời nổi sấm sét.Mây đen vùn vụt kéo đến kín chật bầu trời. Những tia chớp lằng ngoằng soi rõ những ánh mắt hân hoan của con người. Nụ cười nở trên bờ môi dúm dó vì khô nước. Những giọt nước mát đangcuồn cuộn chảy trong đầu mỗi người. “ Nơi đây tôi chờ, nơi kia anh chờ, trong căn nhà nhỏ mẹ cũng ngồi chờ…”. Những thác nước ào áo đổ xuống trong mỗi trái  tim. Những cái lưỡi thò ra liếm láp bờ môi. Những cục xương cổ cứ trồi lên ngụp xuống như cái pít –tông xe gắn máy đang vận hành.

Rồi người ta lim dim đôi mắt vạch ra những dự tính, những kế hoạch cho những ngày mới đầy sức sống đang đến gần.

Thi nhân mơ về những bài thơ tuyệt vời sẽ làm rung động tỉ tỉ trái tim độc giả.Văn nhân sẽ có một tác phẩm đồ sộ ngang ngửa với những tác phẩm của các văn hào từng đoạt giải Nobel văn học.

Bác nông phu mơ về một cánh đồng bát ngát lúa chín vàng ươm.

Người công nhân mơ về  những bữa ăn thịnh soạn để con cái không còi cọc và trở nên thông minh hơn thế hệ cha mẹ chúng…

Người người  nặng trĩu mộng mơ trước một bầu trời đang chuyển dạ giông tố.

Thời gian trôi…trôi…trôi…

Sáng rồi chiều. Chiều rồi tối. Vẫn chỉ là sấm sét gầm gừ. Vẫn chỉ là bão táp cuồng ngông vùng vẫy..

Người ta mệt mỏi  đi vào giấc ngủ trong thấp thỏm đợi mong.

Rồi sáng hôm sau…

Trời lại quang mây. Và nắng lại thiêu lại đốt…

Những xác chết chưa chôn lại tiếp tục chịu đựng và chờ đợi tử thần đến mang về một thế giới khác.

Kiều Uyên Du

MỌI CHUYỆN RỒI SẼ QUA

Một ngày nọ, vua Salomon bỗng muốn làm bẻ mặt Benaiah, một cận thần thân tín, nổi tiếng khôn ngoan, thông thái. Vua bèn nói với ông : “Benaiah này, ta muốn ông mang về cho ta một món quà nhân lễ hội lần này, và ta cho ông 6 tháng để làm việc đó”

Benaiah trả lời : “ Nếu có một thứ gì đó tồn tại trên đời này, tôi sẽ tìm thấy nó và mang về cho ngài, thưa đức vua”. Nhà vua nói : “món quà đó có sức mạnh kì diệu. Nếu kẻ nào đang vui, nhìn vào nó sẽ thấy buồn, và nếu ai đang buồn nhìn thấy nó sẽ vui”. Vua Salomon biết rằng sẽ không đời nào có một món đồ như vậy tồn tại trên thế gian này, nhưng ông muốn cho người cận thần của mình nếm một chút bẽ bàng.

Mùa xuân trôi qua, mùa hạ đến nhưng Benaiah vẫn chưa có một ý tưởng nào để tìm ra một món quà như thế. Vào đêm trước ngày lễ, ông quyết định lang thang đến một trong những nơi nghèo nhất của kinh thành. Ông đi ngang qua một người bán hàng rong đang bày những món hàng trên một tấm bạt tồi tàn.

Benaiah dừng chân lại hỏi : “có bao giờ ông nghe tới một món đồ kì diệu làm cho người hạnh phúc nhìn thấy nó thì quên đi niềm vui sướng và người đau khổ nhìn thấy nó thì quên đi nỗi buồn không ?” Người bán hàng lấy từ tấm bạt lên một chiếc vòng giản dị có khắc một dòng chữ. Khi Benaiah đọc dòng chữ trên chiếc vòng đó, khuôn mặt ông rạng ngời một nụ cười.

Đêm đó toàn thành phố hân hoan, tưng bừng đón mùa lễ hội. “Nào ông bạn của ta – vua Salomon hỏi – ông đã tìm thấy điều ta yêu cầu chưa ? Tất cả cận thần đều cười lớn và cả Salomon cũng cười. Trước sự ngạc nhiên của mọi người, Benaiah đưa chiếc vòng ra và nói : “Nó đây thưa đức vua”. Khi vua Salomon đọc dòng chữ, nụ cười biến mất trên khuôn mặt vua. Trên chiếc vòng đó có khắc dòng chữ: MỌI VIỆC RỒI SẼ QUA

Vào chính giây phút ấy, vua Salomon nhận ra rằng tất thảy những sự khôn ngoan, vương giả và quyền uy của ông đều là phù du, bởi vì một ngày nào đó nó sẽ trôi đi, bất cứ một đế chế chính trị nào đó rồi cũng sẽ tàn, ông cũng chỉ còn là cát bụi và tất cả chỉ là vô thường.

Nhân câu chuyện này, Điều quý giá trong sự khôn ngoan để lại của người xưa đã giúp tôi rất nhiều là câu ngạn ngữ : «Mọi việc rồi đều sẽ qua đi». Nó đã giúp tôi trong việc vượt qua những điều bực dọc hàng ngày mà mỗi người trong chúng ta đều phải đối mặt, cũng như nhiều giai đoạn khó khăn trong đời tôi.

Sự thanh thản và hạnh phúc chân thật chỉ đến khi chúng ta nhận ra được nguyên lý này, không chỉ bằng cách hồi tưởng lại, mà là ngay trong khi chúng ta đang trải qua những khó khăn. Bằng cách này, chúng ta giữ được trạng thái quân bình giữa sự hỗn loạn.

Cách tốt nhất và hiệu quả nhất để duy trì một tâm hồn tươi đẹp và giữ cho chính mình không rơi vào cảm giác quá sức chịu đựng là luôn nhớ rằng, mọi việc – kể cả những việc rất khó khăn – rồi đều sẽ qua đi.

(Trích từ sách : Đừng mất thời gian vì những điều vụn vặt – Don’t Sweat the Small Stuff with your Family của Richard Carlson – Biên dịch : Nguyễn Minh Tiến)

Đinh Mỹ Chơn (chuyển tiếp)       

THƯ GIÃN CHO ĐỜI THÊM VUI (9)

BÀ XÃ ĂN KIÊNG…..

Một buổi chiều nọ ba cha con tôi đang chơi trò vật lộn ì xèo trên sàn nhà. Bà xã đi đâu về mặt hầm hầm, bước vào nhà ngồi cái phịch xuống ghế sofa, chưa kịp nóng đít bả đã đứng dậy vỗ tay bôm bốp ra hiệu yên lặng. Cha con tôi lập tức gĩa từ cuộc chơi kéo lại ngồi quây quần dưới chân mẹ nó, ngỏng cổ chuẩn bị nghe thông báo, cứ như là thánh chỉ đến thần dân rạp đầu đón nhận vậy.

– Cha con anh coi thử em dạo này có mập không ? Vừa nói bả vừa đứng dậy xoay một vòng 360 độ.

Tôi chưa kịp nói gì, thằng con đầu 6 tuổi đã nhảy cẫng lên la lớn :

– Mẹ mập, mẹ mập !

– Em có da có thịt tức em mạnh khỏe, không có bệnh tật gì thì tốt chứ có sao đâu – Tôi cẩn thận tránh dùng chữ mập, từ tốn nói mà trong lòng không biết chuyện gì sẽ xẩy ra tiếp theo

– Như vậy cha con anh cũng nói em mập ? Hèn chi tụi con Huệ, con Lan trong hãng cứ nói dạo này bà ăn cái gì mà mập qúa vậy, làm em tức muốn chết – Mặt bà xã bổng đanh lại – chê bà hả, bà sẽ đai-ét thử coi ai mập hơn ai !

Nói là làm, bà xã tôi sẽ đai-ét ! Ai đó trên đời này bảo diet là tốt cho sức khỏe, cho thân hình thêm đẹp chứ đối với cha con tôi đó là tai họa ! Bả mà đai-ét thì cha con tôi cũng phải đai-ét theo, cả nhà diet, người người diet, thế có chết không chứ ? Thật tình mà nói tôi khoái bà xã tôi có da có thịt, trông bả vừa khỏe mạnh vừa xếch xi. Da thịt bả láng mướt và mát lạnh đẹp muốn “chớt” luôn, vậy mà bả còn đòi diet cái nỗi gì. Cưới nhau đã hơn chục năm, mỗi lần ngồi ngắm cái tướng núng nính của bả đi đi lại lại dọn dẹp tôi còn xốn xang bấn loạn tinh thần nữa là. Trong lòng tôi bả là hoa hậu, là tiểu thơ, là những gì đẹp nhất, bả chiếm trọn trái tim tôi không còn một chỗ nào “vacancy” hết trơn. Bả như bây giờ tôi đã thấy đẹp lắm rồi. Hổng phải khoe khoang chứ tôi cũng có con mắt thẩm mỹ lắm. Hồi đó cả cái lớp ESL hơn hai chục cô, tôi chấm bả cái một liền. Hổng cần quyền qúi cao sang gì hết, cứ bình thường giản dị biết yêu chồng thương con là đủ rồi.

Sáng nay bả đi chợ về, cha con tôi hì hục khiêng vô một đống rau. Nhìn đống rau sắc mặt tôi đã xanh rờn rồi chưa nói tới việc xơi cả tuần cả tháng. Thực đơn cho gia đình tôi từ này trở đi có sự thay đổi lớn lao. Thịt, tôm, cá, cheese, bơ, sữa, trứng, Coke, Pepsi, Mountain Dew…. là những món rồi đây sẽ trở nên xa lạ với chúng tôi. Thay vào đó là rau và đậu hũ, đậu hũ và rau.

Mấy ngày đầu món canh hẹ nấu đậu hũ và đậu hũ sốt cà chua kể cũng ngon miệng, nhưng ăn suốt tôi đâm sợ luôn, sợ đến nỗi có đêm nằm mơ tôi thấy một tảng đậu hũ to bằng cái nhà từ trên trời rớt xuống cái bịch đè lên tôi, càng vẩy vùng, nó càng đè bẹp dí tôi xuống đến nỗi thở không ra hơi. Nghe tiếng tôi la ú ớ bà xã lay tôi dậy hỏi nằm mơ thấy cái gì mà la lối òm xòm?

Tôi sợ hết hồn hết vía, mồ hôi đầm đìa như tắm. Nghe bả hỏi nhưng tôi đâu dám khai thiệt, sợ bả bảo rằng tôi nói móc nói mỉa bả sanh chuyện không hay, thôi thì đành phải nói láo rằng tôi thấy một bầy ngựa… cái rượt tôi chạy trối chết.

Chưa hết tuần đầu, thằng con lớn tôi đã càm ràm, mẹ nấu món gì yucky qúa nó ăn hổng dzô. Tội nhứt là thằng em mới có 4 tuổi mỗi lần đút cơm là nó rùng mình phun ra hết. Đến tôi là sư phụ ăn cơm trộn bobo ngày trước ở khu tập thể sinh viên còn chịu hổng thấu huống chi tụi nó sanh bên này, ăn đồ Việt Nam đã là khó khăn rồi. Thương tụi nó qúa cỡ, chiều nào đi làm về tôi cũng lén mua pizza, Burger King, Big Mac, Happy Meal cho chúng. Có bữa cha con đang ăn pizza mẹ nó về, cả ba dzọt vô closet vừa ăn vừa trốn. Nghe mẹ nó kêu qúa nên tôi cho thằng lớn chạy ra do thám tình hình. Mẹ nó hỏi con ăn cái gì đó ? Nó nói ba dặn hổng được nói với mẹ là ba mua pizza. Tôi trong này nghe mà chưng hửng luôn.

Cái thằng, dặn đi dặn lại mấy lần cuối cùng cũng làm lộ bí mật. Biết tội, cha con tôi dẫn nhau ra nộp mình tự thú. Bà xã hổng nói tiếng nào, chỉ hỏi một câu có lệ là cha con anh ăn cơm chưa ? Thằng nhỏ 4 tuổi phang liền con ăn pizza rồi ngon lắm, mẹ muốn ăn hông ? Thiệt tình, dấu cái đầu lại lòi cái đuôi.

Tánh bà xã tôi cứng rắn và hơi ngang bướng, hễ bả muốn làm cái gì là làm cho bằng được mới thôi. Bả quyết định đai-ét là làm ngay lập tức không nấn ná chờ đợi gì hết. Mọi hôm đi làm, bả mang theo một gà mèn cơm đầy nhóc, còn thêm đủ lọai đồ ăn vặt, kẹo bánh, chuối khô, trái cây … thấy mà phát sốt, giờ chỉ mang theo chút xíu cơm còn ít hơn cơm tù cải tạo nữa. Tôi chợt lo lắng cho bả, công việc thì nặng nhọc, ăn uống mà không đầy đủ làm sao cáng đáng nỗi, đổ bịnh ra đó thì khổ. Đi làm mệt như vậy chưa đủ, về nhà bả còn lôi trong nhà kho cái máy đi bộ lau chùi sạch sẽ, ngày nào cũng đi đi chạy chạy làm cha con tôi mấy phen chóng mặt tối tăm mặt mày. Ngày xưa con đường từ phòng ngủ đến cái tủ lạnh vô cùng tấp nập, thậm chí lâu lâu còn bị kẹt đường nữa. Thằng em lấy ice cream, thằng anh lấy cool aid, bà xã lấy trái cây, rồi mới đến tôi, cái gì còn sót là tôi vơ hết, cả nhà tập trung ở phòng khách coi tivi. Ngày nay chẳng còn mấy ai còn “chạy” tuyến đường đó nữa, có chăng thì đó là phản xạ vô điều kiện đã xa xôi lắm rồi, đi ngang qua tiện tay mở ra xem có cái gì ăn được không, dù biết rằng cái tủ lạnh trống không Tháng đầu qua cái vèo, tôi thầm cầu mong cho bà xã bỏ cuộc không đai-ét nữa, nhưng dường như ý chí của bả quá sắt … máu. Tôi không còn cách nào khác là phải tuân theo mệnh Trời. Trời thương thì tôi nhờ, Trời ghét thì tôi chỉ có nước… khóc ròng. Đai-ét, đẹp đẽ đâu không thấy, tôi chỉ thấy bả càng ngày càng tiều tụy, mặt mày bơ phờ như thiếu ngủ, ít nói, ít cười, hay than mệt và không còn chơi chung với cha con tôi như trước nữa. Công bằng mà nói bả có xuống cân thiệt, nhưng tôi hoàn toàn không thấy bả đẹp thêm chút nào.

Biết như vậy như tôi nào dám nói ra. Tôi đã từng nếm trải những kinh nghiệm đau thương khi dám chê bà xã già và không đẹp, dù đó là lời nói chơi 100%, có hai thằng nhóc làm chứng. Lần đó bả giận tôi suốt một tuần, không thèm nói chuyện. Cuối cùng thì bả bảo em già và xấu anh lấy em làm gì ? Tôi còn biết làm gì hơn là xin lỗi, tỏ lòng sám hối ăn năn và dốc lòng chừa cãi.

Tính đến nay bả mất cũng gần 10 pound rồi.

Đã hơn mấy lần chúng tôi nghe lời xầm xì sau lưng, “Ối giời sao cô ấy ốm quá vậy ?” “Ốm thấy mà ghê ?” Có người còn hỏi thẳng vợ chồng tôi : “Ủa em bị bệnh hay sao mà ốm và xanh qúa vậy ?” Gặp tình cảnh như vậy tôi đành nhào ra đỡ đạn : “Dạ tại lo lắng chuyện con cái nhà cửa nên hơi ốm một chút.” Cái từ “hơi ốm” của tôi là nói thách đấy, chứ thật tình ốm qúa đi chứ còn gì nữa. Từ một người đàn bà có da có thịt, trắng trẻo, hồng hào trở thành một người tiều tụy xanh xao như dân kinh tế mới hỏi sao người ta không thắc mắc ? Tính đến nay bả mất cũng gần 10 pound rồi. Lắm lúc sẵn dịp đi chợ tôi muốn dẫn bả tạt ngang quầy thịt, biểu ông Mễ cắt giùm một cục mười pound, đưa cho bả coi bả đã mất chừng đó thịt biểu sao không ốm o gầy mòn. Còn nữa, bao nhiêu quần áo ngày trước phải xếp lại cho vào túi nylon nhét hết vào closet, rồi lại đi shopping mua quần áo mới.

Nói đến chuyện shopping cùng bà xã là tôi sợ đến tháo mồ hôi trán rán mồ hôi hột lận. Ngày trước khi chưa cưới nhau tôi còn gồng mình để đẹp lòng người yêu, bây giờ thiệt tình tôi chịu hổng nỗi nữa, chắc là có tuổi nên hay mắc cái chứng chóng mặt trong mấy khi đi shopping chăng ? Bả hay trấn an tôi rằng anh phải thông cảm chứ, phụ nữ tụi em mua quần áo cần phải lựa chọn nhiều mới được. Mà bả có chọn nhiều gì cho cam. Cha con tôi chờ cả buổi trời, bả lựa và thử có mười mấy cái áo và chục cái quần, cuối cùng bả quyết định mua cái xách tay on sale! Khổ nỗi mỗi lần đi đâu là cả gia đình phải đi chung, cái truyền thống tuy tốt đẹp nhưng làm khổ cha con tôi không ít.

Đã ba tháng sống lây lất trong thảm cảnh đai-ét, ba tháng sao mà nó dài hơn cả thế kỷ, ba tháng với biết bao cơn mộng mị kinh hoàng. Rồi dịp may cũng đến, giữa đường hầm tối tăm bỗng lóe lên một đốm sáng hy vọng. Tự nhiển tự nhiên bà xã tôi bị lở miệng, tiếng Mỹ hay gọi là canker sore ấy mà. Lúc đầu chỉ mọc sơ sơ vài nốt nhỏ bên trong môi trên, chuyện này bả vẫn thường hay bị, chỉ vài ba ngày một tuần là khỏi. Nhưng lần này không phải vậy. Càng ngày nó càng sưng to, sưng vều đỏ chót như cái hotdog vắt ngang làm tôi sợ hãi vô cùng. Lập tức đem bả đi bác sĩ. Đợi làm đủ loại kiểm tra xong, bác sĩ bảo bả bị thiếu vitamin ! Đó, tôi nói có sai, ăn uống không đầy đủ làm sao đủ sinh tố. Cái miệng bà xã tôi đang đỏ mọng đẹp như mơ thế kia ai chơi ác gắn cái hotdog bự tổ chảng lên môi của bả hỏi sao tôi không rầu !

Một buổi chiều nọ đang bận túi bụi với đống hồ sơ sổ sách của công ty, tôi phải giải quyết gấp, thời gian không còn nữa. Bỗng có tiếng phone reo, một cô từ đầu giây bên kia nói rằng : “Bà xã của anh bị xỉu trong khi làm việc, hiện đang nằm ở nhà thương Saint Edward, anh cần đến gấp”.

Tin như sét đánh ngang tai, tôi tung mớ hồ sơ đang cầm lên cái ào, tông cửa chạy như bay ra bãi đậu xe. Bà xã tôi nằm trên giường mắt lim dim coi bộ mệt mỏi lắm. Trông sắc mặt tiều tụy của bả tôi đau đớn như đứt bảy tám khúc ruột. Vừa giận đến tím gan vừa thương tràn trề, hỏi làm sao tôi chửi bả cho được. Vội vàng lấy khăn nhúng nước lạnh, Tôi cẩn thận lau hết những giọt mồ hôi còn sót lại trên khuôn mặt trái xoan của bả, vén những cọng tóc lòa xòa sang một bên cho gọn ghẽ, xong tôi ngồi bên cạnh nắm lấy tay bả như thầm muốn nói rằng có anh ở đây, em đừng sợ gì hết, anh sẽ bảo vệ em đến hơi thở cuối cùng … câu này hơi cải lương nhưng kỳ thực lòng tôi là như vậy đó. Tôi thầm cầu xin Chúa, Phật, Đức Mẹ, Ông bà tổ tiên hộ phù cho bả được bình yên vô sự là con … hứa sẽ làm nhiều việc thiện chớ ăn chay, con ăn hổng có nỗi nữa các Đấng ơi. Chợt một giọt nước mắt tràn ra từ khóe mắt bà xã, bả biết tôi yêu bả đến chừng nào. Bả mở mắt ra, tôi lo lắng hỏi liền :

– Em ra sao rồi ?

– Em đói bụng lắm anh à − bả thều thào

– Được rồi em muốn ăn gì anh đi mua ngay – Tôi sốt sắng

– Anh mua cho em tô phở, em thèm phở qúa – Bả trả lời

– Được rồi, em ăn phở gì ? – Dù biết bả thích loại phở nào nhưng tôi vẫn hỏi

– Cho em phở tái chín, bò viên

– Ok, anh đi ngay đây – Tôi đứng dậy định đi ra.

– Anh kêu thêm nước béo và giá trụng hành trần cho em nha – Bả nói tiếp

Tôi gật đầu đi vội ra cửa, bả còn ngoắc tay nói theo :

– Tô lớn nha anh…

(khuyết danh)

TỚI BẾN HỔNG CHỊU SANG SÔNG

Thân hoa giữa chốn chợ đời

Phất phơ trước gió như mời người xem

Ngắm em người ước kẻ thèm

Bao tên thơ thẩn bên thềm đòi yêu

Trai tơ ngấm nghé cũng nhiều

Nhưng em chê tuốt … hổng yêu anh nào

Mai mối nhiều đám ra vào

Nhưng em vẫn cứ làm cao…hổng them

Sợ người nói xấu kẻ dzèm

Rằng em cao số nên em ế chồng

Tới bến… hổng chịu sang song

Làm cho thầy mẹ uổng công đợi chờ

Sợ em mai mốt bơ vơ

Kiếm ông thầy tướng để nhờ thầy coi

Xem coi tướng số ra sao

Duyên phận thế nào mà vẫn long đong

Tên thầy Hỏa Điểu Ngũ Công

Tiếng tăm vang dội… thôn lường… gần xa

Các em ế chợ… về già

Thầy cho một quẻ… lấy ba, bốn chồng

Không biết thầy cho quẻ chi

Mấy bà góa phụ như ri kiếm thầy

Thân chủ tìm đến cả bầy

Lỡ thì goá bụa suốt ngày ghi tên

Thấy em xinh đẹp như tiên

Tại sao lận đận tơ duyên thế này

Mu rùa thầy vội sờ ngay

Sờ qua sờ lại ngất ngây cả long

Số em là số đắt chồng

Mà sao chịu cảnh phòng không lâu rày

Yếu huyệt phải tìm ra ngay

Nếu không trấn yểm có ngày vong thân

Tìm xa rồi lại tìm gần

Ẩn tướng nó chạy khi gần khi xa

Bực mình bảo cởi hết ra

Để thầy bắt quyết trừ tà cho em

Mắt thầy giờ đã kèm nhèm

Phải kề tận mũi mới xem tỏ tường

Bắt em ngồi ở trên giường

Thầy ngồi dưới đất cố giương mắt nhìn

Tìm huyệt như thể tìm kim

Giữa đám rơm rạ ẩn chìm xa xa

Một tay bắt quyết… mở ra

Ngón tay … điểm huyệt… lưỡi xoa … lá bùa

Em nào đâu có chịu thua

Đầu thầy em kẹp như cua bắt mồi

Ngộp thở gần muốn đứt hơi

Dãy dụa sắp chết về nơi… ông bà

Hoảng hốt em nhả thầy ra

Trông thầy thảm hại như … gà giây thung

Nhìn em thầy thấy ngượng ngùng

Chỉ xém chút nữa tiêu tùng đời trai

Mệnh này có một không hai

Hồng, Đào, Không Kiếp hãm tài cung Phu

Số này là số đi tu

Nếu không ở vậy đừng ngu lấy chồng

Nếu lấy thì lấy nhiều ông

Tên nào tên nấy không đầy con trăng

Hổng lấy mà cặp lăng nhăng

Nhân tình cả tá vẫn… chưa có chồng

Chi bằng em lấy đại ông

Bùa chú trấn yểm sẽ không việc gì

Mất công tìm kiếm làm chi

Lấy ông thầy bói còn gì sướng hơn !!!

VeSau

TRỜI SINH RA THẾ …!

Bụng bầu tắm nắng lá xanh

Em lim dim mắt, xung quanh ngắm nhìn.

Nhà kia có hai cô con gái lấy hai chàng trai, một chàng là thư sinh nhiều chữ nghĩa, chàng còn lại chỉ là một anh nông dân cục mịch. Một hôm bố vợ cùng hai chàng rể du xuân.

Đến bên bờ hồ ông bố hỏi hai chàng trai tại sao con vịt lại nổi được trên mặt nước. Chàng thư sinh bảo con vịt nổi vì nó có lông còn chàng nông dân thì chỉ nói : “Trời sinh ra thế”.

Chỉ vào con ếch ông bố vợ lại hỏi vì sao ếch biết kêu. Học sĩ cho rằng ếch kêu vì nó có cái họng to, trong khi chàng nông dân trẻ vẫn nói : “Trời sinh ra thế”.

Khi nhìn thấy một hòn núi đá bị chẻ ra làm đôi ở trên bờ hồ, ông bố lại hỏi hai chàng con rể vì sao nó nứt. Anh con rể thông thái bảo rằng đá nứt do tác động của nắng và mưa, còn anh kia vẫn trả lời đơn giản là trời sinh ra thế. Khi bị ông bố vợ chê là kém hiểu biết thì chàng nông dân bèn quay lại hỏi chàng thư sinh :

– “Cái thuyền có lông đâu mà nó cũng nổi, cái trống có họng đâu mà nó cũng kêu, còn “cái chỗ mà cậu từ đó chui ra” có bị mưa nắng gì đâu mà vẫn bị nứt vậy ?”.

Để Con Học Hỏi 

Cu Tèo hỏi bố : – Bố ơi, tại sao trái đất lại quay quanh mặt trời hở bố ?

Bố : – Bố không biết.

– Thế tại sao trái đất tròn mà người ở Nam Cực không bị lộn đầu xuống đất ?

– Bố cũng chịu thôi.

– Thế tại sao lại có nhật thực, nguyệt thực ?

– À, cái này thì bố càng không rõ.

Nghe đến đây, bà mẹ bèn đỡ cho ông bố :

– Tèo đừng hỏi thêm nữa, để cho bố nghỉ !

Bố : – Cứ cho nó hỏi, để con còn học hỏi thêm.

Khéo Tay

Hai người bạn thân gặp lại nhau, kể chuyện gia đình, anh Tư tâm sự :

– Vợ tôi nó vụng ơi là vụng, làm bếp thì chỉ mở đồ hộp rồi đổ ra đĩa thôi.

– Còn bà xã tôi làm bánh, ném chó, chó kêu cái ẳng.

Xin Vui Lòng Chạy Lùi Lại 

Năm Keo đi taxi về nhà, tài xế tính tiền :

– Hết 40 đồng, thưa ông.

Năm Keo :

– Vậy thì xin ông vui lòng chạy lùi lại một chút, vì trong túi tôi chỉ còn có 35 !

Cứ Yên Tâm 

Trong chuyến xe lửa tốc hành, ông khách đặt chiếc hòm to tướng lên dàn gác ngay trên đầu người đàn bà bên cạnh, thấy chiếc hòm rung rinh, bà ta lo ngại nói :

– Tôi sợ chiếc hòm này rớt xuống quá !

Ông hành khách thản nhiên:

– Bà đừng lo, không sao cả, vì toàn là đồ nặng, chẳng có đồ gì dễ vỡ bên trong !

Huề Cả Làng 

Nha sĩ nổi quạu nói với khách hàng :

– Tại sao lần trước ông trả cho tôi những 2 tờ bạc giả ?

Ông khách tỉnh bơ :

– Thì cũng huề thôi, vì ông gắn cho tôi toàn là răng giả !

Hàng Tốt 

Ông chủ tiệm ôm đầu than thở :

– Tôi bị tán gia bại sản rồi, hàng bị cháy rụi cả !

– Thế tiệm ông bán gì vậy ?

– Bán bình chữa lửa !

Ba lần kết hôn vẫn còn trinh

Ở vòng chung kết của một cuộc thi hoa hậu tại SEX 2012, ban giám khảo có đưa ra câu hỏi như sau để hỏi các thí sinh :

– Các Cô hãy sơ lược đôi chút về bản thân và nói lên mong ước của các cô trong tương lai ?

Sau khi nghe xong câu hỏi, các cô gái lần lượt trả lời. Cuối cùng, đến lượt của miss áo dài đến từ TP bia… Sau khi nốc một hơi hết lít bia rồi chậm rãi bước lên trả lời.

Miss : Dạ kính chào ban giám khảo và toàn thể khán giả, trước hết em xin kể một đôi điều về cuộc đời của em. Cuộc đời của em gặp nhiều gian truân lắm, em là chị cả trong nhà và đã trải qua 3 đời người tình em goi là chồng, mà đến hiện nay, em vẫn còn trinh…..

BGK : Xin cô giải thích rõ ràng hơn, đã qua 3 đời chồng mà làm sao cô vẫn còn trinh

Miss : Dạ thì có gì đâu, chồng đầu tiên của em làm ở trong Viện Bảo Tàng, châm ngôn của ổng lúc nào cũng là : ” Cấm sờ vào hiện vật “.

Đến anh thứ 2, ảnh làm ở Cục điều tra Hình sự, lúc nào miệng cũng nói : ” Giữ nguyên hiện trường”.

Còn thằng chồng thứ ba, anh chàng này thì làm ở Bộ Kế Hoạch & Đầu Tư, ông này thì khá hơn 2 người cũ của em, nhưng cũng suốt ngày chỉ có : “Vạch ra” … nhưng “không làm gì hết”, thiệt là tức chết ……!!

Chủ tịch cuộc thi MISS chen vào : Không Phập À ?

Cái ngàn vàng 1

Mẹ tiễn con gái đi học ở tỉnh sau khi nghỉ hè :

– Con phải hết sức giữ gìn đời con gái nhé. Nó đáng giá ngàn vàng đấy.

– Thế mà nó cho con mỗi 1 chỉ mẹ ạ.

Cái ngàn vàng 2

Mẹ nói với con gái :

– Mẹ không bằng lòng cho con lấy nó.

 – Nhưng thưa mẹ, con đã trót trao ngàn vàng – cái quý giá nhất đời mình cho anh ấy rồi….

Sau khi ngắm con một lúc, bà mẹ mặt đang tái bỗng thốt lên cười vui vẻ :

– Ồ…! Con làm mẹ hết hồn ! Mẹ cứ tưởng cái dây chuyền 1 lượng mẹ cho con đi tong mất. Hóa ra, con vẫn còn đeo trên cổ !

Gái trinh

Một bà mẹ có ba người con gái còn trinh tiết khi cho các cô về nhà chồng bà hơi lo cho chuyện gối chăn của các con nên giao hẹn các cô gửi cho mình một tấm bưu thiếp với lời lẽ ngắn gọn tượng trưng để báo cho bà biết về cuộc sống tình cảm của họ.

Cô thứ nhất gửi về cho mẹ một tấm thiệp với chữ “Nescafe”. Bà mẹ hơi bối rối, nhưng khi vào bếp nhìn lọ cà phê có in chữ “Good till the last drop”. (ngon tới giọt cuối cùng) bà hơi ngượng đôi chút nhưng hiểu và hạnh phúc cho con gáị

Cô thứ 2 lấy chồng sau 1 tuần gửi cho mẹ tấm thiệp có giòng chữ “Rothmans” có kinh nghiệm của lần trước bà đi tìm bao thuốc “Rothmans” và thấy câu trả lời “Extra Long. King Size” (dài hơn thông thường, kích cỡ nhà vua). Thêm một lần bà hơi ngượng nhưng vẫn hạnh phuc chung với con gái.

Cô thứ 3 lấy chồng sau một tuần không thấy tin tức gì bà hơi lo. Tuần thứ hai qua đi vẫn không có tin gì bà càng lo hơn, cuối cùng sau 1 tháng bà nhận được thiệp của con gái với giòng chữ “South African Airways” (Hàng không Nam phi). Nghe cái tên Nam Phi với Boeing khủng bà cảm thấy lo lo, tuy nhiên khi tìm kiếm trong tạp chí hướng dẫn du lịch bà còn thấy câu trả lời “Ten times a day, seven days a week, both ways.” (cả tuần, ngày 10 lần, hai chiều). Bà liền lăn ra bất tỉnh.

Lên Thiên đàng

Một cô gái xinh đẹp, ngây thơ tới cổng thiên đàng. Vị thiên thần gác cửa hỏi :

– Con còn là con gái đồng trinh chứ ?

–  Dạ, con cũng tin như vậy.

– Thế nào ? Sao con không xác nhận được đều đó mà chỉ tin thôi ? Con hảy vào phòng bên để khám nghiệm. Nếu thật còn đồng trinh thì con sẽ được nhập thiên đàng… nhưng ít nhất phải có bằng chứng.

Sau khi khám nghiệm, thiên thần phụ trách sản khoa tâu rằng :

– Nếu nói rằng cô gái này còn đồng trinh thì cũng được. Chỉ có điều hơi lạ lùng là khác với những cô gái khác, có bảy lỗ thủng nhỏ như lỗ kim trên màng trinh.

Thiên thần gác cửa ngạc nhiên :

– Sao ? Những lỗ thủng bằng lỗ kim thôi ư ! Chúng ta không thể đầy một thiếu nữ xuống địa ngục vì lý do đó. Ta chấp nhận cho cô gái vào Thiên đàng, nhưng trước khi qua cửa, con cho biết tên.

Cô gái bẽn lẽn : Tên con là Bạch Tuyết.

Phân biệt … trinh

Vào một ngày đẹp trời, hai chị em ruột là nàng Bạch Tuyết rủ Cô bé quàng khăn đỏ đi ra suối tắm. Hai cô nô đùa vui vẻ, vùng vẫy trong nước 1 cách say sưa. Khi tắm xong hai cô lên bờ và sửng sốt khi biết mình bị rơi mất màng trinh.

Hai cô đã vội vàng quay trở lại suôi để tìm. Sau một hồi tìm kiếm, cuối cùng cũng đã tìm lại thấy 2 màng trinh. Nhưng hai cái lại giống nhau không biết phân biệt thế nào. Sau một hồi suy nghĩ, Cô bé quàng khăn đỏ nảy ra một ý :

“Chị ơi không khó để phân biệt đâu !.. cái nào có thủng 1 lỗ to là của em, có 7 lỗ nhỏ là của chị.”

So Sánh 

Cu Tủn đi sở thú với chú Tư :

– Nhìn kìa, con khỉ đột kia trông giống chú như đúc…

– Không đựơc nói bậy, nói thế không tốt.

– Nhưng mà con khỉ đột kia nó có nghe hiểu gì đâu .

Luật Sư ?

– “Moa” sống đựơc là nhờ các lổi lầm của ngừơi khác…

– Vậy “toa” là luật sư hả ?

– Không, “moa” làm nghề bán thuốc tẩy.

Đau Ở Đâu 

Bác sĩ :

– Ông đau ở đâu, chỉ cho tôi xem ?!

Khách : – Tôi đau ở đây, đây, chỗ này, chỗ này, này, chỉ ở đâu cũng đau hết…

Bác sĩ : – Như vậy thì ông đau ở ngón tay rồi !

Yên Huỳnh post (tổng hợp)

Bản tin số 242 – Ngày 29/8/12

ÂN NHÂN CỦA

THUYỀN NHÂN VIỆT NAM

Thưa Quý-vị,

Dưới đây là thư của BS Dũng Trần ở Virginia gởi cho tôi cùng thân-hữu, Xin kính chuyển đến Quý-vị đễ tuỳ nghi, phổ-biến dùm tin-tức này.

Thưa bà con cô bác :

Hôm nay tôi có một người bệnh nhân, biết tôi là người gốc Việt Nam, đã kể cho tôi chuyện hơn 30 năm trước đây .

Anh Jamison, nay 55 tuổi, từng là thủy thủ của tầu LNG Capricorn, chuyên chở khí lỏng tới các nước vùng Đông Nam Á. Ngoài LNG Capricorn, còn có LNG Taurus, Leo… Thay vì đi lộ trình thường, các thuyền trưởng LNG đã cố ý đi qua ngã mà các boat people hay đi để cứu thuyền nhân, dù rằng lối này mất hơn 2 ngày .

Khoảng tháng 4-5/1981, LNG Capricorn đã gặp một thuyền hơn 100 người, gần chìm. Thuyền trưởng cho hạ cầu thang để các thuyền nhân đi lên. Vì anh Jamison trẻ lại khỏe nhất trên tầu, nên được cử xuống thuyền để đỡ các em bé lên, có lúc sóng lớn, tầu phải thòng võng xuống cho các em bé. Anh Jamison ráng ôm một bà mẹ có bầu lên nhưng không được, nên cũng phải đỡ bà lên võng. Tối hôm đỏ sản phụ sinh con, vì trên tầu Mỹ nên đương nhiên là công dân Mỹ ! Sau khi tầu cập bến, gia đình em bé này đã được chở đi ngay.

Còn các thuyền còn đi được thì LNG cho dầu và lương thực để tiếp tục đi. Anh Jamison ước lượng các LNG đã vớt khoảng 500 thuyền nhân. Anh hỏi là không biết các thuyền nhân này bây giờ ra sao. Tôi hứa với anh là tôi sẽ gửi thư đi, để nếu ai đã được các tầu LNG vớt, thì cho anh biết .

Anh Jamison nói là có nhiều hình ảnh chụp từ trên tầu LNG. Khi nào anh bình phục, tôi sẽ tới nhà anh, xin mượn hình, scan lại, để bà con coi. Anh còn vẽ hình tầu LNG, và tôi Google , tìm ra hình và vài tin liên quan .

Tôi gửi thư này đi, để chúng ta cùng cảm ơn hãng tầu LNG, thuyền trưởng và nhân viên trên tầu đã cứu vớt các đồng bào vượt biển tìm tự do. May rằng thư sẽ đến một số người đã được các tầu LNG cứu, viết thư cảm ơn. Em bé sanh trên tầu bây giờ cũng 31 tuổi rồi ! Chắc anh Jamison sẽ vui lắm khi nhận được thư. Kính (TQ Dũng)

Kính xin bà con chuyển dùm thư này tới các bạn quen biết

http://www.youtube.com/watch?v=ULKbkEJw5uI

Phú Lê (chuyển tiếp)

LỄ HỘI CÁT

LỚN NHẤT THẾ GIỚI

Hơn 40 nghệ sĩ điêu khắc cát đến từ khắp mọi quốc gia đã tụ hội về lễ hội điêu khắc cát lớn nhất thế giới. Lễ hội này được tổ chức trên bãi biển Blankenberge tại Bỉ với chủ đề chính là những câu chuyện cổ tích và các nhân vật hoạt hình. Năm 2012 cũng là dịp kỷ niệm 20 năm lễ hội cát thế giới được tổ chức.

Tác phẩm nào cũng đẹp và lộng lẫy. 

Hơn 10.00 tấn cát đã được sử dụng để tạo nên một không gian kiến trúc vô cùng đặc sắc. Tất cả các mô hình người, con vật, các tòa nhà, tòa lâu đài nguy nga đều được làm bằng cát. Từ những nhân vật hoạt hình nổi tiếng trong Walt Disney, các tòa lâu đài nguy nga, Xì Trum hay Tintin… đều xuất hiện.

Lễ hội này sẽ diễn ra cho đến cuối tháng 6. Một thành viên của ban tổ chức lễ hội cho biết : “Năm nay, lễ hội điêu khắc cát ở Blankenberge sẽ mang đến cho người xem những câu chuyện cổ tích của Grimm, hoạt hình Walt Disney, cũng như các nhân vật trong truyện của Charles Dickens và JK Rowling… Bạn sẽ được hồi tưởng lại những ngày tuyệt diệu của các năm tháng đã qua.”

iPad MINI SẼ RA MẮT

Chỉ sau sự kiện ra mắt iPhone thế hệ mới vào ngày 12/9 tới (dự tính), đến tháng 10, thêm một siêu phẩm nữa của Apple được “trình làng” chính là iPad mini, tờ All Thing Digital cho biết.

Một chiếc iPad nhỏ đã được đồn đại từ lâu, nhưng thời điểm ra mắt vẫn luôn là một dấu hỏi lớn. Tờ All Things Digital cho biết, đã có được nguồn tin uy tín về thời điểm ra mắt chiếc iPad Mini đó là vào tháng 10, đây là sự kiện lớn thứ 2 của Apple sau sự kiện ngày 12/9.

IPad 10 inch từ lâu đã thống trị thị trường máy tính bảng, nhưng nó đang phải đối mặt với sự thách thức ngày càng lớn từ các tablet giá rẻ như : Kindle Fire của Amazon, Google Nexus 7 và Samsung Galaxy tab.

Apple đang muốn thị phần của hãng sẽ lên đỉnh trong dịp Giáng sinh và năm mới. Tuy sự ra đi của Steve Jobs là một mất mát lớn, song Apple vẫn đang trên đà phát triển rất mạnh mẽ và không hề có dấu hiệu bị ngưng trệ, hay bị người dùng kêu ca.

Yên Huỳnh post

4 HOÀNG ĐẾ TÀN BẠO

TRONG LỊCH SỬ CHÂU Á

Bên cạnh công sức trị vì đất nước, những vị vua này lại có chính sách cai trị độc ác. Có rất nhiều vị hoàng đế được biết đến là những ông vua tốt, yêu dân như con, nhưng bên cạnh đó, trong lịch sử có không ít các vị vua tàn bạo, sát hại gia đình và người dân không thương tiếc.

1/. Tần Thủy Hoàng Tần Thủy Hoàng là hoàng đế đầu tiên của Trung Quốc từ năm 221 – 210 TCN, có công thống nhất đất nước nhờ chính sách xâm lược và cai trị tàn bạo. Nhiều sử sách ghi nhận rằng, ông là người độc ác, hay nổi nóng và tàn sát người dân của mình.

Trong năm đầu tiên nắm quyền, hơn 120.000 gia đình đã buộc phải di dời khỏi nhà của họ. Ông đốt gần như tất cả sách và văn thơ của Trung Quốc và đã có hàng trăm học giả bị chặt đầu, chôn sống. Ông là người đặt nền móng cho việc xây dựng Vạn Lý Trường Thành nhưng cũng vì công trình này mà có hàng trăm ngàn người đã bị bắt ép làm việc, bị chết đói và bị giết.

Tần Thủy Hoàng là người bị ám ảnh nhiều nhất về phương thuốc trường sinh bất lão. Ông đã chôn sống 480 thái y và các học giả khi họ không tìm ra cách để bào chế thuốc trường sinh bất lão.

Ngay cả khi sắp chết, ông cũng lo sợ rằng mình sẽ bị tấn công, do đó, ông ra lệnh cho xây dựng một lăng mộ rộng 4,8km với 700.000 người dân tham gia xây dựng. Hầu hết trong số họ đã thiệt mạng trong quá trình xây dựng lăng mộ. Tần Thủy Hoàng chết vào tháng 9 năm 210 TCN.

2/. Nữ vương Võ Tắc Thiên – Võ Tắc Thiên là hoàng hậu của Trung Quốc từ tháng 10 năm 690 đến tháng 2 năm 705. Bà là người phụ nữ duy nhất trong lịch sử Trung Quốc cai trị đất nước bằng uy quyền của mình.

Bà rất tàn nhẫn, độc ác, tàn bạo, trụy lạc và đã khiến cuộc sống của người dân rơi vào cảnh hỗn loạn. Hàng ngày, bà đều ban xuống các lệnh tra tấn, hành quyết và buộc người khác phải tự tử.

Bà cũng áp dụng các hình phạt này với cả thành viên trong gia đình bao gồm cháu gái, cháu trai và thậm chí là con gái mới sinh của bà. Ngay cả những người con trai của mình, bà cũng ra lệnh đưa đi lưu đày, và ép buộc một trong số những con trai mình tự tử.

Võ Tắc Thiên đã ra lệnh đầu độc, thắt cổ hàng ngàn người và thiêu họ ngay cả khi họ còn sống. Bà qua đời vào tháng 12 năm 705 ở tuổi 81.

3/. Thành Cát Tư Hãn Ông ta là người đứng đầu đế quốc Mông Cổ từ 1206 – 1227, xâm chiếm một vùng đất trải dài từ Á sang Âu. Ông và quân đội của ông phá hủy vô số các thành phố, giết chóc binh lính, thường dân và trẻ em. Nhiều người chết vì bị đổ kim loại nóng chảy vào mắt và tai. Trong một vụ thảm sát, 700.000 người đã thiệt mạng.

Tại một nơi khác, người nghèo bị chặt đầu và những người giàu bị tra tấn để tìm ra kho báu của họ. Phụ nữ đôi khi bị hãm hiếp trước mặt gia đình, hàng trăm ngàn người trở thành nô lệ. Ước tính, Thành Cát Tư Hãn và quân đội của ông đã giết chết 20 – 60 triệu người. Ông cũng đã giết chết anh trai của mình khi mới 13 tuổi vì tội đánh cắp một con cá.

4/. Tamerlane đại đế Tamerlane là người thống lĩnh Tây Á, Trung Á và Nam Á vào thế kỷ 14 và là người sáng lập ra Đế quốc Timurid và Triều đại Timurid. Ông tin rằng, mình chính là hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn.

Ông là một vị vua độc ác, tàn nhẫn, vô tâm và khát máu. Dưới sự cai trị của Tamerlane, nhiều người đã bị chặt đầu, đốt cháy, bị đâm chết và bị chôn sống. 200.000 người lính và thường dân đã thiệt mạng ở Ấn Độ. Khoảng 20.000 người dân ở Aleppo, 70.000 người Ifshan, 70.000 người Tikrit và 90.000 người ở Baghdad đã bị chặt đầu.

Vào một số dịp, ông đã ra lệnh treo cổ hàng ngàn người. Một chiếc tháp khổng lồ được làm từ đầu của kẻ thù đã được ông cho xây dựng. Ước tính, ông đã giết chết 15 đến 20 triệu người.

Yên Huỳnh post

HÔM NAY NGỒI

ĐỌC TRUYỆN TÀU

Một thời, chúng ta say mê đọc truyện Tàu. Những tác phẩm kinh điển như Tam Quốc Chí, Thủy Hử, Tây Du Ký, vân vân… liên tục như được đọc từ thế hệ này sang thế hệ kia.
Nơi đó, chúng ta say sưa theo dõi mưu lược của Khổng Minh Gia Cát Lượng, hồi hộp chờ xem Tào Tháo sẽ bày mưu phá trận ra sao, sôi sục theo từng cơn giận của Võ Tòng và rồi lo sợ khi Tam Tạng bị bầy ma nữ bắt giữ trong khi chờ Tề Thiên xuất hiện giải cứu. Nơi đó, chúng ta học quá nhiều trung nghĩa lễ trí tín…

Và rồi tới một thời truyện võ hiệp Kim Dung, với Cô Gái Đồ Long, Võ Lâm Ngũ Bá, Hiệp Khách Hành… Những võ phái với những cái tên xa lạ đột nhiên quen thuộc với bầy trẻ nít Sài Gòn… Trong sách cũng là những đời hiệp sĩ lừng lững bước đi, gặp chuyện nghĩa tất phải làm, nơi đó luôn luôn là thiện ác phân minh, hay phức tạp lắm thì là nỗi đau của Tiêu Phong hay là mối tình thơ mộng của Trương Vô Kỵ…

Bây giờ khác rồi. Bây giờ bọn trẻ có chuyện ngôn tình. Thực tế, thời này có quá nhiều khác biệt vơi thời của chúng ta. Nhưng tiểu thuyết ngôn tình là gì ?

Báo Sài Gòn Tiếp Thị trong bài viết tựa đề “Trào lưu đọc truyện ngôn tình Trung Quốc” đã ghi nhận : “Khoảng ba năm trở lại đây, truyện ngôn tình Trung Quốc ồ ạt vào thị trường Việt Nam. Dù có những cảnh báo của giới chuyên gia về tính chất uỷ mị, viển vông và cả gợi dục (cư dân mạng gọi những trang truyện ngôn tình gợi dục là “H văn”) ở dòng sách này, nhưng khó thay đổi thực tế rằng truyện ngôn tình đang trở thành sách gối đầu giường của phần lớn độc giả tuổi teen.

Nuông chiều thị hiếu người đọc tuổi teen, tiểu thuyết ngôn tình theo đuổi những môtíp quan hệ tình cảm tương phản : chàng đẹp trai, lạnh lùng, tài giỏi, giàu có sẽ gặp nàng nhà nghèo năng động cá tính, thông minh; nàng tiểu thư đa tình mơ mộng sẽ gặp chàng bụi bặm phong trần. Các mối tình thường đẹp như mộng và kết thúc có hậu. Văn ngôn đối thoại đề cao sự lém lỉnh, tinh quái và đầy ướt át. Bối cảnh thêu dệt rất bay bổng lãng mạn; chuyện xảy ra có thể là thời cổ, trung đại, hiện đại hay đi ngược thời gian…

Tựa sách khi dịch ra tiếng Việt thường là rút từ những câu thoại sến, gây sốc, câu khách. Ví dụ : Xin lỗi, em chỉ là con đĩ; Kiếp trước, em đã chôn cất cho anh (Tào Đình); Anh yêu, ly hôn đi (Phong Lai Đích Tây Lâm); Gấu ơi, giúp anh (Lam Tiểu Nhị); Anh có thích nước Mỹ không ?; Cho anh nhìn về em; Hoá ra anh vẫn ở đây; Anh sẽ đợi em trong hồi ức (Tân Di Ổ); Sam Sam đến đây ăn nào!; Yêu em từ cái nhìn đầu tiên (Cố Mạn); Gần như vậy xa đến thế (Tình Không Lam Hề); Chỉ yêu cây kẹo bông nhỏ (Hốt Nhiên Chi Gian)…”

Thế đấy, thế đấy… mỗi thời mỗi khác. Gần như cốt chuyện chỉ là mối tình 2 người, dính thêm người thứ ba là thành ly kỳ gay cấn… Làm chi vậy kìa? Thế là sẽ gây thêm nghiệp ở cõi này đấy. Tại sao không quan tâm chuyện trung nghĩa lễ trí tín như một thời xa xưa nhỉ ? Hóa ra, đọc truyện Tàu bây giờ rất là khác vậy.

Mỹ Nhàn post

ĐÀN ÔNG THĂNG TIẾN

TRÊN BÀN NHẬU ?

Cảnh các quán bia rượu, nhà hàng luôn đông đúc, đặc biệt sau giờ tan tầm ở các thành phố lớn như Hà Nội, Saigon đã trở thành quá quen thuộc với người dân tại Việt Nam. Tình trạng ăn nhậu đã trở nên rất phổ biến này ban đầu chỉ là một phần của văn hóa ẩm thực, giải trí, thậm chí trở thành thói quen không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày nhưng đang có tác động xã hội sâu rộng.

Việc các ông chồng đi nhậu sau giờ làm đã trở thành điều rất nhiều bà vợ chấp nhận và coi đấy là bình thường. Thậm chí hình ảnh cả gia đình quây quần bên bữa ăn tối mỗi ngày giờ đây trở thành ước mơ của nhiều bà vợ.

Tác động xã hội

Chi phí cho bia rượu, được trích thuật từ khảo sát của Viện Chiến lược và Chính sách Y tế, lên tới 1,3 tỷ lít bia và hơn 300 triệu lít rượu mỗi năm, tức là chi tiêu hàng năm lên tới cả nghìn tỷ đồng cho bia rượu. Đó là chưa kể tới những phí tổn cho bệnh tật từ rượu hay tai nạn giao thông do lái xe sau khi uống rượu.

Lý do cho các cuộc ăn nhậu rất đa dạng, vì công việc làm ăn, tiếp đối tác, ăn mừng sinh nhật, khao lương, đón người mới hay tiễn người cũ.

Ông Hùng, một trí thức, hiện làm giám đốc một công ty sửa chữa tàu biển tại Saigon, cho BBC hay mỗi lần đi ăn nhậu tiếp khách đối với ông là “cực hình” nhưng “vẫn phải đi vì nó là thủ tục nghiễm nhiên, chứ có báu gì đâu, uống vào có khi về đến nhà lại cho ra hết !”. Chị Thi, vợ một giám đốc công ty cung cấp thiết bị truyền thong tại Hà Nội cho biết chị và hai con thậm chí rất ngạc nhiên nếu có chiều nào đó thấy chồng về nhà ăn cơm với vợ con mà không đi ăn nhậu.

Điều làm phụ nữ này lo lắng là việc chồng thường lái xe sau mỗi lần đi nhậu sau giờ làm bất kể uống ít uống nhiều.

Một nghệ sĩ ưu tú khá nổi tiếng trong ngành điện ảnh không muốn nêu tên cho biết ông sẽ không bao giờ ra sống ở nước ngoài vì “ở nước ngoài làm gì chuyện hô một tiếng là chỉ chưa đầy một tiếng đồng hồ đã có thể tụ tập cả đám ăn nhậu như thế này !” Với ông, những buổi ăn nhậu là để xả stress sau một ngày làm việc căng thẳng.

Thị trường mở rộng

Theo một khảo sát nhanh với 5 ngàn phiếu trả lời do tờ báo mạng thực hiện và công bố hôm 15/8 thì “số người ra quán để ‘giải quyết công việc’ chỉ chiếm 16%, trong khi gần 40% số người được hỏi nhậu theo kiểu ngẫu hứng, nghĩa là thích thì ra quán, không có mục đích gì cả”.

Tờ báo này cũng viết “Ngoài ra, cứ 10 người thì có gần một người thừa nhận ra quán chỉ để trốn việc nhà”.

Vẫn theo nghiên cứu này thì mức độ tiêu thụ rượu bia gia tăng trong cả nước là kết quả của nhiều yếu tố, mà chủ yếu là do mức sống tăng, tập quán truyền thống và thêm vào đó là thị trường rượu bia mở rộng.

Hiệp hội sản xuất rượu whisky của Scotland (SWA) cho biết xuất khẩu sang Việt Nam đạt gần một triệu bảng mỗi năm, và Việt Nam được coi là một thị trường mới nổi được ưu tiên cao đối với ngành công nghiệp rượu Whisky.

Tại Việt Nam luôn có tình trạng chuốc rượu hay khích nhau uống để chứng tỏ nam tính với những tiếng hô “trăm phần trăm” và “zô zô” ồn ào để rồi nhiều người gục bên bàn nhậu vì say xỉn.

Có một số phụ nữ cho biết buộc phải tham gia các cuộc nhậu vì làm doanh nghiệp nên không thể không có mặt khi tiếp đối tác làm ăn, hay vì muốn đi theo để “kèm chồng cho chồng đỡ say xỉn” hoặc buộc phải đi theo chồng hay người yêu những khi không thể từ chối.

‘Thăng tiến trên bàn nhậu’ ?

Nhiều người nước ngoài khi tới Việt Nam làm việc đã không khỏi ngạc nhiên khi được mời uống bia rượu vào bữa trưa – tức vẫn trong giờ làm việc.

Ở Anh chẳng hạn, dân công sở cũng thường có thói quen chiều thứ Sáu tan làm rủ nhau ra quán uống một hai ly bia chừng 1-2 tiếng đồng hồ để thư giãn và họ tin rằng nó tạo cơ hội có quan hệ tốt hơn với đồng nghiệp.

Hiện vẫn còn những ý kiến khác nhau về “văn hóa nhậu” tại Việt Nam. Một số cho rằng nếu chỉ uống 1,2 ly để tiếp khách hay giải stress thì có thể chấp nhận được, rồi “nam vô tửu như kỳ vô phong” – đàn ông mà không uống rượu thì không thể hiện nam tính, và chỉ khi uống theo kiểu thách đố đến say xỉn mới thôi thì như thế mới có thể coi là một tệ nạn.

Trong khi một số khác thì lập luận rằng nếu ai cũng biết kiềm chế khi uống và biết dừng khi nên dừng thì đã không có chuyện phải bàn về “văn hóa nhậu”.

Phải chăng lề thói văn hóa của Việt Nam từ xưa theo kiểu “miếng trầu làm đầu câu chuyện” đã dẫn tới “chuyện làm ăn là phải nói trên bàn nhậu, thăng quan tiến chức, lương bổng …cũng trên bàn nhậu” như hiện nay ?

Và để thay đổi được “văn hóa nhậu” này có lẽ sẽ là cả một quá trình lâu dài, đòi hỏi có những thay đổi căn bản cách nhìn nhận trong xã hội về giá trị hạnh phúc gia đình, quan điểm về vai trò của người vợ và người chồng ở nhà và trong xã hội, và có thể cần tới cả những quy định hạn chế chi phí cho việc tiếp đãi khách của các công ty. (theo Hà Mi)

Xuân Mai post

KHÓC BẠN LẤY VỢ

Hình như ông nào cũng…. khóc bạn lấy vợ, rồi mình cũng… lây thì phải ? hahaha !!

Tiêu đời trai trên nước Mỹ

Đời trai nay đã thôi rồi

Tin mày lấy vợ, rụng rời lòng tao.

Đang bay nhẩy, sướng biết bao

Tự nhiên mày lại… vướng vào vợ con.

Vợ con là cái lồng son

Đường vào thì có, chẳng còn đường ra

Một mai nó đá mày ra

Làm thân hom-lết còn gì nam nhi 

Con gái là cái quái gì

Mà mày mê mệt, phải đi vào tròng

Thuyền quyên là bẫy anh hung

Bao người đã chết, mày không thấy à ?

Ngày xưa mày vẫn ba hoa

Thằng nào ngu mới… bị sa lưới tình.

Giờ đây cáo đã thành tinh

Đã thấy bẫy sập, còn xin được vào.

Độc thân thì sướng biết bao

Bao nhiêu con gái đua nhau chào mời.

Bây giờ đã vợ con rồi

Đi, về khai báo, chạy trời khỏi mưa ?

Tiền lương tháng tháng phải đưa

Tiền xài mua sắm, phải thưa với bà

Thân trai rửa bát, quét nhà

Vợ kêu thì dạ, còn ra nỗi gì.

Bạn bè rủ nhậu, chẳng đi

Sợ về nằm đất, tối thì điếc tai

Hu hu, ơ hỡi  mày ơi

Kể như tao khóc cho đời bạn tao.

(Tạ Đăng Việt, D.D.S.)

LÝ SỰ… CÙN CỦA QUÝ BÀ

1/.- Anh, anh thấy cái Phương xinh không ?

– À, nhìn cũng xinh xắn đấy.

– Hả, anh muốn chết à, mà khen nó xinh trước mặt em. Có tình ý với nó thì đi yêu nó luôn di.

2/.- Anh, anh thấy cái Phương xinh không ?

– Không, anh thấy bình thường.

– Ðừng có mà dối lòng, nó xinh như thế mà chê à ? Sao không dám thừa nhận ? Anh thích nó hả ?

3/.- Anh, anh thấy cái Phương xinh không ?

– À, nhìn cũng xinh xắn đấy nhưng với anh thì em là người tuyệt vời nhất.

– Uả, sao tự dưng lại nịnh nọt. Khai mau, mới làm gì có lỗi hả ?

4/.- Anh, anh thấy cái Phương xinh không ?

-…

– Anh, anh thấy cái Phương xinh không ?

-…

– Ô sao không trả lời ? Trả lời mau lên không em đập chết bây giờ !

SAO QUẢ TẠ CHIẾU… TƯỚNG

Bà nọ về nhà, đi nhẹ nhàng vô phòng ngủ, thấy dưới mền ló ra 4 bàn chân.
Nổi nóng, bà vợ lấy khúc gỗ, đập lia lịa vào cái mền một hồi. Hả hê con giận, bà đi vào phòng ăn kiếm ly rượu giải sầu.

Nhưng bà hết hồn khi thấy ông chồng đang ngồi đọc báo ở đó. Ông chồng ngó lên, nhẹ nhàng nói:

– Em à, bố mẹ em mới đến thăm, anh nhường chỗ cho hai ông bà nghỉ, em chào ba má chưa ?

BẠN QUÁ ĐÔNG

Khách du lịch phàn nàn với chủ khách sạn :

– Có một con rệp chết trên giường khiến tôi không sao ngủ được…

– Chỉ vì một con rệp chết ư ?

– Không hẳn vậy, mà vì bạn nó đi đưa đám đông quá !

MẤT HỨNG

Hai vợ chồng đi shopping một lát thì vợ quay lại thấy chồng mất tiêu. Lo quá, bà gọi điện thoại di động… một hồi… thì nghe tiếng ông chồng. Bà hỏi :

– Anh đang ở đâu vậy ?

– Em còn nhớ cái tiệm nữ trang mà 5 năm trước hai đứa mình vào, có chiếc vòng kim cương quá đẹp, lúc đó anh không có tiền mua cho em không ?

– Nhớ … em nhớ ..

– Anh còn hứa là sẽ có một ngày nào đó, anh sẽ mua nó cho em.. nhớ không ?

– Dạ … em nhớ chứ ..

– Anh đang ở trong cái quán nhậu kế bên cái tiệm đó đó… em.

Yên Nhàn (tổng hợp)

7 KỲ QUAN THỜI CỔ ĐẠI

7 KỲ QUAN THẾ GIỚI THỜI CỔ ĐẠI

1.  Vườn treo Babylon.

2.  Hải đăng Alexandria.

3.  Tượng thần Zeus ở Olympia (chúa tể của các vị thần Hy Lạp, do nhà điêu khắc vĩ đại Pheidias tạc).

4.  Đền Artemis ở Ephesus, Tiểu Á (Thổ Nhĩ Kỳ) được dựng lên để tôn vinh nữ thần săn bắn và thiên nhiên hoang dã của Hy Lạp.

5.  Lăng mộ vua Maussollos tại Halicarnassus, chúa tể xứ Caria vùng vịnh Percic.

6.  Bức tượng khổng lồ thần mặt trời Helios, do người Hy Lạp dựng lên tại một cảng gần đảo Địa Trung Hải, có tên tượng Rhodes.

7.  Kim tự tháp Giza, một cấu trúc bằng đá khổng lồ gần thành phố cổ Memphis, nơi chôn pharaoh Ai Cập Khufu. Kim tự tháp Giza là kỳ quan duy nhất trong bảy kỳ quan cổ đại còn tồn tại đến hôm nay. Kỳ quan biến mất sau cùng là hải đăng Alexandria.

I/. VƯỜN TREO BABYLON :

Vườn treo Babylon, một kiệt tác tiêu biểu của nền văn minh Lưỡng Hà thời cổ đại và là một công trình kiến trúc tráng lệ độc nhất vô nhị. Vườn treo Babylon được xây dựng năm 3000 trước CN, bên bờ nam sông Euphrates và cách thủ đô Baghdad, Iraq, 90km về phía Nam. Từ xa xưa, Babylon đã được mệnh danh là “Cửa Thần” rất linh thiêng. Trước khi cuộc chiến tranh Iraq nổ ra, mỗi năm có hàng chục vạn tín đồ, khách du lịch trên khắp thế giới đổ về đây cúng lễ cầu phúc và du lịch thưởng ngoạn kỳ quan tráng lệ bậc nhất thế giới. Nhân loại có lẽ còn phải mất nhiều công sức giải mã mới có thể lý giải nổi câu hỏi, tại sao ở một vùng đất phần lớn là sa mạc, chỉ có dầu mỏ và ruồi vàng với những người nông dân, lại có thể xây dựng được công trình kiến trúc tráng lệ và bền chắc tồn tại cùng thời gian suốt 5.000 năm qua ?

Babylon từng là thủ đô của Vương quốc Babylon cổ đại và là trung tâm thương mại sầm uất nhất vùng Tây Á, nơi “con đường tơ lụa” đi qua. Tổng thể khu vườn treo Babylon là những tường thành hùng vĩ, cung điện nguy nga tráng lệ, đường sá, cầu cống… phản ánh trình độ thẩm mỹ, óc sáng tạo, đặc biệt kỹ thuật tính toán xây dựng rất cao của những người nông dân Lưỡng Hà cổ đại. Chính vì vậy, vườn treo Babylon được công nhận là một trong 7 kỳ quan của thế giới và là niềm tự hào không chỉ của nhân dân Iraq mà còn của cả nhân loại. Và hiện nay, không chỉ các nhà khảo cổ học mà nhân loại tiến bộ trên thế giới đều hết sức lo lắng và bất bình trước thông tin báo chí đã nêu gần đây : Vườn treo Babylon ở Iraq, một trong 7 kỳ quan thế giới đã tồn tại hơn 5.000 năm nay có nguy cơ bị biến mất.

II/. HẢI ĐĂNG ALEXANDRIA

Hải đăng Alexandria do triều đại Ptolemy xây dựng trên đảo Pharos ngoài khơi thành phố Alexandria, thủ đô Ai Cập một thời, nơi có thư viện Alexandria nổi tiếng. Alexandria được mệnh danh là hòn ngọc lấp lánh của Địa Trung Hải, thành phố lớn thứ hai và là cảng chính của Ai Cập hiện nay. Alexandria do kiến trúc sư Dinocrates (332 – 331 TCN) xây dựng tại vị trí của một ngôi làng cổ Rhakotis, theo ý nguyện của Alexander đại đế để bất tử hóa tên ông. Không bao lâu sau, Alexandria trở thành trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế và tri thức của Ai Cập. Đến nay, nhiều di tích vẫn còn tồn tại, Alexandria là thủ đô của triều đại Ptolemy với vô số tượng đài, đền miếu. Nơi đây mọc lên hải đăng Alexandria và thư viện Alexandria. Các nhân vật lịch sử của Ai Cập, La Mã như Cleopatra, Julias Caesaz, Mark Antony và Octavian đều có dính líu ít nhiều đến thành phố này.

Alexandria nằm ở tây bắc sông Nile, trải dài trên dải đất hẹp giữa Địa Trung Hải và hồ Mariut. Nó có hai xa lộ lớn và một đường xe lửa đẫn đến Cairo. Thành phố là nơi nghỉ mát mùa hè nổi tiếng nhất Trung Đông. Hải đăng Alexandria có lẽ là kỳ quan duy nhất trong bảy kỳ quan cổ đại được sử dụng vào mục đích phục vụ cuộc sống hằng ngày. Nó hướng dẫn cho tàu bè đi lại an toàn tại cảng lớn. Đối với các kiến trúc sư thì hải đăng còn là công trình xây dựng cao nhất thế giới, và là tấm gương phản chiếu ánh sáng vào ban ngày (ban đêm sử dụng đèn báo) vẫn còn là điều bí ẩn đối với nhiều nhà khoa học. Theo sử sách, tấm gương nhìn thấy từ xa 50 km.

Không lâu sau khi Alexander đại đế mất, vị tướng Ptolemy Soter của ông lên nắm quyền tại Ai Cập. Chính Ptolemy đã đôn đốc việc xây dựng thành phố Alexandria, thủ đô mới. Ngoài khơi thành phố là đảo nhỏ Pharos. Đảo nối với đất liền bằng con đê biển Heptasđaion, được xem là cảng thứ hai của thành phố. Tàu buồm đi lại tấp nập quanh và trong khu vực cảng, nên cần có một ngọn hải đăng hướng dẫn để không mắc cạn tại dải bờ biển thoai thoải không dốc. Ptolemy vạch kế hoạch xây dựng ngọn hải đăng vào năm 230 TCN, nhưng khi ông mất nó mới hoàn tất dưới triều đại của Ptolemy Philadelphus, con trai ông. Sostratus, người cùng thời với Euclid, là kiến trúc sư trưởng công trình, nhưng bản tính toán chi tiết hải đăng và các công trình phụ trợ do thư viện Alexandria làm. Hải đăng được dâng hai vị thần cứu rỗi : đó chính là Ptolemy Soter và Berenice, vợ ông. Trong hàng thế kỷ, hải đăng Alexandria, còn được gọi là đèn biển Pharos, phát huy hiệu quả rất tốt trong việc hướng dẫn tàu bè. Hình ảnh của nó được in trên cả các đồng tiền La Mã.

Khi người Arập chinh phục Ai Cập, họ hết sức khâm phục Alexandria và sự giàu có của thành phố này. Nhưng giới cầm quyền mới dời thủ đô đến Cairo để cắt đứt sự nối kết với Địa Trung Hải. Tấm gương trên ngọn hải đăng được tháo ra một cách bất cẩn, nên không thể lắp đúng vào chỗ cũ. Năm 956 SCN, một trận động đất gây thiệt hại nhẹ cho ngọn hải đăng. Hai trận động đất mạnh sau đó (1303 và 1323) tiếp tục gây thiệt hại lớn cho công trình. Năm 1449, thương buôn Arập nổi tiếng Ibu Battuta nói là ông ta không thể đi vào công trình đã đổ nát này. Chương cuối cùng của hải đăng Alexandria khép lại vào năm 1480, khi phó vương Ai Cập Mamelouk quyết định củng cố hệ thống phòng thủ của Alexandria, bằng cách xây một công sự kiên cố ngay trên vị trí của ngọn hải đăng và sử dụng chính các vật liệu lấy từ nó. Mô tả chính xác, chi li nhất về hải đăng Alexandria là mô tả của thương buôn Arập Abou-Haggay Al- Andaloussi. Ghé thăm hải đăng năm 1166, ông nêu chi tiết sự tráng lệ của lớp đá cẩm thạch bao quanh ngọn tháp. Theo ông thì tấm gương trên ngọn hải đăng có công dụng đốt cháy các chiến thuyền của kẻ thù trước khi nó lọt vào cảng. Ngoài phần bệ, hải đăng có ba tầng : khối vuông thấp nhất cao 55,9 m có lõi tròn, khối giữa cao 27,45 m và khối trên cùng cao 7,3 m có hình tròn. Chiều cao tổng cộng của ngọn hải đăng là 117 m tính từ cột mốc số 0 là mực nước biển, tương đương ngôi nhà cao bốn mươi tầng. Trên nóc hải đăng là tượng thần Poseidon (thần biển cả, có bộ râu trắng, tóc trắng mắt xanh với dải băng cuốn quanh đầu như thần Zeus).

Poseidon là con của thần Cronus và thần Rhea. Cronus đã nuốt Poseidon vào bụng, nhưng lại nhả ra để ông lớn lên với các anh chị khác. Khi Cronus bại trận, Poseidon trở thành vua biển cả và vua các hòn đảo. Có lúc Poseidon được mô tả như vị thần trần truồng, tay cầm đinh ba mà thần bão Cyclopes đã cho ông. Cây đinh ba biểu tượng cho vương quốc Poseidon, vương quốc thứ ba của vũ trụ (tức biển cả).

III/. TƯỢNG THẦN ZEUS Ở OLYMPIA

Đây là bức tượng của vị thần mà các cuộc thi tài thể thao Olympic cổ được tổ chức để tôn vinh ông. Tượng đặt tại thành phố cổ Olympia, nằm ở bờ biển phía tây Hy Lạp hiện nay, cách thủ đô Athens 150 km. Theo lịch Hy Lạp cổ bắt đầu từ năm 776 TCN thì các cuộc thi đấu cũng bắt đầu từ năm đó. Bức tượng Zeus kỳ vĩ do kiến trúc sư Libon thiết kế và được xây dựng vào năm 450 TCN. Vào thời điểm nước Hy Lạp đang hùng mạnh, ngôi đền kiểu Doric quá tầm thường, đơn giản nên cần có các sửa đổi lớn. Giải pháp là đặt một bức tượng khổng lồ trong đền. Điêu khắc gia Athens được giao nhiệm vụ “thiêng liêng” này.

Nhiều năm sau đó, ngôi đền thu hút số du khách và người hành hương đến từ khắp nơi trên thế giới. Bước sang thế kỷ II TCN, bức tượng được tu sửa chút ít, rồi đến thế kỷ I SCN, hoàng đế La Mã Caligula tìm cách đưa bức tượng về Rome, nhưng giàn giáo do các nhân công của Caligula xây dựng bị đổ sụp. Sau khi các cuộc thi đấu Olympic bị cấm năm 391 SCN, hoàng đế Theodosius cũng ra lệnh đóng cửa đền Zeus. Sau đó, thành phố Olympia bị động đất, trượt đất và ngập lụt tấn công. Đến thế kỷ V SCN, đền lại bị lửa làm hư hại. Nhưng trước đó, bức tượng đã được những người Hy Lạp giàu có chuyển đến Constantinople, và tượng đứng vững tại đây cho đến khi nó bị lửa làm thiệt hại nặng vào năm 462 SCN.

Hôm nay, bức tượng không còn lại gì ở ngôi đền cũ, trừ đá và vụn cát cùng nền và những chiếc cột bị gãy của ngôi đền. Điêu khắc gia Pheidias bắt đầu xây dựng bức tượng vào năm 440 TCN. Vài năm trước đó, ông đã phát triển một kỹ thuật đặc biệt dùng cho việc xây dựng các bức tượng bằng vàng và ngà. Kỹ thuật này sử dụng các khung gỗ lắp ghép như giàn giáo, để phủ những tấm kim loại quý hoặc ngà voi lên mặt ngoài công trình. Hiện di tích nhà xưởng của Pheidias ở Olympia vẫn tồn tại. Nó bằng kích cỡ và theo đúng hướng với ngôi đền Zeus cũ. Tại xưởng này, Pheidias cho đẽo, khắc những phần khác nhau của tượng trước khi mang đến đền lắp ghép. Nhưng khi bức tượng hoàn tất, ngôi đền lại quá nhỏ so với nó. Một số người cho rằng bức tượng không cân xứng với chiều cao đền. Thần Zeus ở trong tư thế ngồi, nếu ông đứng lên, ngôi đền sẽ bị bung mái. Nhưng cũng có người khen ngợi ý đồ của Pheidias. Chính nguy cơ ngôi đền bị bung mái khi “vua các vị thần” đứng lên đã tạo cảm hứng cho nhiều nhà thơ và sử gia. Bệ của tượng có bề rộng 6,5 m, cao 1 m. Tượng cao 13 m tương đương với ngôi nhà bốn tầng. Bức tượng cao đến nỗi các du khách chỉ có thể mô tả về chiếc ngai vàng thần Zeus ngồi, chớ không thấy rõ chi tiết cơ thể ông. Phần chân của chiếc ngai được trang trí bằng các tượng nhân sư và những vị thần chiến thắng có cánh. Thần Apollo, Artemis và con gái của thần Niobe đều có mặt. Theo ghi chép của sử gia Hy Lạp Pausanias thì trên đầu của thần Zeus là chùm tia Olive. Tay phải ông giữ biểu tượng chiến thắng làm bằng vàng và ngà voi. Tay trái ông giữ một quyền trượng có con ó đậu ở đỉnh.

VÀI DÒNG VỀ THẦN ZEUS : Là con của thần Kronos và thần Rheia, Zeus theo gương cha : lật đổ chính người sinh thành ra mình. Khi Kronos giết cha (thần Uranus), người cha có điềm báo là ông cũng sẽ bị con trai bức hại. Do sợ hãi và tham lam, Kronos nuốt những đứa con đầu ngay lúc chúng ra đời, nhưng khi Rheia sinh hạ đứa con thứ sáu Zeus, bà đánh lừa chồng bằng cách đưa cho ông cục đá. Kronos nuốt cục đá và lời nguyền trở thành hiện thực. Zeus được nuôi nấng bí mật cho đến ngày đủ lớn để phục kích Kronos lúc đi săn. Ông đá Kronos vào bụng mạnh đến nỗi người cha già nua đã ói ra hòn đá và năm đứa con (cả trai và gái) chưa tiêu hóa được. Đó là các thần Demeter, Hades, Hestia, Hera và Poseidon. Sau đó, Zeus tuyên bố là lãnh tụ của các vị thần, thống trị các đỉnh núi và những đám mây. Ông cưới Hera xinh đẹp, chị mình. Thần Zeus có nhiều mục tiêu phải hoàn thành trước khi cuộc chiến thành Troy kết thúc. Người Hy Lạp bao vây thành Troy được sự hỗ trợ của các vị thần Hera, Athene, Poseidon, Ares và Aphrodite nên trước sau gì họ cũng thắng. Trong lúc đó, thần Zeus đối mặt với cuộc nổi loạn trên đỉnh Olympus. Sau khi thần Aphrodite và thần Ares bị thương ở thành Troy, Zeus ra lệnh cho tất cả các vị thần đứng ngoài cuộc chiến. Riêng ông sẽ đích thân đến ngọn Ida để chỉ huy cuộc dẹp loạn và tạo uy thế cho Hector yêu dấu, chủ nhân Ida.

Có nhiều con các vị thần tham gia cuộc chiến thành Troy. Con trai Sarpedon của Zeus chết tại chiến trường trên tay đứa con trai khác là Aias. Aphrodite bị thương khi bảo vệ thần Aineias. Askalaphos, con trai của Ares, cũng bị giết và cả Achilleus, con trai nữ thần Tethys, cũng phải hy sinh. Có lúc cuộc chiến thất thế cho người Hy Lạp đến nỗi Hera buộc phải ra tay, bằng cách đánh lừa Zeus để bí mật tung Poseidon vào cuộc chiến giúp người Achaian (Hy Lạp). Nhưng tiếng thét của Poseidon làm Zeus thức dậy khi đang ngủ, ông phát hiện ra Hera đánh lừa mình bằng nhan sắc và một đêm hoan lạc, phát hiện ra sự cứng đầu không vâng lời của Poseidon. Ông cử Hera đến Olympus đưa Iris và Apollo về. Iris được giao nhiệm vụ qui cố hương cho Poseidon, còn Apollo được giao trách nhiệm đẩy lùi người Achaian về tàu của họ như một cách trừng phạt. Thỏa mãn với những gì đạt được, Zeus ra lệnh cho các vị thần tập trung ở Olympus. Ông cho phép họ chọn một trong hai bên giao chiến và tham gia chiến trường nếu thích. Sau đó, Odysseus, vua vương quốc Ithaca, đã dùng mưu mẹo đánh chiếm thành Troy (ngựa gỗ thành Troy) với sự giúp đỡ của các vị thần; nhưng sự kiêu ngạo của Odysseus đã làm cho thần Poseidon tức giận và phải mất mười năm ông mới qui được cố hương.

IV/. ĐỀN ARTEMIS Ở EPHESUS

Artemis không chỉ đơn thuần là một ngôi đền mà còn là công trình kiến trúc đẹp nhất thế giới, theo đánh giá của các triết gia cổ đại. Đền được xây dựng để tôn vinh nữ thần săn bắn và thiên nhiên hoang dã của Hy Lạp, vị trí nằm tại thành phố cổ Ephesus gần thị trấn đương đại Selcuk, cách thành phố Izmir (Thổ Nhĩ Kỳ) 50 km về phía nam. Dù nền ngôi đền có từ thế kỷ thứ VII TCN, Artemis chỉ mới được xây dựng sau đó 150 năm. Công trình đặt dưới sự bảo trợ của vua Croesus và do kiến trúc sư Hy Lạp Chersiphon thiết kế. Đền làm bằng đá cẩm thạch, trang trí bằng nhiều tượng đồng, sản phẩm của các thiên tài điêu khắc Pheidias, Polycleitus, Kresilas và Pheadmon. Đền vừa là chợ, vừa là cơ sở tôn giáo. Trong nhiều năm, nó là nơi tụ hội của các thương buôn, du khách, nghệ sĩ và các vị vua đến để bày tỏ lòng tôn kính đối với nữ thần và dâng tặng đồ tế lễ. Các khai quật khảo cổ mới đây cho thấy nhiều tặng vật được chôn vùi, từ các tượng thần Artemis làm bằng vàng và ngà voi đến các vòng, nhẫn, lạc… có gốc gác xa như Ấn Độ và vùng Persca (Iran hiện nay).

Đêm 21/07/356 TCN, một người đàn ông Herostratus đốt đền với mục đích bất tử hóa tên mình cùng ngôi đền. Có một sự trùng hợp kỳ lạ, cũng vào đêm đó, Alexander đại đế ra đời. Về sau, sử gia Plutarch viết rằng: “Do quá bận chăm sóc sự ra đời của Alexander, nên nữ thần Artemis không rảnh tay bảo vệ ngôi đền thờ của mình”.

Hai thập niên sau, đền được phục hồi. Khi Alexander chinh phục Tiểu Á, ông góp sức xây dựng lại ngôi đền. Vào thế kỷ thứ I sau thiên chúa giáng sinh, thánh Paul ghé thăm Ephesus để truyền đạo thiên chúa, nhưng người dân vùng này không có ý định bỏ rơi nữ thần của họ. Đến năm 262 SCN, đền lại bị người Goth phá hủy lần nữa. Dù các cư dân Ephesus thề sẽ khôi phục lại ngôi đền nhưng đến thế kỷ thứ IV, do đa số họ đã chuyển sang đạo thiên chúa, nên đền không còn ý nghĩa tôn giáo nữa. Sau đó, thành phố Ephesus bị bỏ hoang cho đến thế kỷ XIX mới được khai quật. Công trình đào bới đã làm lộ nền ngôi đền và con đường dẫn đến đền.

Bước thứ hai là phục hồi một số cột để phục vụ du khách. Nền đền Artemis có hình chữ nhật giống như đa số ngôi đền khác vào thời kỳ đó. Tuy nhiên, khác với các công trình cùng tuổi, Artemis có tầm nhìn bao quát các khu vườn rộng. Các bậc thềm quanh đền dẫn đến những cây cột đá cao 20 m. Có 127 cây cột đá, và tất cả đều được trang trí rất đẹp. Sàn đền rộng 80 m x 130 m. Trong đền chứa nhiều công trình nghệ thuật kể cả bốn bức tượng đồng cổ Amazon, do các nghệ sĩ lỗi lạc nhất vào thời đó khắc. Theo sử sách, thì khi thánh Paul đến thăm đền, nó còn có cả những cây cột mạ vàng và nhiều tượng bằng bạc. Ngoài ra, còn nhiều bức tranh vẽ tuyệt mỹ. Dù không có chứng cứ lưu lại về bức tượng Artemis đặt giữa ngôi đền, nhưng người ta tin rằng nó đứng ở đó cho đến lúc đền bị đốt.

VÀI NÉT VỀ NỮ THẦN ARTEMIS : Artemis và Apollo là hai con của thần Zeus và thần Leto. Cả hai đều sinh ra tại đảo Delos và gắn liền số phận với một loại cung tên : Apollo cung cong, còn Artemis cung bạc. Artemis là một trong ba người không bị mê hoặc bởi thần Aphrodite (hai người kia là Hestia và Athene). Artemis là bạn với loài người. Nữ thần nhảy múa khắp vùng thôn dã trong đôi xăng đan bạc để bảo vệ các loài thú hoang, nhất là thú nhỏ. Nàng cưỡi chiếc xe ngựa bạc băng qua bầu trời và bắn tên xuống mặt đất dưới ánh trăng. Giống như các thần Olympia khác, Artemis không thể bảo vệ được người thợ săn thiện xạ Shamandos trước mũi giáo của người Menelao trong trận đánh thành Troy. Khác với Apollo, Artemis không thiện chiến, nhưng bà có thể trừng phạt và giết chóc theo lệnh của Zeus. Trong trường ca THE ILIAD, Leto, mẹ của Artemis, bị một phụ nữ Niobe lăng nhục. Niobe khoe khoang rằng, bà có mười hai đứa con trong khi Leto chỉ có hai. Để trừng phạt Leto, Apollo giết sáu đứa con trai của bà ta, còn Artemis giết sáu đứa con gái. Trong trường ca THE ODYSSEY, Odysseus kể câu chuyện về hòn đảo kỳ thú Syria, nơi không có chỗ cho cái đói và tuổi già. Khi thần số phận quyết định các cư dân cao quí của hòn đảo phải chết, Artemis và Apollo ra tay bằng những mũi tên không gây đau đớn. Artemis thường bị nhập chung với nữ thần La Mã Diana.

V/. LĂNG MỘ VUA MAUSSOLLOS

TẠI HALICARNASSUS,

CHÚA TỂ XỨ CARIA,

VÙNG VỊNH PERCIC

Halicarnassus là thủ đô của một vương quốc nhỏ nằm bên bờ Địa Trung Hải. Năm 353 trước CN, vua Mausolus qua đời. Nữ hoàng Artemisia cũng là em gái của ông (theo tục lệ ở Caira thì người cai trị vương quốc phải kết hôn với em gái mình) quyết định xây một khu mộ thật lớn cho người chồng của mình. Ngôi mộ trở thành một công trình kiến trúc nổi tiếng thế giới, đến nỗi cái tên Mausolus sau này đồng nghĩa với từ “ngôi mộ”. Ngôi mộ cao bằng một tòa nhà 14 tầng. Vua Mausolus không nổi tiếng, nhưng chính ngôi mộ đã khiến cho cả nhân loại biết đến ông.

VI/. BỨC TƯỢNG KHỔNG LỒ THẦN MẶT TRỜI HELIOS

Pho tượng nữ thần Tự Do mặc áo choàng, tay đưa ngọn đuốc lên cao tại cảng New York, một hình ảnh biểu trưng của nước Mỹ có lẽ không mấy xa lạ với chúng ta. Nhưng điều mà ít ai biết chính là bức tượng nữ thần Tự Do này còn có một tên gọi khác – “Modern Colossus” (Colossus = tượng khổng lồ), như là âm vang gợi nhớ đến một bức tượng khổng lồ khác cùng kích cỡ (khoảng 110 feet = 33m, cao tương đương một tòa nhà hiện đại với 10 tầng), đã tồn tại cách đây hơn 2000 năm, cũng ở ngõ vào của một cảng biển sầm uất thời cổ đại và cũng là một biểu tượng của tự do: “Colossus of Rhode” – Tượng khổng lồ ở đảo Rhode.

Đất nước Hy Lạp cổ đại bị chia cắt bởi nhiều thành bang nhỏ. Trên đảo Rhode bấy giờ có 3 thành bang : Ialysos, Kamiros và Lindos. Năm 408 trước CN, các thành bang này kết hợp lại thành một lãnh thổ thống nhất với thủ phủ tại Rhodes. Thành phố phát triển hưng thịnh và có mối quan hệ chặt chẽ về thương mại và kinh tế với nước liên minh Ptolemy (Ai Cập). Năm 305 trước CN, những người thuộc phe Antigonids của Macedonia, cũng là đối thủ của Ptolemie, bao vây Rhodes, tìm mọi cách phá vỡ liên minh Rhodes – Ai Cập. Nhưng họ đã không thể xâm nhập vào thành phố. Hiệp ước hòa bình đạt được vào năm 304 trước CN, những người phe Antigonid mở vòng vây, rút lui, để lại nhiều trang thiết bị quân sự dồi dào của họ. Nhằm tổ chức kỷ niệm ăn mừng chiến thắng và thống nhất, người dân đảo Rhodes đã bán vũ khí đó, dùng tiền dựng nên bức tượng khổng lồ hình vị thần mặt trời – Helios.

Bức tượng khổng lồ đứng kiêu hãnh, uy nghi ngay cửa ngõ vào cảng, sải chân giang rộng và tàu bè có thể đi lại bên dưới. Mỗi sáng sớm, mặt trời chiếu vào làm pho tượng đồng ánh lên rạng rỡ một biểu tượng của tự do và thống nhất : sau khi Alexander Đại Đế chết, các tướng lĩnh của ông đã không kiểm soát được vương quốc quá rộng lớn mà đế quốc Macedonia vừa chiếm được (gồm Tiểu Á, vùng Lưỡng Hà, Ai Cập, Ba Tư, Afganistan và Turkestan). Tướng sĩ tranh nhau quyền hành, đế quốc tan rã và Macedonia suy từ đó. Có ba trong số các tướng sĩ của Alexander đã thành công trong việc chia vương quốc này là Ptolemy (Ai Cập), Seleucus và Antigons.

Bức tượng thần mặt trời khổng lồ này do nhà điêu khắc nổi tiếng Charles ở Lindos thực hiện. Tượng đúc bằng đồng, đế tượng làm bằng đá cẩm thạch. Tượng cao 33m. Riêng ngón tay cái vài người ôm không xuể, thật là một pho tượng khổng lồ. Công trình tạc tượng Helios kéo dài 12 năm và hoàn thành vào năm 282 trước CN. Trong nhiều năm, bức tượng được đặt trên đảo Rhodes, cửa ngõ ra vào Ðịa Trung Hải của nước Hy lạp cổ. Cho đến khi xảy ra trận động đất kinh hoàng năm 266 trước CN, cả thành phố bị thiệt hại nặng và pho tượng thần mặt trời khổng lồ bị gãy ở đầu gối, phần yếu nhất của pho tượng.

10 thế kỷ trôi qua, bức tượng khổng lồ vẫn nằm trong đống đổ nát. Năm 654 sau CN, Arab đánh chiếm đảo, họ tháo gỡ phần còn lại của pho tượng và bán cho một người Do thái ở Syrie. Người ta kể rằng, cần đến 900 con lạc đà để chở những bộ phận của bức tượng khổng lồ đến Syrie. Từ đó đến nay, không ai còn nhìn thấy bức tượng này nữa. Tính từ lúc xây dựng cho đến khi bị phá hủy, nó chỉ tồn tại có 56 năm, nhưng được xếp vào 1 trong 7 kỳ quan cổ đại của nhân loại.

VII/. KIM TỰ THÁP GIZA

Phía bờ tây sông Nile, sừng sững những Kim tự tháp hùng vĩ. Hình dạng độc đáo với nền móng vững chắc tiếp đất và chóp nhọn chọc trời là minh họa cho một sự kết hợp giữa trình độ kỹ thuật cùng sự cam kết tâm linh của người Ai cập cổ đại. Thời hoàng kim về xây dựng kiến thiết của Ai cập kéo dài trong suốt thời kỳ thứ 3, từ 2868 đến 2613 trước CN. Mục đính chính của các Kim tự tháp để làm hầm mộ chôn cất các pharaoh và các quan chức cao cấp của triều đình. Nền móng của nền quân chủ Ai cập dựa trên sự bất tử của các pharaoh, do vậy xác nhận sự tồn tại của “kiếp sau”. Kim tự tháp vừa để tôn vinh các pharaoh, vừa là nơi các vị này chờ đợi trước khi được gia nhập vào thế giới mới. Người Ai cập cổ đã đạt tới trình độ hoàn thiện trong kỹ thuật ướp xác để gìn giữ cơ thể sau khi chết, và thường trữ đầy trong các Kim tự tháp những tiện nghi sinh hoạt cung đình mà các pharaoh tỏ ý nguyện muốn đem theo vào kiếp sau.

Kim tự tháp vĩ đại nhất, cũng là kiến trúc duy nhất còn tồn tại đến ngày nay trong số 7 kỳ quan của thời cổ đại, là Kim tự tháp Giza, xây dựng trong thời kỳ cai trị của Cheops, tên Hy lạp của Vua Khufu (2545-2520 trước CN). Tại thời điểm nó được xây dựng, Kim tự tháp này cao cỡ 482 phút, trải rộng một diện tích chừng 13 hec-ta và nặng ít nhất 6.5 tỉ tấn. Napoleon tính toán rằng lượng đá xây nên Kim tự tháp này là trên 2.300.000 khối, có thể tạo nên một bức tường dày 1 phút bao quanh Pháp với độ cao 10 phút. Tầm vóc khổng lồ của Kim tự tháp Giza cũng được tương xứng bởi thiết kế chính xác. Mỗi cạnh của nền tháp dài 776 phút, chênh lệch nhau không quá 7.9 inches; các khối đá được xếp chồng khít tới mức không thể nhét xen kẽ giữa chúng, dù chỉ một tờ giấy mỏng. Các cạnh tháp chạy hầu như chính xác từ bắc tới nam, đông qua tây, sai lệch chừng 4 độ không hơn. Vào thế kỷ 19, khi các nhà khảo cổ học phát hiện ra các Kim tự tháp, sức hấp dẫn của chúng đã làm nảy sinh cả một trường phái ngụy khoa học.

Giới theo “Kim tự tháp học” miệt mài làm việc hòng tìm ra một “đơn vị Kim tự tháp”, một đơn vị chuẩn đã cho phép người Ai Cập cổ đại xây dựng nên các công trình với sự chính xác siêu phàm. Các chuẩn như pi, khối lượng và chu vi TD, khoảng cách từ TD tới Mặt trời đã được gợi ý. Một số thì đề đạt giả thuyết các Kim tự tháp đóng vai trò các văn bản đá, ghi chép mã hóa toàn bộ lịc sử chi tiết của thế giới con người. Các nhà Kim tự tháp học thậm chí còn dài dòng phóng đại giải thích quy trình các công trình vĩ đại này được xây dựng. Một giả thiết được phổ biến khá rộng rãi trong thế kỷ 20 là các tảng đá khổng lồ ấy đã được chuyên chở tới TD bởi các sinh vật ngoài hành tinh, thả xuống vị trí hiện tại của chúng bằng các UFO…

Sự thật, đằng sau sự tạo thành của các Kim tự tháp không hề kém phi thường, có chăng nó chỉ không mang tính chất hoang đường như các giả thuyết trên. Chu trình xây dựng bắt đầu với việc đẽo các tảng đá được mang về từ các mỏ khai thác cách đó chừng 600 dặm xa, tại Aswan. Đa số các nhà sử học cho rằng, các tảng đá này được thả trôi theo bè xuôi sông Nile trong mùa lũ, mặc dù không có bằng chứng khảo cổ nào của các bè gỗ lớn đủ để chuyên chở các khối đá có kích cỡ khổng lồ ấy. Đá được chuyển về tại công trình, việc đầu tiên của các nhân công lao động là tạo ra một mặt bằng móng bằng cách dẫn nước ngập vào bãi, tạo nên một hệ thống kênh rạch; sau đó đào sâu cho tới khi mực nước khắp nơi cân bằng. Vòng đai ngoài được thiết lập, rồi cắt tới mức độ thích hợp, đôi khi một vài tảng đá cực lớn được giữ nguyên. Một con đường lề bằng đá được làm bên bờ sông Nile, nhằm phục vụ cho quá trình bốc dỡ. Các khối đá được kéo trên các xe trượt trụ trên các trục lăn từ vị trí cách xa chừng nửa dặm tới công trường. Tại đây, đội thợ nề và thợ đẽo đá sẽ bào nhẵn bề mặt đá, chuẩn bị cho việc xây dựng. Khi đã sẵn sàng, những khối đá khổng lồ được lăn vào vị trí, một quá trình gây nhiều tranh cãi, bởi thực tế là vòng xe và dây tời kéo phải 800 năm sau đó mới xuất hiện tại Ai cập. Một vài học giả cho rằng, người Ai Cập cổ đã chế ra các bậc cầu thang tam cấp dài theo độ cao dần của công trình với một độ nghiêng cố định; số khác gợi ý về một cầu thang xoắn dài theo tòa tháp. Đá được đẩy tới đầu cầu thang, rồi đặt vào trên nền vữa lỏng, bỏ yên tĩnh cho tới khi khô.

Đường cầu thang này được tháo dỡ dần sau khi đỉnh tháp đã được dựng xong, và những người thợ nề có trách nhiệm mài nhẵn bề mặt đá trên đường đi xuống. Lượng nhân công đã tham gia xây dựng nên tòa tháp này được nhà sử học Hy Lạp Herodotus dự đoán là 100 000 người, thay thế sau mỗi giai đoạn 3 tháng, trong suốt 20 năm, dù đây có lẽ là một con tính hơi bị cường điệu hóa. Một trại lính cổ đại phát hiện được ở gần đó có sức chứa 4000 người, và có vẻ như có tới vài trại lính ở xung quanh tòa tháp. Nhân công xây dựng không phải là nô lệ, công việc không bị ép buộc lao dịch, gây ra sự nghi ngờ với các truyền thuyết từ Kinh thánh về các quản đốc hà khắc dã man. Một bản khắc trên tường một hầm mộ một pharaoh tuyên bố rằng, ông ta chưa bao giờ đánh một công nhân đủ mạnh để làm người đó ngã.

Mai Trung Tín post

LÀM THẾ NÀO ĐỂ BIẾT

TRỜI SẮP CÓ BÃO

Cách dự báo thời tiết của dân gian

Đông Nam có chớp chéo nhau

Thấp sát mặt biển hôm sau bão về

Chớp xa xuất hiện liên tục, đều đặn, gây nhiễu âm, cản trở hoạt động của máy thu thanh. Hướng có chớp sáng nhất là hướng đang có bão hoạt động. Đối với vùng ven biển nước ta, trước khi bão tới thường xuất hiện chớp ở hướng Đông – Nam. Kinh nghiệm này đã được đúc kết thành ca dao nói trên.

Một kinh nghiệm khác của những người đi biển, hoặc trong cả thành phố: Bầu trời quang đãng, không khí oi bức, ngột ngạt, lặng gió kéo dài vài ba ngày, sau đó xuất hiện mây ti tích (một loại mây tầng cao ở độ cao khoảng 7km trở lên, gồm các đám, màn hoặc lớp mây mỏng không có bóng, cấu thành từ những phần tử rất nhỏ có hình dạng trông như những hạt hay nếp nhăn) hội tụ về một hướng chân trời. Đây là dấu hiệu cho thấy bão hoặc mưa lớn có thể đang di chuyển từ hướng đó tới.

Giải thích về mặt khoa học, mưa lớn thường xảy ra khi xuất hiện 2 điều kiện. Một là nhiệt độ mặt đất cao, hai là không khí phải có độ ẩm cao. Không khí đã nóng lại ẩm, khiến cho nước ở bề mặt trái đất không thể bốc hơi được. Mồ hôi trên cơ thể người cũng khó khô đi. Khi ấy ta cảm thấy oi bức ngột ngạt khó chịu. Tuy nhiên, không phải lúc nào ta thấy oi bức là chuẩn bị có mưa bão đâu nhé.

Chuồn chuồn bay thấp thì mưa,

bay cao thì nắng, bay vừa thì râm

Đây là kinh nghiệm đúc kết của ông cha ta dựa vào quan sát từ năm này qua năm khác. Nhưng sau này chúng lại được giải thích hết sức khoa học. Về mặt vật lý, cánh chuồn chuồn được cấu tạo rất mỏng, còn khi trời sắp mưa độ ẩm trong không khí là rất cao. Chính vì vậy, hơi nước ngưng tụ thành những hạt li ti, đậu trên cánh của chuồn chuồn khiến chúng không thể bay cao được. Ngoài ra, tập tính sinh sản của chuồn chuồn cũng có thể dùng để giải thích hiện tượng này. Chuồn chuồn thường đẻ trứng vào mùa mưa và đẻ trên mặt nước. Chính vì vậy, ta thường thấy chúng lượn lờ trên mặt nước mỗi khi mưa sắp đến.

Khi thấy dấu hiệu của mưa bão sắp đến, các teen cũng đừng lo vì dựa vào một vài đặc điểm, chúng ta cũng có thể biết được liệu khoảng bao giờ thì mưa bão đến.

Cơn đằng Đông vừa trông vừa chạy,

Cơn đằng Nam vừa làm vừa chơi”.

Do Việt Nam nằm trọn trong vùng nhiệt đới đồng thời nằm ở rìa phía Đông Nam của phần châu Á lục địa, giáp với biển Đông nên chịu ảnh hưởng trực tiếp của kiểu khí hậu gió mùa mậu dịch, thường thổi ở các vùng vĩ độ thấp. Gió mậu dịch thường xuất hiện vào mùa hè (mùa mưa bão), thổi về hướng Đông ở tầng có độ cao trên 2 cây số phía trên xích đạo. Tuy nhiên, mây dông thường ở trên cao hơn nữa và đó là khu vực hoạt động của gió mậu dịch ngược, tức là thổi về hướng Tây (đây là hệ quả của sự tuân thủ theo định luật bảo toàn động lượng trong chuyển động quay). Chính vì vậy, khi xuất hiện mây đen từ phía Đông (mây sẽ bị thổi đến chỗ mình đứng) nên đương nhiên phải chạy thôi nếu không muốn ướt hết người.

Bên cạnh đó, còn loại gió Tây Nam (gió Phơn hay còn gọi là gió lào) hoạt động mạnh vào mùa Hè. Đương nhiên, gió thổi mây bay về hướng Nam thì ta chẳng phải lo gì dính mưa vì đám mây mưa sẽ di chuyển ngày càng xa.

Ráng vàng thì nắng, ráng trắng thì mưa.

Ráng vàng thì gió, ráng đỏ thì mưa.

Ráng mỡ gà, ai có nhà thì chống.”

Ráng” là đám mây phản chiếu ánh mặt trời về buổi sáng hay buổi chiều. Thông thường, trước khi bão, bầu trời quang đãng, trong xanh và nắng nóng, oi bức ngột ngạt, sau đó có xuất hiện mây “ti” (thường xuất hiện khi tâm bão còn cách xa 1.000km). Mây ti ở rìa bão thường xuất hiện từng chùm, sợi trắng như lông tơ hoặc như đuôi ngựa, hình chữ V, hoặc như một dải lụa mỏng, thường có mầu vàng mỡ gà.

Ngoài ra còn rất nhiều kinh nghiệm, teen nhà mình hãy thử kiểm chứng trong mùa mưa bão này nhé.

Mây xanh thì nắng, mây trắng thì mưa”

“Mây kéo xuống biển thì nắng chang chang,

Mây kéo lên ngàn thì mưa như trút”

“Mống đông vồng tây, chẳng mưa dây cũng bão giật”

“Mau sao thì nắng, vắng sao thì mưa”

“Tháng bảy heo may, chuồn chuồn bay thì bão”

“Én bay thấp mưa ngập cầu ao,

Én bay cao mưa rào lại tạnh”

“Chuồn chuồn bay thấp thì mưa,

Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm”

“Ếch kêu uôm uôm, ao chuôm đầy nước“…

Yên Huỳnh post