VĂN HÓA VĂN NGHỆ (19)

NGHĨ VỀ NƠI CHƯA ĐẾN

lln’y a plus d’après

À Saint-Germain-des-Prés

Plus d’après-demain, plus d’après-midi

Il n’y a qu’aujourd’hui.

Quand je te reverrai

À Saint-Germain-des-Prés

Ce n’sera plus toi,

Ce n’sera plus moi

Il n’y a plus d’autrefois.…

Không còn mai sau đâu nhé

Ở Saint-Germain-des-Prés

Không còn trưa mốt em ghé

Những trưa hè ấy phai rồi

Chỉ có hôm nay mà thôi.

Khi anh lại được gặp em

Ở Saint-Germain-des-Prés

Em đã không còn là em

Anh cũng chẳng còn là anh

Ngày xưa sẽ không còn nữa.

Tháng Mười.

Tôi đang nghe lại Il n’y a plus d’après, do Juliette Gréco hát với lòng tiếc nuối khi nghĩ đến những tháng ngày ngắn ngủi nắng gió thênh thang bên ngoài khung cửa sắp qua rồi và thời gian sắp tới sẽ tự giam cầm chính mình trong ngôi nhà bởi thời tiết lạnh lùng se sắt thật khắc nghiệt của mùa Đông đăng đẳng kéo tới thật mau trên từng táng lá vừa đổi sang đỏ vàng thưa thớt trên cây.

Một bản nhạc quen dễ lay động niềm xúc cảm và câu chuyện chấp nối khi tôi nhớ lại lời mời mọc ân cần của một tình bạn tựa như tri kỷ mặc dầu anh không gần gủi nhưng vẫn hiện diện thường xuyên bằng những chuyện trò thân thiết từ bên kia bờ đại dương mờ mịt : “Hãy bỏ đó, lên máy bay và đến Paris một chuyến”. Tôi thích du lịch và may mắn được đi đây đó với ông ngoại từ những ngày còn rất nhỏ. Tuy nhiên, càng lớn lên đối với tôi du lịch không phải chỉ là đi thăm thú ngắm nghía những thắng cảnh hay cao ốc đền đài nổi tiếng mà chủ yếu là vì ở đó có bạn có bè, có những người cùng tâm cùng ý dễ dàng chia sẻ mọi chuyện hoặc có khi gặp nhau không nói gì chỉ quanh quẩn bên nhau thôi cũng thật thú vị, nhưng lời mời của anh tôi chưa thực hiện được vì cứ phải bị lúng túng trong vùng lưới bủa vây của đời sống, bị trói buộc hết chuyện này đến chuyện nọ nên đành lỗi hẹn …

Có lẽ tôi cũng giống hầu như những người Việt Nam xưa, trong lòng lúc nào cũng có chút Paris, trong lòng thường có chút hoài niệm bảo tồn “ xưa sao, nay vậy” vì thế trong suốt mùa hè vừa qua khi có dịp đi ngang qua nhiều tiểu bang, ghé nhiều nơi nhưng xúc cảm nhất là một lần được đến quán Café du Monde trong khu Pháp cổ tại New Orleans mà tôi đã âu yếm viết dưới tựa bài Phố Nhạc Xanh những dòng chữ thật lãng mạn.

Như mới đây bài tạp ghi mới nhất của bà Quỳnh Giao cũng tỏ lộ với tâm cảm na ná: “… Nếu sau này mà tòa tổng lãnh sự hoặc cơ quan văn hóa Pháp lại hợp tác với thành phố Paris để tổ chức cuộc triển lãm tại Los Angeles hay Hollywood, có lẽ nhiều người trong chúng ta cũng sẽ đi xem. Ðến nơi để nhớ lại thời xa xưa với những cuốn phim đen trắng về “Anh Gù Nhà Thờ Ðức Bà” hay Trà Hoa Nữ “La Dame Aux Camélias” hoặc loạt phim từ đen trắng đến tô màu về “Ba Người Ngự Lâm Pháo Thủ” lấy từ truyện võ hiệp của Alexandre Dumas…”

Nhắc đến kinh đô ánh sáng. Tôi biết, ngày mai hay ngày kia hay một hôm nào đó tôi sẽ đến Paris và thăm anh. Chắc chắn trong những ngày lưu lại anh sẽ đưa tôi đi một số nơi, nhưng có một nơi quyến rũ tôi hơn khích động trí tò mò của tôi và sẽ bắt anh phải đưa tôi tới… chính là khu phố Saint-Germain-des- Prés có những quán café huyền thoại đã đi vào những tác phẩm nổi tiếng.

Khu phố Saint-Germain- des- Prés được biết đến không phải chỉ vì mang tên của một tu viện giàu có do vua Childebert I xây cất từ thập niên 540 vì thế tu viện đầy quyền lực này cũng chịu bao thăng trầm do các biến động lớn nhỏ của đất nước mà khu phố này được biết nhiều hơn nhờ vào từng vòng nhà mọc chung quanh vào thế kỷ 17 biến nơi đây trở thành trung tâm của văn học và kịch nghệ và từ đó xuất hiện những quán café là điểm hẹn lui tới mỗi ngày của các tên tuổi nổi tiếng trong giới văn chương nghệ sĩ như quán Café Procope mở cửa đầu tiên từ năm 1689 là nơi gặp gỡ của Voltaire, Diderot, d’Alembert và Benjamin Franklin…những danh nhân xa xưa. Sau này có thêm: Café de Flore, Les Deux Magots và Brasserie Lipp quy tụ giới cầm bút của thế kỷ 20 thích túm tụm huyên thuyên với nhau từ ngày này qua ngày khác vì nhu cầu, vì nghề nghiệp hơn mấy nhân vật khoa học hay chính trị… Vì thế mấy quán café trong khu đó từng là những nơi gặp gỡ thường xuyên, gần như mỗi ngày của vô số tên tuổi lớn như Paul Verlaine, Oscar Wilde, Guillaume Apollinaire, Paul Eluard, André Gide Jean-Paul Sartre và Simone de Beauvoir, v.v…Thường họ đến đó có khi ngồi suốt ngày, ăn tại chổ để viết, và nhiều hơn, để gặp gỡ và tán dóc với bạn bè văn chương.

Từ nhỏ, qua mấy ông cậu, tôi nghe Juliette Gréco hát và thấy hình cô ca sĩ này thường mặc áo đen với đôi mắt tô đậm trên vài đĩa nhạc. Sau này ra hải ngoại sinh sống, tôi biết thêm người ca sĩ này là bạn thân với vợ chồng triết gia theo trường phái hiện sinh mê chủ nghĩa Marx là Jean- Paul Sartre và Simone de Beauvoir nên được họ chèo kéo đến hát thường xuyên ở Café de Fore với những lời xưng tụng thật đẹp như sau: “Elle a des millions dans la gorge, des millions de poèmes qui ne sont pas encore écrits…” (Nàng có trong thanh quản hàng triệu, hàng triệu bài thơ chưa được viết ra…).

Khi Jean-Paul Sartre viết La Nausée (Buồn Nôn, 1938) tôi còn là hạt bụi đâu đó, nhưng ở những năm 70 tôi cũng bắt chước bằng cách cầm trên tay những cuốn sách của ông dịch ra tiếng Việt như một cách trang điểm, làm dáng, nhưng thật tình hầu hết đám sinh viên chúng tôi thật sự không hiểu ông ấy viết gì, nói gì với mớ chữ lê thê trừu tượng đầy triết lý hổn độn, trong khi đó cuốn “ Buồn ơi chào mi” của Francoise Sagan như “đợt sóng mới” hấp dẫn cuốn hút chúng tôi hơn bởi cốt truyện rất bạo và lối viết rất lạ:

Cuốn “Buồn ơi chào mi” (Bonjour Tristesse) được trích từ hai câu thơ “Adieu tristesse / Bonjour tristesse” của thi sĩ Paul Eluard. Nội dung kể về một thiếu nữ 17 tuổi tên gọi Cécile. Đó là một cô gái rất được nuông chiều, lại đang trong tâm trạng buồn chán vì trượt thi. Khi biết bố mình – một người đàn ông góa vợ – đang có ý định làm đám cưới với người bạn cũ của mẹ mình, Cécile – với sự giúp đỡ của một bạn trai là sinh viên luật – đã lập mưu ly gián hai người bằng việc bố trí để người đàn bà đó chứng kiến cảnh bố cô “thân mật” với một người phụ nữ khác. Kế hoạch thành công với kết cục là người đàn bà sắp làm lễ cưới với bố của Cécile đã lao xe vun vút trên đường và… tử nạn.”

Một nơi chốn ghi dấu nhiều bước chân của những danh nhân. Một nơi chốn sản sinh ra nhiều tác phẩm văn học lẫy lừng phải ghé ít ra một lần nhấm nháp tách café cho biết mùi.

thụyvi (Hầm Nắng, chớm thu 2012)

– Bài “ Il n’y a plus d’après” của Guy Béart do Juliette-Gréco hát :

 http://www.wat.tv/video/juliette-greco-il-y-plus-apres-1vjin_2fgqp_.html

Theo Wikipedia :

“Quán Café de Flore được mở cửa vào năm 1887 dưới thời Đệ tam cộng hoà. Tên hiệu Flore được lấy theo tên bức tượng đặt ở phía bên kia đại lộ. Tại tầng một của quán, vào cuối thế kỷ 19 Charles Maurras đã viết Sous le Signe de Flore

Khoảng năm 1913, Guillaume Apollinaire cùng André Salmon 1913 đầu tư vào địa điểm này để trở thành tòa soạn của tạp chí Les soirées de Paris. Trong thời gian Thế chiến thứ nhất, Apollinaire vẫn tiếp tục làm việc tại Flore. Đây cũng là khoảng thời gian Apollinaire sáng tạo ra từ “siêu thực” để chỉ một trào lưu nghệ thuật mới khi đó. Tristan Tzara tới Paris, Flore trở thành điểm hẹn của các nghệ sĩ Dada Trong những năm 1930, Café de Flore trở thành điểm đến của những vị khách danh tiếng như Trotsky, Chu Ân Lai. Bên cạnh những nhà văn, nhà thơ như Georges Bataille, Robert Desnos… khách hàng của Café de Flore còn có các họa sĩ như Ossip Zadkine, Picasso… cùng những nhà làm phim như Marcel Carné, Yves Allégret…

Năm 1939, Paul Boubal mua lại quán Café de Flore. Từ thập niên 1940, trong những khách hàng thường xuyên của Café de Flore xuất hiện cặp đôi nổi tiếng của triết học, thế kỷ 20 : Jean-Paul Sartre và Simone de Beauvoir. Sartre viết : Chúng tôi ngồi ở đây từ 9 giờ sáng […], chúng tôi làm việc, ăn ở đây…

Một điều đặc biệt, trong thời gian Paris bị chiếm đóng, những người Đức không xuất hiện ở Café de Flore. Jean-Paul Sartre viết : Con đường của Flore trong bốn năm với tôi là con đường của tự do. Thời kỳ này, Café de Flore giống một câu lạc bộ kiểu Anh hơn là một quán cà phê. Mỗi bàn thường có tới 10, 12 người ngồi tụ tập. Ngoài nhóm của Sartre, nhóm cộng sản cũng có mặt với Marguerite Duras, Dionys Mascolo, Roger Vailland…

Sau chiến tranh, Café de Flore có thêm các vị khách mới : Albert Camus, Boris Vian, Juliette Gréco, André Breton. Đây cũng là thời kỳ khu phố Saint-Germain-des-Prés trở thành trung tâm của kịch nghệ, văn học. Arthur Koestler, Ernest Hemingway, Truman Capote,Lawrence Durrell cùng tham gia Club de France, câu lạc bộ do Paul Boubal khởi xướng,Thập niên 1960, Café de Flore trở thành điểm điểm yêu thích của giới điện ảnh.

Nhiều tên tuổi lớn của điện ảnh Pháp và thế giới tìm tới: Jane Fonda, Roman Polanski, Brigitte Bardot, Alain Delon, Belmondo. Giới văn học tiếp tục với Sagan, Roland Barthes… và có thêm các nhà tạo mẫu Yves Saint Laurent, Givenchy… các họa sĩ Alberto Giacometti, Dali..

Năm 1983, Paul Boubal nhượng lại quán cho vợ chồng nhà Siljegovic. Tên tuổi của Café de Flore đã trở thành nổi tiếng. Quán tiếp tục là điểm đến của những tên tuổi lớn, đặc biệt là giới điện ảnh, cả Pháp và Hoa Kỳ, như Lauren Bacall, Catherine Deneuve, Sharon Stone, Robert De Niro, Francis Ford Coppola, Johnny Depp, Jack Nicholson, Al Pacino, Tim Burton… Những nhà văn như Paul Auster, Paulo Coelho… vẫn tiếp tục là khách hàng của quán …” ( ngưng trích )

EM BÉ TRONG

CHIẾC HỘP GIẤY

.. mặc phong phanh chỉ độc nhất chiếc áo trên người, nằm trong cái hộp giấy bằng các tông, tay em thò ra bên ngoài như đang nắm lấy tay anh trai của mình, cũng nằm co quắp bên cạnh chiếc hộp ấy, và cái bát ăn xin thì để bên cạnh. Cả hai nằm trên nền gạch của đường phố Sàigòn lúc bấy giờ…

32 năm sau, từ miền Bắc California, người nhiếp ảnh viên vẫn còn nhớ rất rõ mọi chuyện. Chúng ta hãy nghe ông thuật lại :

HÌNH ẢNH THƯƠNG TÂM

“Khi tôi làm việc cho Association Press, và được giao nhiệm vụ chụp hình trao trả tù binh, khi tốp người lính Mỹ cuối cùng được trao trả, năm đó là 1973, hình như tháng hai thì phải. Tôi còn nhớ ngày tôi chụp tấm hình đó là ngày tôi được lệnh đến Dinh Độc Lập để chụp buổi họp báo của tổng thống Thiệu vào buổi sáng.

Người tài xế chở tôi tới Dinh Độc Lập, khi xong việc, tôi trở về thì đường phố kẹt xe quá, tôi quyết định đi bộ về văn phòng của AP nằm ngay đường Nguyễn Huệ và Lê Lợi trong một tòa nhà lớn cùng với NBC… gần đó là nhà hàng, các cửa tiệm…

Vì văn phòng của tôi nằm cuối cùng của tòa nhà nên tôi đi vòng phiá sau cho tiện… Và trước khi tới cái góc nhà, đối diện với tòa nhà, là khách sạn Continental, có rất nhiều trẻ con xin ăn, có quá nhiều trẻ em mồ côi…

Tôi bắt gặp một hình ảnh vô cùng thương tâm trên đường : một em bé gái nhỏ bé đang ngủ, nằm bên trong chiếc hộp giấy bằng carton, bên cạnh chiếc hộp là đứa bé trai, lớn hơn một tí, nắm lấy tay của em gái mình thò ra, nằm co quắp, và chiếc tô dùng để ăn xin bên cạnh… Ánh sáng hoàng hôn hắt xuống thật tuyệt vời …

Tôi vô cùng xúc động và lấy ngay chiếc máy ảnh Leica của mình với ống kính 50 li, chụp chừng 6 hay 8 tấm gì đó, rồi vào văn phòng ngay vì tôi rất vội phải đi công tác ở Đà Nẵng. Tôi giao cho họ và nói đây là phim chụp họp báo và đây là cuốn phim chụp trẻ em xin ăn đường phố…

10 ngày sau, khi tôi từ Đà Nẵng trở về, một tấm biển có gắn hàng chữ đùa nghịch “No More Orphan Pictures” [được để ở bàn tôi], bởi vì tấm hình đó khi AP phổ biến thì trở thành “tin nóng hổi”- Breaking News Story cho các báo chí và các đài phát thanh ở Mỹ, đặc biệt là ở New York…”

Phong trào nhận con nuôi ở Việt Nam – Thưa quí vị và các bạn, khi được hỏi tại sao tấm hình đó lại làm cho mọi người ở Hoa Kỳ hết sức chú ý đến các em mồ côi ở Việt Nam, nhiếp ảnh gia Chick Harrity kể tiếp :

“Chuyện là như thế này, khi tấm hình đó được gửi về New York, mọi người đều rất thích, bởi vì nó không giống những hình ảnh khác và nó được đăng trên tất cả các báo chí ở Hoa Kỳ và rất nhiều người đã liên lạc tới AP của chúng tôi để hỏi xem có cách nào nhận hai em bé đó làm con nuôi… Các báo chí thì viết thư cho AP chúng tôi ở Sài gòn đề giúp xin địa chỉ của em bé đó.

Họ cho biết rằng, có rất nhiều, rất nhiều gia đình muốn giúp đỡ và nhận hai em bé đó làm con nuôi.

Chính vì thế mà tôi phải làm sao tìm lại được hai em bé đó… Lúc bấy giờ, có vài người Việt Nam làm việc trong phòng tối, tôi đưa cho họ bức hình và thuật lại mọi chuyện. Chỉ hai ngày sau, họ đã dễ dàng tìm ra gia đình của em bé này vì có nhiều người ăn xin ở gần chúng tôi làm việc lắm. Khi gặp mẹ của em bé, bà cho biết chồng bà là một người lính đang đi chiến đấu. Bà có 5 đứa con trai và em bé trong chiếc hộp giấy là con gái út. Vì hoàn cảnh vô cùng nghèo khổ, lương chồng không đủ nuôi 7 miệng ăn, nên các con bà phải đi ăn xin trên đường phố.

Tên của em là Trần Thị Hết…

Tôi đã thuật lại mọi chuyện và cho bà biết rằng có những gia đình ở bên Mỹ rất muốn nhận hai em bé trong bức hình làm con nuôi. Nhưng bà từ chối ngay lập tức, bà nói rằng cho dù hoàn cảnh khó khăn đến thế nào đi chăng nữa, bà phải giữ cho bằng được tất cả các con bà dưới một mái nhà. Và bà đã làm như thế…”

Cô bé năm xưa Thưa quí vị và các bạn, thế rồi người nhiếp ảnh gia Chick Harrity có cơ hội gặp lại em bé trong chiếc hộp giấy hay không ? Chúng ta hãy nghe ông kể tiếp :

“Khi tôi rời Việt Nam, tôi không bao giờ ngờ rằng sau này em lại được một gia đình người Mỹ nuôi… Mười năm sau, tôi không còn làm việc cho Association Press nữa và trở thành phóng viên cho tòa Bạch Ồc thì một hôm, người bạn của tôi trong AP cùng làm việc ở Sài gòn, gọi điện thoại báo rằng cô bé trong chiếc hộp giấy mà tôi chụp hình năm xưa sẽ có mặt tại tòa Bạch Ồc để gặp tổng thống Reagan và mọi người sẽ sắp xếp cho tôi để gặp lại cô bé đó.

Đó là buổi đầu tiên tôi gặp lại cô bé ấy và biết được rằng cô được gia đình bà Evelyn Heil nhận làm con nuôi từ năm 1974, khi em đến Houston chữa bệnh tim do một tổ chức từ thiện đem em sang từ Việt Nam…

Khi tôi gặp em lúc bấy giờ, trông em thật là bé nhỏ so với độ tuổi 12… Tôi trao cho em bức hình tôi chụp năm xưa nhưng em làm moị người và tôi rất ngạc nhiên vì em từ chối nhận và rất là giận dữ… Tôi không hiểu vì sao như thế… rồi thời gian trôi qua, trong lòng tôi cứ tự hỏi về điều này…

Mãi cho đến ngày hôm nay, sau 32 năm, kể từ ngày tôi chụp hình ấy, tôi mới thực sự giải tỏa được, thì ra hồi ấy, trong trí óc ngây thơ của em, em sợ rằng nếu có ai nhìn thấy bức hình ấy, thì họ sẽ bắt em trả về Việt Nam…

Hôm nay, người thiếu nữ trao giải cho tôi đã hoàn toàn khác…”

Giải thưởng “Thành Tựu Một Đời”

A Surprise From Long Ago And Far Away.

Cuộc hội ngộ bất ngờ giữa nhiếp ảnh gia Chick Harrity và Nhanny Heil Trần Thị Hết “Em bé trong chiếc hộp giấy” tại Tòa Bạch Ốc với sự chứng kiến của Tổng thống George W. Bush và gần cả ngàn quan khách khác.

Thưa quí vị và các bạn,

Chick Harrity – người nhiếp ảnh gia nổi tiếng, đã có gần 50 năm trong nghề, với 16 năm làm trong Associations Press, 10 năm làm Trưởng Phòng Nhiếp Ẳnh của U.S. News và World Report và 33 năm chụp hình cho tòa Bạch Ốc.

Ông đã chụp rất nhiều hình qua nhiều đời tổng thống như John Kenney, Lyndon Johnson, Richard Nixon, Gerald Ford, Ronald Reagan, George Bush, Jimmy Carter, và Bill Clinton, những tấm hình của ông đều mang nhiều ý nghĩa và đi vào lịch sử.

Khi được trao giải cao quí “Thành Tựu Một Đời”, ông đã trả lời Hội Phóng Viên Ảnh tòa Bạch Ốc rằng tất cả những tấm hình ông ghi lại trong 50 năm qua, mặc dù có giá trị đến đâu chăng nữa, đều không làm ông vui nhất và thích nhất là tấm hình “Baby In The Box” – Em bé trong chiếc hộp giấy. Vì thế, trong buổi lễ trao giải này ban tổ chức đã dành cho ông một sự bất ngờ… Ông kể lại giây phút ấy :

“Khi tôi đứng ở trên sân khấu cùng với tổng thống George W. Bush, tôi nghe vị chủ tịch của Hội Phóng Viên Nhiếp Ảnh tòa Bạch Ốc nói với tổng thống Bush rằng.

“Đừng di chuyển, hãy đứng yên !” Thông thường thì ai mà nói như thế với vị tổng thống kiểu đó… Tôi không hiểu chuyện gì đang xảy ra đây.. và bỗng nhiên tôi nghe tiếng của người điều khiển chương trình xướng danh tên tôi cùng với bức hình, và người đại diện trao giải là Nhanny Heil, cô bé trong bức hình năm xưa..

Tôi vô cùng bàng hoàng và xúc động… nước mắt dàn dụa trên mặt tôi… Cuộc hội ngộ diễn ra vô cùng bất ngờ… Tất cả mọi người có mặt hôm đó đều rơi lệ, ngay cả tổng thống Bush cũng vậy…

Sự kiện Trần Thị Hết Nhanny trao giải cho tôi làm cho tôi càng tin tưởng rằng : đây là bằng chứng mà bức hình của tôi đã làm thay đổi một cuộc đời và hy vọng rằng sẽ có những trường hợp khác tương tự như thế… “ 

Thưa quí vị và các bạn, chắc hẳn quí vị và các bạn sẽ còn một vài điều thắc mắc rằng tại sao cô bé Trần Thị Hết lại được sang Mỹ năm 1974 để chữa bệnh tim rồi được gia đình một người Mỹ nhận làm con nuôi ? Thế còn cha mẹ ruột cùng các anh trai của em ra sao ? Và cuộc sống của cô Trần Thị Hết Nhanny hiện nay như thế nào ? Mời quí vị và các bạn đọc tiếp.

Tấm hình thay đổi cả một đời người

Thưa quý vị và các bạn, phần trên chúng ta đã nghe nhiếp ảnh gia nổi tiếng Chick Harrity kể lại trong hoàn cảnh nào ông đã chụp bức ảnh em bé nằm ăn xin trong chiếc hộp bằng cạc tông bên cạnh người anh trai bé nhỏ của mình. Và sau khi tấm hình được phổ biến ở Hoa Kỳ, đã dấy lên phong trào nhận trẻ em mồ côi Việt Nam làm con nuôi.

Mặc dù bà mẹ của em từ chối sự hảo tâm của rất nhiều gia đình người Mỹ muốn nhận em làm con nuôi. Thế nhưng, như một số phận đã dành sẵn, năm 1983, tức 10 năm sau, em bé trong chiếc hộp giấy có mặt tại Tòa Bạch Ốc để gặp Tổng thống Ronald Reagan và hội ngộ lần đầu tiên với người đã chụp hình mình khi mới lên hai.

Tuy nhiên, cuộc gặp gỡ này đã làm cho cô bé Trần Thị Hết, nay là Nhanny Heil vô cùng tức giận và hãi sợ vì nhiếp ảnh gia Chick Harrity đã đưa tặng em bức hình Baby In The Box.
Theo lời bà mẹ nuôi cô kể lại, lúc bấy giờ, trong trí óc ngây thơ của cô bé 12 tuổi, cô chỉ sợ rằng, nếu có ai biết được cô là em bé trong bức hình, thì cô sẽ bị trả về Việt Nam. Vì thế, cô rất ghét bức hình ấy.

Người mẹ nuôi, bà Evelyn Heil

Được hỏi vì sao bà lại trở thành mẹ nuôi của cô, từ thành phố Springfield, bang Ohio, bà Evelyn Heil, một nhà giáo, nay đã về hưu kể lại : “Khi tôi nhìn thấy bức hình của em trên tờ báo ở Houston, Texas, bên cạnh là bức hình “Baby in the Box”, đôi mắt em mở lớn đầy vẻ sợ hãi như đang nhìn thẳng vào tôi như có một sự thôi thúc kỳ lạ. Lúc bấy giờ, em được bác sĩ Denton Cooley chữa bệnh tim, đem em từ Saigòn sang. Năm đó là năm 1974.

Theo lời cơ quan từ thiện đưa em sang Mỹ thì mẹ em đưa em vào viện mồ côi Holt, vì em bị bệnh tim và bà quá nghèo không có tiền chữa bệnh cho em. Cũng theo lời hội từ thiện cho biết thì họ cố gắng tìm mẹ và anh trai của em nhưng nghe nói bà đã đi Đà Nẵng. Sau đó họ cũng được tin là bà mẹ của em đã qua đời vì bị bệnh lao phổi, và không còn ai biết gia đình cũng như anh trai của em ra sao nữa.

Nhưng ở Sài gòn lúc bấy giờ cũng không có đủ phương tiện chữa trị nên họ đã đưa em sang Mỹ. Khi tôi nhìn thấy khuôn mặt của em và bức hình Baby In The Box đăng trên trang báo, tôi lập tức tìm cách đến ngay bệnh viện để được ôm em vào lòng vì trông em tội nghiệp lắm, nét mặt đầy vẻ sợ hãi.”

Thưa quý vị và các bạn, việc nhận em làm con nuôi không đơn giản chút nào vì lúc bấy giờ, danh sách xin nhận em làm con nuôi lên đến hai ngàn gia đình. Thật là khó để lọt vào danh sách được tuyển chọn, tức là khoảng 5 gia đình ưu tiên, rồi cuối cùng mới được chọn.

Nghĩa cử cao đẹp – Thế nhưng, giống như một phép lạ đã xảy ra, bà đã vượt qua hai ngàn gia đình khác để đứng đầu danh sách xin nhận em làm con nuôi, bà kể lại :

“Tôi rất là kiên trì và họ biết là tôi biết nhiều về dinh dưỡng. Rồi hôm ấy, họ đến nhà tôi rồi đi cùng với tôi để đón các con tôi đi học về. Trước khi tới trường của các con tôi thì họ cho tôi biết là tôi sẽ được chọn. Tôi đã khóc vì sung sướng và không thể lái xe tiếp tục được, phải dừng lại bên đường để dằn cơn xúc động. Tôi không thể tin nổi, một điều kỳ diệu đã xảy ra.

Và cũng nên nhớ lại rằng, thất bại của Mỹ trong việc bảo vệ Sàigòn đã khiến em trở thành một em bé mồ côi tị nạn. Điều này giúp cho việc xin em làm con nuôi dễ dàng hơn. Và ngày 10 tháng 10 năm 1974, em chính thức trở thành con nuôi của tôi. Gia đình tôi đưa em về nhà, tôi đã có 4 đứa con trai và em trở thành công chúa trong gia đình của chúng tôi.”

Thưa quý vị và các bạn, khi được hỏi về tình trạng sức khỏe của em lúc bấy giờ như thế nào, bà cho biết :

“Em thật là nhỏ bé và suy dinh dưỡng trầm trọng. Em gần như không sống nổi, sức khỏe của em thật là tồi tệ, em không tự mình ngồi và đứng được. Chỉ cân nặng có 12 pounds mà lúc đó em đã 3 tuổi rồi. Con trai lớn của tôi chọn tên em là Nhanny. Từ đó, tên em là Nhanny Heil.

Sau khi tôi nuôi em được chừng 6 hay 10 tuần gì đó thì em bắt đầu tự mình đứng và ngồi được. Tôi đã tốn rất nhiều công sức để chăm sóc và chữa bệnh cho em.

Em bị bệnh về tai, nên đã ảnh hưởng nhiều đến việc nghe và nói. Đồng thời, em còn thêm rất nhiều bệnh tật khác nữa. Trong nhiều năm, Nhanny bị chậm phát triển so với các trẻ em khác. Nhưng cuối cùng, thì mọi việc cũng đâu vào đó. Nhanny được tất cả mọi người yêu mến.”

Không đầu hàng số phận

Thưa quý vị, được biết, sau nghĩa cử thật cao đẹp của bà Evelyn Heil nhận em bé Trần Thị Hết làm con nuôi, một làn sóng xin nhận nuôi các em mồ côi Việt Nam dâng cao tại Hoa Kỳ, nhất là vào thời điểm trước biến cố tháng 4 năm 1975. Trong khi đó, ngoài thời gian đi dạy học, phải vất vả nuôi 4 người con trai của mình, bà dành hết thời gian cho Nhanny. Vì sức khỏe và bệnh tật, Nhanny không thể nào đến trường bình thường như các trẻ em khác.

 Nhất quyết không chịu đầu hàng số phận, bà lập ra Warren Center of Learning, xin tạm dịch Trung Tâm Học Tập Warren, để Nhanny có cơ hội được học hành tại đây.

Năm 1983, để có thêm tài chính cho trung tâm, bà nhờ các cơ quan truyền thông hỗ trợ trong việc quyên góp.

Gặp Tổng thống Ronald Reagan 

Và cũng nhân cơ hội này, bà và Nhanny được Tổng thống Ronald Reagan cùng phu nhân mời đến Tòa Bạch Ốc. Bà cho biết : “Lúc bấy giờ, có rất nhiều phóng viên báo chí ở khắp nơi trên toàn thế giới về tham dự và muốn đặt câu hỏi với Nhanny, nhưng Nhanny cứ quả quyết đòi gặp Tổng thống trước đã. Nhanny nói với mọi người rằng hãy để cho em gặp Tổng thống đã, rồi em sẽ trả lời câu hỏi của mọi người khác.

Và tôi còn nhớ rằng khi hai chúng tôi đang đi vào hành lang, thì ngay lúc ấy, Tổng thống Reagan cùng phu nhân xuất hiện. Ông cúi xuống ôm em vào lòng và hỏi tai nào của em không nghe được ? Em trả lời.

Tổng thống nói : Vậy thì hãy cứ đi qua phía bên đó để ông cùng nghe vì tai của ông cũng bị như thế ! Thật là một vị Tổng thống tuyệt vời ! Sau khi trò chuyện với Tổng thống Reagan xong thì chúng tôi gặp Chick Harrity. Đó là lần đầu tiên chúng tôi gặp ông ấy.”

Ngạc nhiên lẫn xúc động

Thời gian trôi qua, sau lần hội ngộ đầu tiên với Chick Harity vào năm 1983, làm cho Nhanny hãi sợ, tháng 4 năm 2005, bà nhận được điện thoại của Hội Phóng Viên Ảnh Tòa Bạch Ốc mời bà cùng Nhanny đến trao giải cho Chick Harrity.

Vô cùng ngạc nhiên lẫn xúc động, mọi chuyện tưởng chừng như đã đi vào dĩ vãng, nhưng nay lại được khơi dậy với một niềm vinh hạnh. Bà còn được biết rằng, trong suốt gần 50 năm cuộc đời nhiếp ảnh của mình, Chick Harrity bao giờ cũng tâm đắc về bức hình “Baby In The Box”, và luôn tự hỏi cô bé trong ảnh giờ này ra sao. Với sự giúp tìm kiếm của hãng truyền thông NBC, Hội Phóng Viên Ảnh Tòa Bạch Ốc đã tìm ra được địa chỉ của mẹ con bà và trân trọng mời Nhanny đến tham dự để dành cho Chick Harrity một bất ngờ lớn. Thế là mọi chuyện đã xảy ra đúng như dự định.

“Người may mắn nhất”

Thưa quý vị và các bạn, giờ đây, khi Nhanny đã là mẹ của hai con và hiện định cư tại thành phố Springfield, bang Ohio, cô tâm sự : “Tôi nghĩ tôi là người may mắn nhất. Tôi không biết nói gì hơn. Tôi chỉ nghĩ là tôi rất may mắn đã gặp được mẹ nuôi tôi cho tôi một cuộc đời mới. Tôi biết rằng, tôi còn có cha và các anh trai của mình, và nhiều khi tôi tự hỏi không biết giờ này họ ra sao. Tôi không biết làm cách nào để tìm ra họ. Tôi thiệt không biết làm sao !”

Thưa quý vị và các bạn, câu chuyện về bức hình Baby In The Box có thật nhiều điều kỳ diệu mà chúng ta không thể nào giải thích nổi. 32 năm sau, có ai ngờ em bé ăn xin nghèo khổ trên vỉa hè thành phố, nằm trong chiếc hộp bằng cạc tông, lại thay mặt cho toàn thể giới báo chí phóng viên nhiếp ảnh Hoa Kỳ, trước mặt Tổng thống George W. Bush, để trao tặng giải thưởng cho người đã chụp hình mình năm xưa, làm cho tất cả mọi người phải rơi lệ.

Và hôm nay đây, mặc dù không nói được tiếng Việt, nhưng cô luôn ghi nhớ cô là người Việt Nam, cô vẫn hằng nhớ đến những người thân nhân ruột thịt của mình. Ước mong một ngày nào đó, lại có điều kỳ diệu xảy ra cho cô, phải không thưa quý vị và các bạn ?

Mai Trung Tín post

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: