MA QUỶ QUANH TA ?!

ĐỜI HẬU LÊ VỚI VIỆC

XỬ LÝ TỘI NGOẠI TÌNH

Ngoại tình nói chung được định nghĩa là quan hệ tình cảm ngoài hôn nhân với người không phải chồng hay vợ mình. Để giữ gìn các quy tắc xã hội, sự ổn định gia phong trước những tác động xấu của việc ngoại tình, pháp luật triều Hậu Lê đã có nhiều quy định để ngăn chặn, xử lý hành vi này.

Ở Việt Nam, trong pháp luật phong kiến cũng đề ra các hình phạt cho tội trạng đó, tiếc rằng thư tịch cũng như các văn bản pháp luật từ thời Hồ trở về trước qua binh lửa chiến tranh đã không còn giữ lại được bao nhiêu.

Tuy nhiên, vấn đề ngoại tình trong chính sử cũng được đề cập đến ít nhiều, thí dụ vào tháng 9 nhuận năm Nhâm Ngọ (1042), Vua Lý Thái Tông xuống chiếu rằng : “Kẻ nào ban đêm vào nhà gian dâm vợ cả, vợ lẽ người ta, người chủ đánh chết, ngay lúc bấy giờ thì không bị tội” (Đại Việt sử ký toàn thư).

Hoặc như sự kiện Vua Trần Thánh Tông xử vụ án thông gian, theo đó tướng Trần Khánh Dư bị đánh 100 trượng ở bên hồ Dâm Đàm (Hồ Tây) vì tội thông dâm với công chúa Thiên Thuỵ, vợ của Hưng Vũ Vương Trần Quốc Nghiễn (con trai của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn).

Đến thời Hậu Lê, ngoại tình tùy theo mức độ nặng nhẹ, tùy đối tượng và trong các trường hợp cụ thể mà có hình thức xử phạt khác nhau, nặng nhất là xử tội chết, bị đánh bằng roi bằng trượng, bắt làm nô tì, bị đi đày, bị bắt làm lính, làm kẻ chăn voi, đi làm ruộng cho nhà nước, bị thích chữ vào mặt và có thể có kèm theo hình thức phạt tiền.

Trong pháp luật phong kiến nói chung và pháp luật triều Hậu Lê nói riêng, các thuật ngữ thông gian, thông dâm, gian dâm đều chỉ việc ngoại tình nhưng ở các mức độ khác nhau, như :

Thông gian được hiểu là có ngoại tình, đi lại với nhau; thông dâm là quan hệ tình dục bị bắt quả tang, gian dâm là hành vi một hoặc cả hai người nam, nữ tuy đã có gia đình nhưng “chung sống như vợ chồng” với người khác ngoài hôn nhân…

Dù ở mức độ nào, ngoại tình vẫn dẫn tới những hậu quả xã hội không tốt, như ảnh hưởng tới hạnh phúc gia đình, sự không chung thủy của một hoặc cả hai vợ chồng chính là nguyên nhân dẫn đến các vụ ly hôn, và hậu quả xa hơn của hành vi ngoại tình có thể là sự ra đời của những đứa trẻ ngoài giá thú.

Kể từ đời Lê Thánh Tông cho đến các đời vua sau đó đều lần lượt ban bố, bổ sung thêm một số điều khoản, luật lệnh liên quan đến việc phân định mức độ và hướng xử lý khác nhau về ngoại tình.

Theo “Hồng Đức thiện chính thư”, năm Bính Thân (1476), Lê Thánh Tông ban bố các quy định về hộ hôn, ở mục thứ 34, nghiêm cấm đàn bà ngoại tình bởi “người đàn bà ngoại tình là phạm vào điều luật, trái với luân thường đạo lý”.

– Nguyễn thị thấy chồng mình nhà nghèo, cha già, chồng bận việc quan sai bảo, nên cố ý ngoại tình, xử tội giảo, phạt 80 roi, điền sản trả lại cho người chồng, theo luật thi hành, không thể tha thứ.

Cũng trong năm ấy, có thêm các điều răn cấm : “Nếu là thông dâm thì phạt đánh 80 trượng. Có chồng mà thông dâm thì phạt đánh 90 trượng; dụ dỗ, tán tỉnh người khác thông dâm, phạt đánh 100 trượng, lưu đày 3000 dặm… “

Đến năm Kỷ Dậu (1489), vua quy định thêm về các điều thông gian, theo đó  “Con trai con gái đồng tình thông dâm thì phạt đánh 50 roi, con gái đưa vào nhà quan làm nô tì, con trai xử đồ làm chủng điền binh hoặc làm quân ở phủ Hoài Nhân.

Thông dâm với vợ người khác bị phạt đánh 100 trượng, thích 8 chữ vào mặt, đầy đi châu xa. Đang có tang mà dụ dỗ gian díu thì xử vào tội thông dâm, nếu là thông dâm thì tội cũng thế…

Ở trọ nhà người ta mà gạ gẫm thông dâm với con gái nhà chủ thì xử tội đồ làm chủng điền binh hoặc sung vào làm quân bản phủ… Thông dâm với con gái vợ kế thì xử tử hình. Tự tiện đến nhà người ta gạ gẫm thông dâm thì phạt đánh 80 trượng, xử tội đồ” (Thiên Nam dư hạ tập).

Trong bộ “Quốc triều Hình luật” (Bộ luật Hồng Đức) cũng có một số điều quy định liên quan đến việc ngoại tình, tại điều 401 quy định xử lý các trường hợp ngoại tình như sau : “Gian dâm với vợ người khác thì xử tội lưu hay tội chết; với vợ lẽ người khác thì giảm tội một bậc, với người quyền quý thì sẽ xử cách khác; kẻ phạm tội đều phải nộp tiền tạ tội theo luật.

Vợ cả, vợ lẽ phạm tội đều xử tội lưu, điền sản trả lại cho người chồng. Nếu là vợ chưa cưới thì đôi bên đều được giảm một bậc”, nếu “thông gian với vợ người thì bị xử phạt 60 trượng, biếm hai tư, bắt nộp tiền tạ nhiều ít theo bậc cao thấp của người đàn bà, nếu sang hèn cách nhau xa thì lại xử khác” (điều 405).

Trường hợp mà “gian dâm trong cung cấm thì bị xử tội chém. Kẻ đang có tang cha, mẹ hay tang chồng mà gian dâm cũng bị xử tội chém” (điều 408).

Nếu quan chức mà lợi dụng việc xử lý các án tụng để thỏa mãn lòng dục của mình thì theo điều 409: “Ngục quan và ngục lại, ngục tốt gian dâm với những đàn bà, con gái có việc kiện tụng thì xử tội nặng hơn tội gian dâm thường một bậc. Đàn bà, con gái mà thuận tình thì giảm tội ba bậc, bị hiếp thì không xử tội”.

Trường hợp người phạm tội thuộc địa vị xã hội khác nhau thì mức xử lý cũng khác nhau, điều 407 quy định: “Đày tớ mà gian dâm với vợ, con gái, con dâu của chủ nhà thì bị xử tội chém, điền sản của phạm nhân phải tịch thu trả cho chủ;

gian dâm với đàn bà, con gái hàng cơ thân (họ hàng thân thuộc) của chủ, với vợ con người cơ thân của chủ, cũng đều bị tội như thế. Người làm thuê hay người tá điền mà phạm tội thì cũng phải xử tội như thế. Đàn bà, con gái đều bị xử tội lưu”.

Theo sách “Hồng Đức thiện chính thư”, vào niên hiệu Thiệu Bình (1549-1556), đời Lê Trung Tông ban hành một số điều luật về hộ hôn, tại phần 2, điều thứ 9 quy định:

“Người làm thuê thông dâm với gia chủ thì xử tội chém”, trường hợp “binh lính thông dâm với vợ cả, vợ lẽ, nô tì của quan trên và người làm thuê thông dâm với vợ gia chủ thì những người đàn bà đó sẽ bị đuổi đi” (điều thứ 15).

Để bảo vệ tôn ti trật tự, pháp luật triều Hậu Lê quy định trong một số trường hợp, tội ngoại tình bị xử phạt nặng hơn so với lệ thường, như trường hợp “thông dâm với vợ thầy giáo, bị xử tội chết.

Người đàn bà đó bị đánh 50 roi, điền sản trả lại cho chồng”, với những trường hợp phạm tội đã bị xử phạt (chưa đến mức bị tội chết), nếu tiếp tục “tái phạm việc tình ái không đúng đắn, bị đánh 100 gậy, đầy đi viễn châu” (Quốc triều hình luật).

Trong “Hồng Đức thiện chính thư” quy định rõ thêm về tội thông dâm với vợ thầy, theo đó : “Đạo thầy trò nghiêm minh, sách vở biên chép rất rõ ràng, đồ đệ theo học, ơn dạy bảo cũng như cái nghĩa sinh thành của cha mẹ.

– Nguyễn mỗ làm trái đạo lý, bỏ nghĩa thầy trò, thông dâm với vợ thầy, xử tử hình. Người đàn bà kia bị đánh 50 roi, điền sản trả lại cho chồng, theo đúng luật pháp thi hành không tha thứ.

Tháng 4 năm Bính Thân (1476) vua Lê Thánh Tông ban hành một số điều lệ luật xử lý những trường hợp quan hệ có tính chất loạn luân như sau : “Chú bác thông dâm với cháu : Đạo trời soi xét vạn vật, chí công vô tư, đạo người có lớn nhỏ trên dưới, phải giữ phép tắc, đạo lý xưa nay để lại cho hậu thế.

– Nguyễn mỗ càn rỡ coi thường pháp luật, là hàng chú bác mà lại thông dâm với cháu, xử tử hình. Đứa cháu gái kia bị phạt đánh 50 roi, bắt làm nô tì, theo luật thi hành không tha,

– Nếu “phạm tội thông dâm với kế nữ, xử tử hình, theo luật thi hành, quốc triều không tha thứ”.

Đời vua Lê Trung Tông (1549-1556) ban hành thêm một số điều luật trừng trị tội ngoại tình với hơn 20 điều, trong đó có đến 9 điều quy định về cách xử lý tội trạng có tính chất loạn luân, cụ thể:

“Thông dâm với con gái nuôi hoặc con riêng của vợ thì bị phạt đánh 100 trượng, xử tội đồ 3 năm” (điều 5); “thông dâm với con gái mình hay với vợ của con cháu, hoặc con gái của anh em ruột, đều bị xử trảm quyết” (điều 6); “thông dâm với dì của vợ thì bị xử như các tội thông dâm khác” (điều 8);

“con nuôi và con thừa tự thông dâm với mẹ nuôi thì xử tội chém” (điều 9); “thông dâm với vợ của con nuôi cũng như thông dâm với con riêng của vợ, xử tội như nhau” (điều 10); “con rể thông dâm với mẹ vợ là việc đồi bại, làm tổn hại đến luân thường đạo lý, theo luật phải xử chém” (điều 11);

“anh tán tỉnh, gạ gẫm em dâu hoặc cưỡng dâm chưa thành thì xử lưu đày xa 3 ngàn dặm” (điều 12); “thông dâm với chị em gái hoặc thông dâm với chị em gái cùng mẹ khác cha thì phạt đánh 100 trượng, xử tội đồ 3 năm” (điều 14); “thông dâm với kế mẫu, hoặc thông dâm với vợ lẽ của cha, theo luật là xử chém” (điều 17).

Để ngăn chặn tình trạng ngoại tình, triều Hậu Lê còn ban bố một số quy định có tính răn đe để giữ gìn nền nếp gia phong, đạo đức xã hội. Năm Canh Tuất (1471), Lê Thánh Tông có sắc chỉ về một số vấn đề giáo hóa, ở chương hộ hôn quy định :

“Gặp gái đẹp mà mê đắm, buông lời cợt nhả nhưng chưa cố ý thông dâm thì bị ghép vào tội chọc ghẹo” (điều 6); “trêu ghẹo vợ người ta, bị xử tội đồ, phạt đánh 80 trượng” (điều 17); “dụ dỗ, tán tỉnh vợ người khác sẽ bị xử tội đồ” (điều 18); “ban đêm đến nhà người ta cố ý gạ gẫm để thông dâm thì bị phạt đánh 80 trượng, xử tội đồ” (điều 21).

Trong sách “Quốc triều Hồng Đức niên gian chư cung thể thức” cũng có một số quy định liên quan như sau : “Nếu thông dâm với vợ người khác sẽ bị xử tội chết, còn người đàn bà sẽ bị đánh 50 roi, phải trả điền sản cho nhà chồng”, còn nếu “dụ dỗ vợ người khác, bị đánh 80 gậy, xử tội đồ, giáng một chức”.

Trường hợp nếu ban đêm đột nhập vào nhà người khác thì “chẳng phải là thông dâm cũng là trộm cắp, lúc đó có bị đánh chết thì người đánh cũng không có tội, nếu còn sống thì bị xử tội lưu đầy”. Nếu phụ nữ “phản bội chồng bỏ trốn, bị đánh 50 roi, bắt trả lại cho chồng cũ”, còn “phụ nữ ngoại tình phạt đánh 50 roi, bắt trả lại ruộng cho chồng”.

Trường hợp chưa xác định có việc ngoại tình hay không nhưng nếu có hành vi “chứa vợ người khác ở nhà mình, bị đánh 80 trượng, xử tội đồ làm lính chăn voi” hoặc “đùa cợt với vợ người khác, bị đánh 80 gậy, bị xử tội đồ biếm một tư”.

Nhằm ngăn chặn việc khi bắt được gian phu, dâm phụ, trong lúc nóng giận gia chủ sẽ đánh đập, sát hại họ, do đó theo quy định tại điều 410 bộ Quốc triều hình luật :

“Người nào bắt được gian phu trong đêm tối, đã bắt được mà còn đánh chết người thì bị xử tội đồ làm chủng điền binh và bị bắt trả một phần ba số tiền đền mạng cho vợ con người bị chết. Nếu đánh trọng thương thì xử tội đồ làm khao đinh. Nếu chưa phân phải trái mà đánh người chết ngay tại chỗ thì không phải tội”.

Ngoài ra còn có hiện tượng khi bị phát hiện, giữa hai bên có sự thỏa thuận, hòa giải với nhau, nhưng pháp luật không chấp nhận điều đó, theo sách Thiên Nam dư hạ tập, vào năm Giáp Ngọ (1474) Lê Thánh Tông ban lệnh về cấm thỏa thuận riêng, trong đó có quy định :

“Vợ cả, vợ lẽ bị người ta dụ dỗ mà thông dâm, tuy là muốn giải hòa nhưng đây là việc quan hệ đến phong hóa, lệnh cứ theo điều luật mà trị. Nếu người chồng tự thỏa thuận riêng với gian phu thì bị đầy đi châu gần, nhận tiền của gian phu thì xử tăng một bậc theo luật, số tiền đó sung công quỹ”.

Sách Hồng Đức thiện chính thư cho biết vào tháng 4 năm Bính Thân (1476) vua nhắc lại lệnh cấm thỏa thuận riêng với gian phu và nói rõ thêm : “Nếu gả bán gian phụ cho gian phu thì người chồng và gian phu mỗi người bị phạt đánh 80 trượng, gian phụ phải li dị trở về nhà mình, tài sản thì bị tịch thu sung công”.

Trong trường hợp ngoại tình mà sinh con thì cách thức xử lý như sau : “Những đứa trẻ do thông dâm mà sinh ra là trai hay gái đều bắt gian phu phải nuôi dưỡng, gian phụ thì tùy cho người chồng gả hay bán, hoặc người chồng vẫn giữ lại làm vợ thì cũng cho phép”.

Khi giải quyết vụ án nói chung và các vụ ngoại tình nói riêng, đòi hỏi người có chức trách phải thực hiện một cách công bằng, tận tâm, cẩn thận và đúng đắn. Về vấn đề này, sách “Hồng Đức thiện chính thư “cho biết vào năm Canh Tuất (1471) trong sắc chỉ ban bố tăng thêm một số điều lệ mới, Lê Thánh Tông căn dặn rằng :

“Muốn cho các điều luật được rõ ràng, cho nên đã mấy lần nghị bàn kỹ, không được coi thường. Xử kiện phải cho công bằng minh bạch, một lòng nơm nớp lo âu, theo đúng mọi điều đã nghị bàn”.

Với tội ngoại tình, một yếu tố quan trọng là phải có chứng cứ rõ ràng, phải bắt được quả tang, “nếu không bắt được quả tang, không có bằng chứng hoặc không chỉ ra được thủ phạm thì không được xử tội. Nếu gian phụ có thai, không tìm ra được thủ phạm thì không được gán tội cho người khác, nếu vi phạm điều này sẽ bị xử tội “thêm bớt tội cho người” (Hồng Đức thiện chính thư).

Sách “Quốc triều khám tụng điều lệ”, ban hành năm Đinh Dậu (1777), thời Lê Hiển Tông quy định lệ kiện tụng về gian dâm cũng viết rằng: “Phàm việc kiện cáo về gian dâm phải bắt được quả tang, hoặc phải có tang chứng rõ ràng và trong vòng 10 ngày phải nộp đơn kiện mới được thụ lý.

Nếu đã ngoài hạn và không có tang chứng rõ ràng thì bác trả nguyên đơn. Còn như quả phụ và con gái chưa chồng bị hoang thai thì cho họ hàng nhà chồng và cha mẹ, anh em người con gái trong 3 ngày sau khi phát giác ra sự việc phải trình với xã trưởng, thôn trưởng và các chức sắc của bản xã để lược tra, tìm ra gian phu.

Phải có chứng cớ làm bằng, chỉ căn cứ vào lời khai ban đầu lập thành biên bản quan khám án mới được thụ lý. Sau khi phát đơn kiện, không được hùa nhau viện dẫn để sửa đổi lời khai ban đầu, xã trưởng nêu ra kẻ nào phải có tang chứng rõ ràng, nếu tra không đúng sự thật sẽ bị xử phạt.

Kẻ gian dâm có tang chứng rõ ràng thì phải trị tội theo luật, không được thỏa thuận riêng với nhau; kẻ nào vi phạm điều này thì cho quan soát tụng đưa ra xét xử theo khóa pháp”.

Khi bắt được quả tang thì phải lập biên bản, trong sách “Quốc triều Hồng Đức niên gian chư cung thể thức “có phần hướng dẫn thể thức lập biên bản về vụ thông dâm như sau : “Vào giờ…, ngày…, tháng…, năm…, triều đại… Xã trưởng mỗ xã…, huyện…, phủ…, mỗ thấy Nguyễn mỗ người bản xã trình rằng bị Nguyễn mỗ người bản xã dụ dỗ Nguyễn Thị mỗ, là vợ của y thông dâm và bắt được chính tên đàn ông đó, hoặc có dấu vết chém.

Vì thế xã trưởng Nguyễn mỗ cùng đến nơi nhà mỗ, đã thấy trói hai người lại ở trên giường và có chất o uế ở quần. Như vậy là Nguyễn mỗ đồng tình thông dâm, chứ không có chuyện gì khác. Nay lập biên bản. Giờ lập biên bản. Xã trưởng Nguyễn mỗ ký”.

Qua các quy định về ngoại tình trong pháp luật triều Hậu Lê, chúng ta thấy từ xa xưa hiện tượng này đã diễn ra khiến không chỉ cộng đồng dư luận lên án mà chính quyền cũng luôn tìm cách ngăn chặn, hạn chế khi lường trước những hậu quả xấu của nó đối với đời sống gia đình và xã hội.

Nguyễn Văn Danh post (theo Lê Thái Dũng)

MA QUỶ QUANH TA

Bàn chuyện ma quỷ là một việc vô cùng nguy hiểm vì đây là một vấn đề rất nhạy cảm được thiên hạ liệt vào loại mê tín dị đoan. Tin ma hay không tin ma là quyền tự do của mỗi người. Xin đừng phán xét.

Tại sao con người thường hay tin là có ma ?

Video:Người Mỹ có tin ma quỷ không (VOA) ?

http://www.youtube.com/watch?v=trji-V8Ju98

Trong bài phóng sự “Người Mỹ có tin ma quỷ không” (VOA) thì hết 2/3 dân Mỹ trả lời là họ tin có ma, có người đến từ hành tinh xa (aliens) và các hiện tượng huyền bí khác. Trong khi nhiều người cho rằng tin tưởng vào những chuyện ma quỷ là điên rồ, nhưng ngược lại các nhà khoa học xã hội thì lại có một cái nhìn khác hơn về vấn đề nầy.

Theo các nhà tâm lý học, không phải tại vì con người ngớ ngẫn đâu. Người ta có khuynh hướng tìm kiếm những gì sâu xa. Họ là những người hoàn toàn tỉnh táo.

Đàn ông Mỹ tin rằng người ngoài hành tinh là có thật trong khi đàn bà thì thiên về bói toán và thần linh.

Trở về từ cỏi chết hay hiện tượng kinh nghiệm cận tử

Kinh nghiệm cận tử (Near death experience) là một hiện tượng mình cảm thấy mình thoát ra ngoài cơ thể lúc gần chết (near death) hay khi đã có dấu hiệu chết lâm sàng rồi (mort clinique, mort cérébrale), chẳng hạn như điện não đồ hoặc điện tâm đồ đều bằng phẳng. Mình thấy mình chết từ bên ngoài cơ thể.

Hồn bay phất phơ trên trần nhà và nhìn xuống cái xác mình nằm trên bàn giải phẩu. Thấy bác sĩ và y tá lăng xăng làm hồi sinh, thậm chí mình còn bay đi chơi qua các phòng lân cận… và chứng kiến sinh hoạt bên đó (?).

Hiện tượng cận tử được BS Raymond Moody nêu ra lần đầu tiên vào năm 1975. Các thăm dò cho biết có rất nhiều bằng chứng cho biết đây là một hiện tượng thường hay thấy xảy ra, nhưng ít người dám đề cập đến vì sợ thiên hạ không tin và còn bị người ta cười.

Sau đây là các điểm chính của hiện tượng cận tử theo Moody :

1/- Cảm thấy bình an và yên tịnh 2/- Cảm thấy sắp chết đến nơi hoặc đã chết rồi 3/- Nghe thấy tiếng động và tiếng nhạc thật êm dịu 4/- Đi vô đường hầm hoặc một vào cõi âm u tâm tối 5/- Cảm thấy mình thoát ra ngoài cơ thể (out of body experience) 6/- Gặp lại những mặt quen thuộc hay bà con đã chết từ trước 7/- Đi vào vùng ánh sáng 8/- Nhớ lại những biến cố quan trọng trong cuộc đời 9/- Cảm thấy đến biên giới cuối cùng, một giới hạn mà vượt qua đó có nghĩa là phải chết luôn 10/- Ý thức quyết định trở về và nhập trở lại vào thân xác

Đa số các người nầy sau đó đều thay đổi cách nhìn cuộc đời và cho biết họ không còn sợ chết nữa. Hiện tượng cận tử có nhiều điểm rất tương tợ với cách giải thích thân trung ấm (bardo) trong tác phẩm Tạng Thư Sống Chết.

Có phải ma là những sóng rung động tồn tại sau khi chết ?

“Có giả thuyết cho rằng, khi chết thân xác ta mất đi nhưng ý thức thì vẫn còn tồn tại dưới dạng “sóng sinh học”. Người sống không thể nào thấy và cảm nhận được sự rung động vibrations của các làn sóng nầy. Tuy vậy vẫn có một số người cảm thấy được ma vì họ có những rung động phù hợp với các làn sống của ma.

Họ có thể tiép xúc và nói chuyện với thế giới bên kia. Đó là trường hợp của những nhà ngoại cảm, đồng bóng..” (Trích từ Internet)

Xuất hiện nhiều khuôn mặt người trên sàn nhà bếp tại làng Bélmez Tây Ban Nha tháng 8/1971.

Vidéo (3 phút) : The faces of Belmez

http://www.youtube.com/watch?v=TuYO6QXqSWA

Sàn nhà có khuôn mặt lạ xuất hiện, có khi thay đổi thành hình khác nhau trong một ngày. Hình từ trong ciment xuất hiện ra ngoài. Có khi thay đổi nét mặt tùy theo tâm trạng vui buồn của bà chủ nhà Maria Gomez.Có lúc bà Maria phải đi nằm bệnh viện thì các nét mặt của ma đều tỏ ra buồn rầu hết.

Đào lên, thấy có xương người không đầu. Đem chôn ở nghĩa địa công giáo. Làm nền nhà lại : hình vẫn còn tiếp tục xuất hiện ra. Các giáo sư đại học nổi tiếng đến cắt mẩu ciment có hình khuôn mặt để thử nghiệm hóa học, làm đủ mọi test, chụp hình bằng tia hồng ngoại tuyến infra red, ultra violet, kết quả không có gì lạ hết.

Cảnh sát cho phá bỏ nền nhà bếp, và đào sâu xuống 3 mét: tìm gặp 13 bộ xưong, có cái không có đầu và có cái của trẻ em. Người ta suy luận là các nạn nhân đều bị giết và chết oan… Sau khi nền ciment được tráng lại xong xuôi thì các mặt vẫn xuất hiện trở lai như thường.

Sau hết người đặt máy ghi âm rất nhạy trong nhà để hy vọng ghi được tiếng nói của hồn ma (mà người thường không thể nghe được). May thay máy ghi được nhiều tiếng nói và âm thanh hổn loạn của những oan hồn gồm có đàn ông, đàn bà và trẻ con….và hồn ma còn nêu cả tên ra nữa.

Đuợc biết căn nhà nằm trên vùng nghĩa địa của thế kỹ thứ XIII.

Nhiều nhà chuyên môn về hiện tượng huyền bí siêu nhiên nghĩ rằng bà chủ nhà Maria Gomez, là một đồng bóng psychic, một người thoughtography có năng khiếu siêu nhiên tạo hình ảnh qua tư tưởng của bà (?)

Những khuôn mặt mới

Sau ngày bà Maria gomez qua đời năm 2004, hiện tương ma quái vẫn còn tiếp tục xuất hiện với những hình gương mặt mới lạ hơn. Cuối năm 2004, báo El Mundo có đăng bài phóng sự phơi bày ra sự thật :

-Thủ phạm là Diego Pereira con trai của bà Maria Gomez tạo ra của các hình ảnh ma xuất hiện trên nền nhà sau ngày bà mẹ qua đời. Tháng 11/ 2004 tờ báo El Mundo cho đăng bài “Những gưong mặt mới tại Belmez là đồ dỏm và do nhóm săn ma và chánh quyền địa phương cấu kết tạo dựng ra”

Les visages de Bélmez

http://www.2hcreations.net/enquetes-impossible/belmez.php

Vẫn còn mù mờ về vấn đề ma quỷ

Thường thì ma quỷ gắn liền với chết chóc, chết trẻ, chết oan, hồn không siêu thoát được v,v…Trong những nhà có xảy ra án mạng, treo cổ, tự tử, chết oan… thường hay thấy xuất hiện ra những hiện tượng khó giải thích được như bóng ma lúc về đêm, tiếng động bất thường, tiếng bước chân như có ai đi trong nhà giữa đêm, đồ đạc rơi rớt vô cớ, luồng gió lạnh trong phòng kín, cảm giác như có sự hiện diện của ai đó bên cạnh ta…

Những chuyện ma được nghe kể lại

Có nhiều người kể là mỗi khi trong nhà có tang thì trong những ngày đầu tiên lúc chưa chôn, hồn ma của người chết có thể hiện ra lẩn quẩn trong nhà và nó cho một người nào đó thấy khiến cho họ sợ hết hồn. Đó là cách liên lạc của hồn ma với người thân còn sống.

Đây là chuyện hồi năm 1996, tức là 16 năm về trước khi người em gái út (ngoài 30 tuổi) của bà xã qua đời tại Sài Gòn. Cô ta chết vì bịnh ngặt nghèo. Theo phong tục Viêt Nam, người xấu số được đưa từ bệnh viện về chết tại nhà. Đêm đầu tiên, cậu em có nhiệm vụ canh xác cô em để nằm dưới nhà. Anh nầy là dân gốc nhà binh trước 75. Giữa khuya, anh ta cần lên lầu để làm cái gì đó, nhưng khi “vừa bước lên cầu thang thì thấy rõ ràng lù lù đang di xuống”.

Không biết đây có phải là ảo giác hallucination hay không ?

Theo Phật giáo thì trong mấy ngày đầu khi vừa mới chết, hồn ma còn quyến luyến nơi quen thuộc nên chưa biết đi đâu ?

Chuyện bị ma đè

Hồi người gõ mới bắt đầu đi dạy tại trường Cao Đẳng Nông Nghiệp (Đại Học Cần thơ) năm 1967 thì được rất nhiều anh em giáo sư dạy bên trường Trung học Nông Lâm súc Cần thơ (nằm gần bến xe mới) ven lộ 20 trên đường đi Bình Thủy, Long Xuyên kể lại những hiện tượng khó hiểu thường xảy ra tại một căn nhà bên cạnh trường. Đó là nơi dành cho các các giáo sư trú ngụ. Chính trong căn nhà nầy thưởng hay xảy ra những chuyện ma đè và ma kéo ra khỏi giường trong lúc họ còn đang tỉnh táo chưa ngủ… Các nạn nhân thề quyết rằng họ đều nói thiệt. Chuyện xảy ra cho rất nhiều người. Được biết căn nhà nầy ngày xưa được Tây dùng làm nơi tra tấn cộng sản.

Giải thích hiện tượng bị ma đè theo khoa học :

Bác sĩ giải mã những giấc ngủ bị ‘bóng đè’

http://vnexpress.net/gl/doi-song/2011/08/bac-si-giai-ma-nhung-giac-ngu-bi-bong-de/

“Giáo sư – Tiến sĩ Võ Văn Tới, trưởng khoa Kỹ thuật – Y sinh, trường ĐH Quốc tế ở Sài Gòn thì cho rằng, hiện tượng bị “cứng người”, bị “đè”, hoặc bị “ma đè” ngoài nguyên nhân hệ tim mạch, hệ hô hấp, thần kinh không tốt, bệnh nhân còn có thể đã hoạt động gắng sức trong ngày, bị stress, hoặc tư thế nằm không phù hợp.

Riêng trường hợp bị khó ngủ, bị “bóng đè” khi dọn đến nơi ở mới, theo tiến sĩ Tới có thể cơ thể dị ứng hoặc bị ngạt bởi do mùi sơn, mùi đồ đạc, hoặc mùi nấm mốc”.(ngưng trích)

Nhờ ma quỷ mà hái ra tiền

Nhưng nói gì thì nói, ma quỷ là một đề tài hái ra tiền của kỹ nghệ điện ảnh, TV, thầy bùa, thấy pháp ếm trừ ma quỷ cũng như nhà ngoại cảm nói chuyện với cỏi âm, giúp tìm xác chết… hỏi thăm coi họ đang ở đâu có được sung sướng không ? MC Nguyễn Ngọc Ngạn cũng từng nổi tiếng về việc kể truyện ma.

Các bạn có xem các phim exorciste chưa ? Biết rằng là đồ xạo nhưng cam đoan cũng hồi hộp lắm. Tối hổng dám ngủ một mình đó.

Video: Phim Exorciste

http://www.dailymotion.com/video/xm8p14_l-exorciste-2-le-cine-du-comite_fun

Lễ Halloween là gì?

Mùa lễ Halloween, kỹ nghệ đồ chơi, đồ hóa trang và bánh kẹo tha hồ mà hốt bạc.

Halloween là lễ ma quỷ đêm 31/10 hằng năm tại các quốc gia Bắc Mỹ. Theo truyền thống, trẻ em được hóa trang thành ma quỷ và đến gõ cửa từng nhà xin kẹo bánh để dành ăn cả năm.

Lễ Halloween có nguồn gốc xa xưa từ dân tộc Celte Ái Nhỉ Lan và Anh Quốc. Tục lệ Halloween theo di dân du nhập Bắc Mỹ vào thế kỷ thứ 19. Màu đen và vàng tượng trưng cho sự chết chóc và thu hoạch mùa màng. Người ta nói rằng đêm đó cô hồn từ mồ mả chui ra và các mụ phù thủy cỡi chổi bay đi khắp nơi. Trẻ em hóa trang thành ma quỷ để cô hồn tưởng nhầm là phe ta cho dễ làm ăn.

Biểu tượng lễ Halloween là một loại bí rợ pumpkin, được cắt khoét rỗng, có mắt, mũi, để một cây đèn cầy bên trong và đem đặt trước cửa nhà.

Kết luận

Cá nhân người gõ chưa từng thấy ma bao giờ nhưng tin rằng phải có một ‘cái gì đó”, một thực thể (entity) không thể giải thích được, một dimension ngoài cái thế giới hữu hình mà chúng ta hiện đang sống.

Phải chăng ma quỷ là những oan hồn còn phiêu bạc trong cõi trung ấm (bardo) và họ cố tìm cách liên lạc với người trên dương thế?

Nói chung, giai đoạn trung ấm thân kéo dài khoảng bảy tuần (bốn mươi chín ngày), nhưng cũng có thể ngắn hơn nhiều, hoặc trong một số trường hợp hiếm có, có thể kéo dài hơn. Trong phân nửa thời gian đầu của giai đoạn chuyển tiếp này, chúng ta có thể cảm thấy mình có thể xác và tình cảm của kiếp trước mà mình vừa mới trải qua. Trong phân nửa thời gian còn lại, chúng ta có thể cảm thấy mình có thân xác và kinh nghiệm của kiếp tái sanh sắp tới(Chết an lạc – Tái sinh hoan hỹ. Thích Nguyên Tạng – Thích Như Điển)

Nhưng nói cho cùng, loại ma đáng sợ nhất vẫn là ma đang nằm trong ta : “…Ma là cái ngã đang thống trị ta, làm cho ta tham lam, ích kỷ, xúi dục ta, nịnh hót ta, biến ta thành đốn mạt, nói dối và quỷ quyệt…. Chính Ma đã tung hoành trong tâm thức ta, tạo ra u mê, lầm lẫn và khổ đau. Chính Ma kích động để ta tạo nghiệp…” (theo Cư sĩ Hoàng Phong).

Đọc thêm :

Nguyễn Thanh Giản- Chuyện ma có thật hay không?

http://www.vietbang.com/index.php?c=article&p=633

– TS Huê Dân –Ma và ngạ quỷ

http://www.phattuvietnam.net/nghiencuu/15605-ma-v%C3%A0-ng%E1%BA%A1-qu%E1%BB%B7.html

Yên Huỳnh post (theo Nguyễn Thượng Chánh, DVM)