NGHI ÁN “KỶ VẬT CHO EM”

CÂU CHUYỆN VỀ

“KỶ VẬT CHO EM”

Nhận được rất nhiều thư đề nghị tôi viết về những sự kiện quanh bài thơ Kỷ Vật Cho Em mà nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành ca khúc gây xôn xao giới yêu thơ, yêu nhạc một thời trước năm 1975. Thực tình tôi không biết khởi đầu từ đâu, và viết những sự kiện gì, bởi rất nhiều sự kiện và mình có nên viết hay không ? Thôi thì kể lan man một vài chuyện về bài thơ đó vậy. Xuất xứ bài thơ của tôi đăng trên nhật báo Độc Lập vào năm 1970 với tựa đầu tiên “Để trả lời một câu hỏi” đề tặng một người con gái tên Hương. Trang sáng tác của tờ báo này do Ấu Lăng (tức nhà thơ Trần Dạ Từ chồng của nhà văn nữ Nhã Ca) phụ  trách.

Tôi thường xuyên đăng bài ở trang này, có thể nói một tháng 30 ngày thì bài tôi xuất hiện khoảng  hơn 20 ngày với tên Linh Phương – Vương Thị Ái Khanh và Phạm Thị Âu Cơ. Khi nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành ca khúc với duy nhất tên ông, tôi không có phản ứng gì. Nhưng tôi có người bạn làm việc ở bản tin THT đã đưa vấn đề tác quyền lên trang tin tức của một tờ nhật báo với đại ý “Tác giả Kỷ Vật Cho Em sẽ kiện nhạc sĩ Phạm Duy ra tòa”.

Tiếp theo là tờ tuần báo Sân Khấu Truyền Hình, tác giả Phan Bảo Quân cho in một bài viết đề cập tác quyền và tên Linh Phương phải được để  là đồng tác giả bản nhạc Kỷ Vật Cho Em. Thời đó ở Sài Gòn có trên 20 tờ nhật báo, 30 tờ tuần báo và rất nhiều tạp chí bán nguyệt san, nguyệt san… Và chuyện tác quyền giữa tôi và nhạc sĩ Phạm Duy đều có bài viết, thư nhạc sĩ Phạm Duy gởi tôi, thư tôi trả lời… hầu hết trên báo chí lúc ấy. Cuối cùng thì một người cháu của Phạm Duy là Phạm Duy Nghĩa tìm gặp tôi tại địa chỉ 104/23 đường Yersin nhà người bạn thân của tôi là nhà thơ Vũ Trọng Quang. Phạm Duy Nghĩa đưa tôi đến phòng trà ca nhạc Đêm Màu Hồng nơi Ban Thăng Long thường xuyên trình diễn. Ở đây, tôi và nhạc sĩ Phạm Duy đã có sự thông cảm với nhau về vấn đề bài thơ Kỷ Vật Cho Em.

Nhạc sĩ Phạm Duy chở tôi trên chiếc xe Trắc-xông đen đến phòng trà Queen-Bee do nhạc sĩ Ngọc Chánh làm chủ xị. Ở Queen-Bee nhạc sĩ Phạm Duy đã giới thiệu tôi trước công chúng về tác giả bài thơ Kỷ Vật Cho Em. Sau cái bắt tay giữa tôi với nhạc sĩ Phạm Duy, nhạc sĩ Ngọc Chánh và quái kiệt Trần Văn Trạch, ca sĩ Thái Thanh đã trình bày bài thơ phổ nhạc này.

Sáng hôm sau, tôi đến tư gia của nhạc sĩ Phạm Duy 215 E/2 đường Chi Lăng – Phú Nhuận ăn cơm và ký hợp đồng bài thơ Kỷ Vật Cho Em tại đây. Trong bản hợp đồng tiền tác quyền là 30.000 đồng (thời điểm đó giá một lượng vàng nếu tôi nhớ không lầm là khoảng 10.000 đồng đến 12.000 đồng), nhưng thực tế thì nhạc sĩ Phạm Duy trả tôi 50.000 đồng (30.000 đồng bằng Sec nhận ở Pháp Á ngân hàng – 20.000 đồng tiền mặt.)

Lúc bản Kỷ Vật Cho Em được hát là cuộc chiến tranh Việt Nam trở nên dữ dội, nên đã gây những chấn động lớn lao vào tâm hồn của những quân nhân Sài Gòn cũng như mọi tầng lớp dân chúng. Như trong hồi ký của nhạc sĩ Phạm Duy phát hành đã dành chương hai mươi hai viết về Kỷ Vật Cho em và tác giả có đoạn :

“…Tôi hát bài này trước tiên tại phòng trà Ritz của Jo Marcel với ban nhạc Dreamers, rồi hầu hết các ca sĩ từ Thái Thanh, Lệ Thu, Khánh Ly qua Thanh Lan, Nhật Trường đều thu thanh vào băng nhạc. Bài hát trở thành một hiện tượng lớn của thời đó. Ở phòng trà, khi ca sĩ hát bài đó lên, bao giờ cũng có sự náo động nơi khán thính giả. Nếu là thường dân thì phản ứng cũng vừa phải, nhưng vì hồi đó dân nhà binh ở bốn vùng chiến thuật về Sài Gòn là đi phòng trà và khi trong đám thính giả có một sĩ quan đi nghỉ phép hay một thương phế binh là có sự phản ứng ghê hồn nơi người nghe. Có thể nói bài này gây một không khí phản chiến, nhưng có một cái gì cao hơn chính trị. Nó nói đến định mạng của con người Việt Nam mà ai cũng phải chấp nhận…”

Cuộc chiến tranh càng ngày càng trở nên khốc liệt, nhất là cuộc hành quân Lam Sơn 719 qua bên kia Lào. Có nguồn tin tôi đã nằm lại ở vùng Hạ Lào, không hiểu xuất phát từ đâu, và cái chết của Linh Phương tác giả Kỷ Vật Cho Em còn có bài viết của tác giả Trần Tường Trình đăng trên nhật báo Sóng Thần của ông Chu Văn Bình (tức nhà văn Chu Tử) và một số phân ưu chia buồn trên các báo khác. Rồi mặt trận Kampuchea bùng nổ, tôi lại được khai tử thêm lần nữa tại chiến trường này. Lúc đó, anh Thiện Mộc Lan ký giả báo Đuốc Nhà Nam đã cố công tìm sự thật về cái chết của tôi.

Sau nhiều ngày tìm hết chỗ này đến chỗ khác qua nhiều nguồn, ký giả Thiện Mộc Lan đã đến nhà nhạc sĩ Phạm Duy như tác giả bài báo đã kể : “…Chúng tôi chợt nghĩ đến nhạc sĩ Phạm Duy, hy vọng rằng giữa nhạc sĩ và nhà thơ có nhiều liên hệ từ lúc Kỷ Vật Cho Em ra đời, thế nào Phạm Duy cũng biết rõ về Linh Phương. Khi nghe chúng tôi báo tin Linh Phương đã chết, nhạc sĩ họ Phạm sửng sốt :

– Linh Phương mới thăm tôi cách đây nửa tháng mà. Lẽ nào …như vậy được. Ôi dzời ! Tôi nghĩ rằng anh ấy chưa chết đâu… “. Được nhạc sĩ Phạm Duy ghi cho địa chỉ, ký giả Thiên Mộc Lan tìm đến tư gia nhà thơ Vũ Trọng Quang và gặp tôi tại đây. Báo Đuốc Nhà Nam đã  đăng loạt bài 4 kỳ báo qua những tít :

1- “Nhà thơ có nhiều huyền thoại, tác giả “Kỷ Vật Cho Em” Linh Phương còn sống hay đã vĩnh viễn ra đi ?

2- Liên lạc khắp nơi Đuốc Nhà nam mới tìm ra tông tích tác giả Kỷ Vật Cho Em.

3- Linh Phương đã nói gì với Đuốc Nhà Nam.

4- Linh Phương thích làm thơ nhưng không mang danh “thi sĩ “.

Thực ra, không chỉ bài thơ Kỷ Vật Cho Em làm tốn nhiều giấy mực báo chí, mà còn có 2 bài thơ đăng cùng một số báo trên tờ tuần báo Khởi Hành của Hội Văn nghệ sĩ quân đội Sài Gòn, đó là bài thơ “Bài cho chiến trường Đông Dương” nói về những cái chết của người Việt Nam trên đất Kampuchea, Hạ Lào… và bài “Từ giã bọn mày” nói về thân phận của những Lao công đào binh. Tôi chỉ còn nhớ 3 khổ thơ của bài này như sau:

“Từ giã bọn mày mai tao lên núi

Mặc áo lao công đập đá xây thành

Làm bạn vắt mòng chung vui với muỗi

Đắp lũy thông hào chờ cuộc giao tranh

Từ giã bọn mày tao đi nhặt nốt

Võ đạn đồng rơi rớt giữa quê hương

Từ giã bọn mày tao đi nhặt nốt

Dưới ruộng- dưới đồng- những máu- những xương…

Từ giã bọn mày xin đừng đưa tiễn

Dù một lần tao làm gã tội nhân

Từ giã bọn mày mai tao xuống biển

Tay ngoằn nghoèo vẽ trọn chữ Việt Nam”.

Khi báo phát hành khoảng một giờ sau thì bị cảnh sát tịch thu tất cả những số báo còn lại. Đấy là trường hợp có một không hai vì đây là tờ báo của Hội văn nghệ sĩ quân đội.

Sau năm 1975, đúng hơn là 1978 tôi từ Côn Đảo lang bạt kỳ hồ về Cà Mau, ba chìm bảy nổi, bị người ta “đánh” tơi tả, không còn chỗ dung thân dạt về Kiên Giang cho đến bây giờ. Có những lúc tôi chảy nước mắt khi tự hỏi : “Tại sao người ta không sống với nhau bằng tấm lòng để cư xử với nhau tử tế hơn ?”

Có lẽ tôi lan man hơi nhiều, dù còn có biết bao chuyện quanh bài thơ Kỷ Vật Cho Em mà tôi chưa thể kể hết, chỉ hy vọng một ngày nào đó tôi viết một cuốn hồi ký, họa may mới dàn trải được số phận của bài thơ Kỷ Vật Cho em.

Nguyên văn bài thơ :

KỶ VẬT CHO EM

Em hỏi anh bao giờ trở lại

Xin trả lời mai mốt anh về

Không bằng chiến thắng trận Pleime

Hay Đức Cơ- Đồng Xoài- Bình Giả

Anh trở về hàng cây nghiêng ngã

Anh trở về hòm gỗ cài hoa

Anh trở về bằng chiếc băng ca

Trên trực thăng sơn màu tang trắng

Mai trở về chiều hoang trốn nắng

Poncho buồn liệm kín hồn anh

Mai trở về bờ tóc em xanh

Vội vã chít khăn sô vĩnh biệt

Mai anh về em sầu thê thiết

Kỷ vật đây viên đạn màu đồng

Cho em làm kỷ niệm sang song

Đời con gái một lần dang dở

Mai anh về trên đôi nạng gỗ

Bại tướng về làm gã cụt chân

Em ngại ngùng dạo phố mùa xuân

Bên người yêu tật nguyền chai đá

Thì thôi hãy nhìn nhau xa lạ

Em nhìn anh – ánh mắt chưa quen

Anh nhìn em – anh cố sẽ quên

Tình nghĩa cũ một lần trăn trối

LINH PHƯƠNG

Yên Huỳnh post

Trên đây là thông tin từ Linh Phương, còn trên diễn đàn đã có nghi vấn về bài thơ này, cho rằng Linh Phương “đạo thơ” ?!, Mời các bạn đọc một phản hồi sau đây, và các bạn cũng có thể phân tích ai mới là tác giả bài thơ.

Bài viết này được post trong blog “Một thời Sài Gòn” vào ngày 8/10/2011, có đường dẫn :https://cafevannghe.wordpress.com/  với tựa “Nghi án Kỷ Vật Cho Em”.

KỶ VẬT CHO EM…

THƠ CỦA AI ?

Bài thơ liên-quan bản nhạc Kỷ-Vật Cho Em của Phạm-Duy

Hơn 40 năm dài, từ năm 1969. Tình cờ qua trang của lính, tôi đọc được một bài viết của anh Tr/Tá Bùi Đức-Lạc PB ND liên-quan đến người bạn ND quá-cố của tôi xin chia – xẻ cùng anh em.

Bài nhạc nổi danh của nhạc-sỹ Phạm-Duy đã được nhiều ca-sỹ hát đi hát lại, nói lên nổi lòng của anh em trẻ đi vào cuộc chiến thuở bấy giờ thật xúc-động và ngậm-ngùi !

Sự thật tác-giả không phải của Phương-Linh (admin: tức Linh Phương) mà của Chuẩn-Nghị !

Chuẩn-Nghị tên thật là Nguyễn Đức-Nghị người Phan-Rang. Đi khóa 26 Thủ-Đức, anh ta viết nhiều thơ đăng trên báo Văn-Nghệ Tiền-Phong trong trang thơ của Lý Thụy-Ý phụ trách.

Năm 1969, tôi bị thương mới hồi-phục, Nghị đóng quân ở Bình-Điền khi lại thăm Nghị và các anh em trong đơn-vị cũ trong đó có Nguyễn-Trọng-Nhi, Trần Chí Mỹ, và các anh em khác.

Khi tâm-sự riêng với nhau, Nghị rất bực-tức về bài thơ mà anh làm gởi đăng báo Tiền-Phong lại được Phạm-Duy phổ-nhạc với tên tác-giả khác ! Người sĩ quan trẻ trong đơn-vị Nghị nhờ đưa bài thơ này cho Lý Thụy Ý lại giao cho nhạc-sỹ Phạm-Duy, thấy hay nên ông này làm bài nhạc luôn !

Trong bài thơ của Nghị là lời nhắn lại cho Nga người tình mà khi hữu sự Nghị biên thư cho tôi trao cho cô ấy. Hoàn cảnh đang bị bế tắc vì mẹ cô Nga không thích Nghị người miền Bắc ! Sau đó khi đi hành-quân ở Tây-Ninh Nghị tử trận.

Chuyện khiếu-nại với Phạm-Duy kể như im luôn và bài nhạc được phổ biến với lời thơ của Phương Linh mãi cho đến nay chỉ có một bài viết của anh cựu Tr/Tá Nhảy Dù Bùi Đức-Lạc đưa ra trở lại.

Bài thơ này Nghị viết bằng mực đỏ, cho tôi xem, nhưng vì lời thơ quá chán đời, tôi không chịu lấy, chỉ đọc qua thôi ! Trước khi tôi bị thương ở Vên Vên Đá Hàn, Nghị có tặng cho tôi bốn câu thơ cũng giọng thơ chán đời chết chóc, Nghị viết trong một miếng giấy khổ lớn cũng bằng mực đỏ và trao cho tôi trong phòng ngủ của đơn-vị, tôi cho là điềm xấu xé đi sau khi đọc nó.

Nghị nói : “Tao cho mày bốn câu thơ này làm kỷ-niệm ! Nếu tao có chết mày lấy ra đọc để nhớ tao !“ Tôi còn nhớ nó như sau :

“Ngày mai gục chết đau thương,

Thây ma vất-vưõng nơi phương trời nào .

Người yêu ai có nguyện cầu ?

Cỏ hoang xanh mọc lên màu lãng-quên ! “

(Chuẩn-Nghị)

Khi Nghi mất, đem xác về nghĩa-trang Quân-Đội Biên-Hoà, tôi và Nga có lên tiễn linh cửu lần cuối cùng để đưa về chôn ở PhanRang. Sau đây là bài thơ chánh mà Chuẩn Nghị viết lúc ấy gởi  báo Tiền Phong nhưng không đến. Xin gởi các bạn xem :

KỶ VẬT

Em hỏi

Xin trả lời mai mốt anh về.

Anh trở về không bằng Mũ Đỏ Áo Hoa,

Anh trở về không bằng huy- chương chiến-thắng.

Anh trở về trong chiều hoang chiếu nắng,

Trong hòm gỗ hoặc trên chiếc băng -ca.

Anh trở về nằm giữa vòng hoa,

Những vòng hoa tang chan-hòa nước mắt. 

Anh gởi về cho em vài kỷ-vật,

Đây chiếc nón sắt xuyên mấy lỗ đạn thù.

Nó đã từng che nắng che mưa,

Đã từng hứng cho anh giọt nước.

Chiều dừng quân nơi địa-đầu lạnh buốt,

Nấu vội-vàng trong đó nắm cơm khô.

Anh gởi cho em một tấm poncho,

Đã rách nát theo hình-hài năm tháng.

Lều dã-chiến trên đồi hoang cháy nắng,

Che cơn mưa gió lạnh buổi giao mùa.

Làm chiếc võng nằm nhìn đời lính đong-đưa,

Và….khi anh chết cũng poncho tẫn-liệm.

Nay anh gửi cho em làm kỷ-niệm,

Nhận không em chút tình lính này đây ?

Tình lính đơn-sơ vì chinh-chiến kéo dài,

Nhưng tình lính chỉ lạt phai

Khi hình-hài và con tim biến-thể.

Chuẩn-Nghị 1969.

Gởi các bạn một chút gì để nhớ lại thời son trẻ, mong những lời mọn này giải-tõa được u-uẫn của linh-hồn bạn tôi… Thân,

TT Phong

LỜI BÀN CỦA “CAO BỒI GIÀ” : theo lời bạn TT Phong xác nhận, nhạc phẩm “Kỷ vật cho em” do NS Phạm Duy phổ nhạc là từ bài thơ “Kỷ vật” của Chuẩn-Nghị. Nhưng từ nhiều năm nay trên diễn đàn văn nghệ, mọi người đều cho rằng Phạm Duy phổ từ bài thơ “Để trả lời một câu hỏi” của Linh Phương.

Vì nội dung 2 bài thơ “Kỷ Vật” của Chuẩn Nghị và bài “Để trả lời một câu hỏi” của Linh Phương về âm điệu không khác nhau, chỉ có vài câu được sửa chữa (không biết khi phổ nhạc, nhạc sĩ Phạm Duy có chỉnh lời cho đúng tông điệu hay không ? mà nhất định khi thơ phổ nhạc thì phải có sửa lại lời thơ cho lời hợp với âm giai).

Nhưng không hiểu tại sao bài thơ của Linh Phương “giống y chang” lời trong nhạc phẩm “Kỷ vật cho em” của Phạm Duy ? (xen phần Linh Phương post nguyên văn xác nhận bài thơ ở đoạn trên).

Còn nói về nhà báo Thiện Mộc Lan, Trần Tường Trình (còn có tên Trần Thanh tâm), Phan Bảo Quân (còn có tên Vũ Ngọc Đức) đều là bạn thân – đồng nghiệp – của Cao Bồi Già, thời bấy giờ có đưa tôi một bài viết từ tay ký giả Phạm Hồng Vân giao lại, nói rằng “mày làm scandal này đi, mai mốt có chầu nhậu”, nhưng tôi từ chối, bởi lúc đó tôi đang “làm báo chí” cho cơ sở Nguồn Sống của nhạc sĩ Ngọc Chánh, có tiệm bán băng nhạc Khai Sáng trên đường Công Lý, dưới lầu phòng trà khiêu vũ trường International Quốc Tế. Mà Ngọc Chánh đang ký độc quyền khai thác nhạc phẩm “Kỷ vật cho em” của Phạm Duy.

Cho nên lúc đó Chuẩn Nghị đã mất, người cầm bài thơ “Kỷ vật” định giao qua cho Lý Thụy Ý cũng không còn, vì thế không có đính chính các bài viết này. Và một câu hỏi đặt ra, chính Linh Phương cũng có nói dư luận cho rằng “tác giả Kỷ Vật Cho Em đã qua đời”, sao mà logic với phản hồi của bạn TTPhong về việc tác giả Chuẩn Nghị đã qua đời ?

Vậy các bạn có ai biết thêm chi tiết xin cho thêm lời phản hồi.

KINH HÃI

‘CHỢ ĐỘC DƯỢC’

HÀ THÀNH

Một nồi ngô luộc chỉ cần cho vài thìa “săm-pết” (còn gọi là muối diêm) là để cả tuần không thiu. Một nồi chè to chỉ vài viên “B1” là ngọt lừ như cho cả kg đường kính…

Đường hóa học tràn lan ở chợ !

Trong vai người tìm mua đường hóa học về luộc ngô, chúng tôi tiếp cận khu bán hàng khô của chợ Đồng Xuân – Bắc Qua (quận Hoàn Kiếm). Tại đây, chúng tôi được người bán hàng giới thiệu loại đường “mía”, có giá 55.000/gói 1kg. Thông tin trên bao bì gói đường in bằng tiếng Trung Quốc, mặt trước in hình bốn cây mía, mặt sau đề tên loại đường là “sodium cyclamate”. Hạt đường dạng tinh thể nhỏ màu trắng, dẹt và hơi dính.

Theo lời quảng cáo của người bán, loại đường này được nhiều người ưa chuộng bởi nó ngọt gấp 50 lần đường kính, vì vậy “một nồi ngô to chỉ cần cho khoảng 2 thìa đường là đủ luộc trong cả ngày”. Tuy nhiên qua tìm hiểu chúng tôi được biết, đường cyclamate thực chất là đường hóa học. Nguy hiểm hơn, đây là chất làm ngọt nhân tạo, không có giá trị về mặt dinh dưỡng và không có trong danh mục các phụ gia thực phẩm được phép sử dụng.

Tỏ vẻ chưa hài lòng về loại đường nói trên, chúng tôi hỏi về loại đường hóa học viên to bằng hạt đậu thì người bán hàng tại chợ Đồng Xuân khẳng định chắc nịch là có hàng nhưng muốn lấy thì phải chờ. Tất tả chạy đi một lúc, người bán hàng quay lại, mắt trước mắt sau ngó nghiêng dáo dác rồi lôi vội túi đường được phủ trong chiếc khăn tay và phân trần : “Trị an ở đây mà bắt được thì mệt lắm !”. Loại đường này cũng xuất xứ từ Trung Quốc, có tên gọi Tang Jing, được bán với giá 90.000đ/gói 500g. Người bán cho biết loại đường này rất ngọt, “một nồi ngô to chỉ cần cho từ 5-6 viên là đủ”.

Tiếp tục đi “mua đường” tại chợ Dịch Vọng (quận Cầu Giấy), chúng tôi được một người bán hàng cho biết ở đây có nhiều loại đường hóa học khác nhau, cả của Việt Nam và của Trung Quốc, giá cả giao động từ 20.000-300.000đ/kg. Chị này cũng tiết lộ thêm, mỗi loại đường chỉ hợp với một kiểu món ăn. Cụ thể, đường “B1” (viên đường có dạng giống viên thuốc B1) thường chỉ dùng cho nước dùng phở hay để pha nước chấm, còn đường “mía” và đường “dải lụa” thường được người mua cho vào chè hay nước luộc ngô vì có độ ngọt cao hơn. Khi PV hỏi mua, chị bán hàng mắt lấm, mày lét đảo một vòng để quan sát rồi mới ghé vào tai chúng tôi nói : “Cứ để lại địa chỉ, chị sẽ cho người mang đến tận nơi”.

Khác với hai chợ trên, tại chợ Ngã Tư Sở, đường hóa học được bày bán khá công khai ở các cửa hàng khô. Ngoài các loại đường đã đề cập ở trên như đường “mía”, đường Tang Jing hay “B1”, một người bán hàng ở đây còn đưa ra một loại khác. Loại này dạng viên giống đường Tang Jing nhưng hạt to hơn, nhãn mác bằng tiếng Trung Quốc và có giá 150.000 đ/gói 500g. Theo lời người bán, đường này còn ngọt hơn đường “mía” hay đường Tang Jing, vì thế giá cũng cao hơn.

Ngô luộc cả tuần không… thiu!

Không như đường hóa học được các chủ hàng khô bày bán công khai, “săm-pết” thuộc loại hàng hiếm và khó mua. Qua lời giới thiệu của những người bán hàng ở chợ Hôm (quận Hai Bà Trưng), chúng tôi tìm đến cơ sở chuyên bán thuốc bảo quản thực phẩm trên phố Hàng Buồm. Khi chúng tôi hỏi mua loại thuốc bảo quản để chống thiu thối cho ngô luộc, người bán đưa ra một loại thuốc có tên gọi là “săm-pết”, được gói trong bao bì không nhãn mác với giá 40.000đ/kg, dạng bột trắng và có mùi hăng rất khó chịu.

Theo lời người bán, một nồi ngô luộc chỉ cho từ 1-2 thìa cà phê “săm-pết” là để cả tuần cũng không hỏng. Người này cũng cho biết thêm: “Dạo này nhu cầu chưa cao nên cũng ít người đến mua loại này cho vào ngô. Phần lớn là họ đến mua “săm-pết” để ướp măng hay bảo quản thịt, xúc xích…”. Trong lúc chủ hàng đang thao thao về công dụng của loại hóa chất này thì một khách hàng dừng xe, tấp vào quán mua 4kg “săm-pết”. Ông chủ hàng thấy khách quen đon đả: “Tay này lấy “săm-pết” để chuyên ướp măng, không tin chú cứ hỏi chuyện”. Tưởng chúng tôi là người mới vào nghề, vị khách mua “săm-pết” về ướp măng thõng thượt buông một câu đầy kẻ cả: “Măng mà thiếu cái này (săm-pết – PV) thì coi như vứt!”.

Tại một cửa hàng, hàng khô trong chợ Mỹ Đình (huyện Từ Liêm), người bán đưa ra một túi bột màu trắng, không rõ nhãn mác với giá 15.000đ/100gram và quảng cáo: “Nhiều người đến mua loại này của chị lắm. Người ta ướp cả tấn măng để cả năm cũng không hỏng”. Khi được hỏi về tên gọi và xuất xứ, chị này cho biết chẳng rõ tên là gì, chỉ gọi nôm na là “thuốc chống thiu thối”, có điều, loại hàng này rất khó mua, nhiều khi phải lên tận biên giới mới có.

Quay trở lại chợ Đồng Xuân, khi chúng tôi hỏi mua loại thuốc bảo quản ngô luộc sao cho lâu thiu, một chủ hàng khô cho biết là có hàng nhưng phải đặt trước thì mới lấy về. Theo mô tả của người bán, loại thuốc này được đóng trong bao bì in tiếng Việt, có tên gọi “Thuốc chống mốc”, dạng bột giống hạt nêm, màu nâu, mùi hăng và giá rất cao, 290.000đ/gói 500g. Người bán cũng cho biết thêm: “Nhiều người không biết công dụng bảo quản thực phẩm của loại này vì nó được dùng trong công nghiệp!”. Có đi mới hay, độc dược đang được đưa vào miệng người dân ngay các chợ giữa Hà thành hoa lệ.

Lan caysu post (Theo GiadinhNet)

VÌ SAO BÃO

MANG TÊN PHỤ NỮ ? 

Nhân tiện Bà Chằng Sandy viếng vùng Đông Bắc Hoa Kỳ, hơn nữa lại có vài nữ Đồng Môn trú ngụ ở DC, nên bài này xin được chia sẻ cùng quý bạn ! Nhưng xin được thanh minh thanh nga trước là hòan tòan không có ý nói xa nói gần gì đến những Phái Yếu hiền dịu như ma sơ và xinh như mộng của chúng ta đâu đấy nhé 🙂

Vì sao bão mang tên phụ nữ ?

Trên thế giới, chỉ có Việt Nam là gọi bão theo số, còn toàn cầu đều đặt tên bão theo các danh từ mỹ mìều và thơ mộng vẫn dùng để gọi các cô gái dịu dàng và xinh đẹp. Đã nhiều lần tổ chức bảo vệ nhân quyền kêu ca về vấn đề này, và các quốc gia cũng thử sữa chữa. Nhưng than ôi, hễ đặt tên bão khác đi, thì hoặc nó không đến, hoặc tệ hơn nó đến mà hổng ai đề phòng, gây hậu quả thảm khốc.

Gần đây, các nhà khoa học đã tổ chức hội thảo, xem xét sự giống nhau và khác nhau giữa cơn bão và  “quý cô”. Cuối cùng họ đã đưa ra kết luận như sau :

Sự giống nhau:

1/- Bão và phụ nữ đều hình thành từ những vùng bí hiểm và từ những nguyên nhân bí hiểm. 2/- Đường đi của bão và phụ nữ đều không thể đoán trước. 3/- Cả phụ nữ và bão đều có thể bất ngờ mạnh lên. 4/- Cả 2 đều có kèm theo mưa. 5/- Cả hai đều có thể gây hư hại cho cây cối, nhà cửa và hoa màu. 6/- Trước khi bão tới và trước khi phụ nữ nổi giận, trời rất đẹp. 7/- Vật thổi tung trước tiên thường là quần áo. 8/- Phương pháp đề phòng tốt nhất là đóng cửa ngồi im trong nhà, 9/- Có nhiều tiếng nức mạnh. 10/- Muốn tồn tại đều phải biết sống chung. 11/. Ngay khi bão đổ tới và trước khi phụ nữ ra tay, trời đen tối và yên lặng lạ thường. 12/. Khi bão và phụ nữ ra đi, ta đều mất đi nhà, xe, và của cải, có khi mất luôn cả tánh mạng.

Còn sau đây là những điểm khác nhau cơ bản :

1/- Bão nổi lên theo mùa, phụ nữ nổi lên quanh năm. 2/- Bão tàn phá lung tung, phụ nữ nhiều lúc chỉ tàn phá 1 chỗ. 3/- Bão càng ngày càng yếu đi, phụ nữ càng ngày càng mạnh lên. 4/- Bão ồn ào mới đáng sợ, phụ nữ yên lặng càng đáng sợ hơn. 5/- Trời nổi bão khi khí lạnh về, phụ nữ nổi bão khi quý ông không về. 6/- Bão mạnh khi nó to, phụ nữ mạnh khi họ nhỏ. 7/- Muốn an toàn ta phải chạy xa bão, muốn an toàn ta phải lại gần phụ nữ. 8/- Bão làm đắm thuyền, phụ nữ làm đắm mình. 9/- Bão cần mây tan, phụ nữ chẳng cần mây gì hết.

Sau khi kết luận này đưa ra, chị em phản đối kịch liệt, đến mức các nhà khoa học phát hoảng, phải triệu tập khẩn cấp một cuộc họp so sánh bão với đàn ông và đưa ra bảng tổng kết là :

A/- Sự khác nhau giữa bão và đàn ông :

1/. Bão kèm theo sấm chớp, đàn ông chỉ kèm theo những lời hứa suông.

2/. Bão hay đổ bộ vào vùng quen. Đàn ông hay đổ bộ vào vùng lạ.

3/. Bão đôi khi không chịu vào bờ, đàn ông đôi khi không chịu xa bờ.

B/- Sự giống nhau giữa bão và đàn ông :

1/. Cả hai càng đi xa càng yếu đi.

2/. Cả hai nhiều lúc đều đe dọa rất cao rồi chả làm gì cả.

3/. Cả hai khi tàn đều làm ướt cảnh vật.

4/. Cả hai đôi khi chỉ được thiên hạ nhớ đến do sức tàn phá mà thôi.

Mỹ Nhàn post

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: