THÁNG 11/2012 CỦA BẠN

GIEO QUẺ THÁNG 11/2012

TỬ VI TÂY PHƯƠNG

Tháng 11, Kim Ngưu cần xem xét lại mọi thứ và chắc chắn rằng chúng vẫn đang nằm trong trật tự. Còn đây sẽ là tháng khá bận rộn với Bảo Bình.

Bảo Bình (20/1 – 18/2)

Tháng 11 sẽ là một tháng khá bận rộn. Về công việc, ngày 5 hoặc 6, bạn sẽ bắt đầu trăn trở về định hướng trong cuộc sống. Chắc chắn những cố gắng sẽ có thành quả tốt đẹp nên bạn cũng không cần quá vội vã.

Về tình yêu, đây là cơ hội tốt để bạn tìm kiếm một nửa của mình. Công việc và tình yêu được kết nối một cách mật thiết. Tuy nhiên, người ấy có lẽ đang để sự nghiệp lên hàng đầu và đây là điều bạn cần chấp nhận trong thời điểm này. Nếu bạn nghĩ bạn đã bị bỏ rơi thì đừng lo lắng hay phiền muộn vì bạn không thể lúc nào cũng là trung tâm của sự chú ý được.

Tâm trạng của bạn tốt nhất là vào nửa cuối tháng khi bạn trở nên mạnh mẽ và thông minh hơn. Bạn sẽ gặp những người khá thú vị và có ảnh hưởng đến bạn trong thời gian tới.

Song Ngư (19/2 – 20/3)

Tháng 11 mang lại cho bạn nhiều may mắn. Sự nhiệt tình và hài hước khiến bạn trở nên đặc biệt. Ngày 18, bạn có thể nắm bắt được các cơ hội rất nhanh chóng và tận dụng được tất cả lợi thế. Trong một vài tuần, bạn muốn phá vỡ thói quen sinh hoạt thường nhật của mình. Sự thay đổi có thể đem lại nhiều điều thú vị cho bạn, đặc biệt là những kế hoạch đi du lịch được lên lịch chắc chắn.

Trong lĩnh vực tình cảm, bạn có sự hấp dẫn và thu hút rất mạnh mẽ. Nhưng nên nhớ nếu bạn gặp một người mới, bạn cần phải nhận thức những nhược điểm của họ. họ có thể khá ổn trong ngắn hạn, nhưng nếu bạn cần một mối quan hệ lâu dài, thì bạn cần phải kiên nhẫn đấy.

Cuối tháng 11, bạn có nhiều năng lượng, và nếu tập trung vào tham vọng cốt lõi của mình, và không bị phân tâm, thì bạn có thể làm rất tốt trong sự nghiệp của bạn.

Bạch Dương (21/3 – 19/4)

Tháng 11, bạn sẽ muốn đạt được một thứ gì đó mới mẻ. Bạn cảm thấy mình có một lượng năng lượng khổng lồ trong tháng này. Tuy nhiên khi giải quyết những vấn đề với người khác, bạn không nên quá nhân nhượng.

Về tình cảm, tình hình sẽ khá là khả quan. Người ấy của bạn sẽ trở nên mạnh mẽ hơn, thông cảm với bạn nhiều hơn và ngay cả những vấn đề gần đây bạn mắc phải trong mối quan hệ của mình. Nếu bạn là một Dương Cưu còn cô đơn, một mối quan hệ mới có thể sẽ xuất hiện trong tháng này, nhưng đừng vội vàng quá.

Về phương diện công việc, có vẻ đây đúng là một tháng tuyệt vời của bạn. Tuy nhiên để đạt được kết quả tốt nhất bạn cũng không nên từ chối sự giúp đỡ của người khác, hoặc ít nhất là lời khuyên của họ.

Kim Ngưu (20/4 – 20/5)

Tháng 11, bạn cần xem xét lại mọi thứ và chắc chắn rằng chúng vẫn đang nằm trong trật tự. Ngoài ra, đây cũng là lúc rất thích hợp để chú ý hơn tới sức khỏe của mình.

Về mặt tình cảm, ngày 5 và 6, bạn sẽ gặp nhiều may mắn. Nếu bạn kiên nhẫn thì rất có thể sẽ đạt được những kết quả tuyệt vời vào ngày 21. Nhưng trước khi đưa ra quyết định, bạn nên ngồi lại và lắng nghe bằng cả con tim lẫn lý trí nhé.

Vào ngày 18 và 19, cuộc sống của bạn trở nên dễ dàng và thuận lợi hơn, những sự trì hoãn gần đây sẽ tự động bắt đầu trở lại. Bạn có lẽ cũng sẽ nhận thấy mình có được một sự may mắn lớn. Bạn bè cũng như đồng nghiệp có thể bất ngờ tặng quà cho bạn. Thậm chí, điều này cũng dự báo rằng một điều ước có liên quan đến những người khác của bạn sẽ bắt đầu thành hiện thực.

Song Nam (21/5 – 21/6)

Trong suốt tháng 11, mối quan hệ giữa bạn và những người khác có thể gặp chút sóng gió, và những tranh luận có thể đến từ những chuyện chẳng ra đâu. Tuy nhiên không có nghĩa là phải tránh các mối quan hệ. Và ngày 8 và 9, bạn sẽ rất ổn với những mối quan hệ hợp tác.

Về sự nghiệp, tháng 11 là một tháng thực sự tốt. Nhưng bạn cần phải cân bằng tham vọng với những điều bình thường. Tất cả các bước phải được thực hiện một cách hợp lý. Nói đơn giản, không được đi tắt!

Từ 18 đến 22, bạn sẽ có một nguồn năng lượng to lớn. Tuy nhiên, quan trọng là bạn ý thức được giới hạn của mình – quá nhiều năng lượng, cùng với sự thiếu quan tâm chi tiết, có thể gây ra thảm họa. Tuần cuối cùng của tháng 11, bạn hãy cố tránh rủi ro, đặc biệt là trong môi trường làm việc của bạn.

Bắc Giải (22/6 – 22/7)

Đôi khi các Cự Giải hay nghi ngờ bản thân mình. Thái độ này trong nhiều trường hợp hoàn toàn không thích hợp. Một khi Cự Giải tập trung hết sức thì sẽ làm tốt nhiệm vụ được giao, và bạn giỏi trong việc khắc phục sự đối lập. Ngày 5 và 6, Cự Giải sáng tạo vượt bậc và có những ý tưởng rõ ràng về các dự định ấp ủ.

Tháng 11 cũng đem lại những tin tức tốt đẹp cho các mối quan hệ. Và bạn sẽ tìm kiếm một cái gì đó sâu sắc hơn, lâu dài và bền vững hơn.

Tháng này, Cự Giải nên suy nghĩ nghiêm túc về kế hoạch đi du lịch. Đó sẽ là một hành trình khám phá, không chỉ đơn giản là một hành trình của niềm vui.

Hải Sư (23/7 – 22/8)

Tháng 11 không phải là tháng tuyệt vời nhất của Sư Tử khi bạn đang có xu hướng lùi sâu vào nội tâm của chính mình và tạo nên các rào cản. Tuy nhiên, thực tế, tháng này là thời gian để thư giãn, nạp lại năng lượng của bạn.

Gia đình bạn cũng nên được quan tâm nhiều hơn. Thông qua các hoạt động gia đình, cuộc sống của bạn sẽ hạnh phúc và có ý nghĩa hơn.

Về đời sống tình cảm, tháng 11 hầu như không có những thời điểm bùng nổ về cảm xúc. Nếu bạn đang tìm kiếm một người bạn mới, bạn cần thể hiện mình là người đáng tin cậy và tôn trọng những lời hứa.

Ngày 22 sẽ đem lại những thay đổi lớn. Bạn thú vị và hướng ngoại hơn. Ngoài ra, trong tuần cuối của tháng 11, bạn sẽ nhận được nhiều sự lãng mạn hơn. Bạn dễ dàng thể hiện bản thân và các phẩm chất đặc biệt của mình.

Xử Nữ (23/8 – 22/9)

Tháng 11 có lẽ không phải là tháng tốt nhất trong năm của Xử Nữ. Có kha khá rắc rối xảy ra và bạn bận rộn tới mức chẳng có thời gian nghỉ ngơi. Cần chú ý những căng thẳng có thể nảy sinh trong gia đình.

Sự nghiệp của bạn càng phát triển thì có nhiều người sẽ ghen tị với bạn. Điều quan trọng là để mọi thứ nằm trong tầm kiểm soát và tránh va chạm với những người khác. Về vấn đề tình cảm, sự lãng mạn sẽ được cất cánh. Và có lẽ một người đặc biệt nào đó đã sẵn sang để đưa ra quyết định cuối cùng.

Cuối tháng 11, bạn sẽ phải đối diện với một tình huống oái ăm được tạo ra bởi những người khác. Tuy nhiên đừng hoảng hốt vì bạn sẽ giải quyết được mọi chuyển ổn thỏa.

Thiên Xứng (23/9 – 22/10)

Tháng 11 là thời điểm để bạn nhìn lại một số thứ đã qua. Các kế hoạch có thể bị trì hoãn, điều đó khó tránh khỏi. Tuy nhiên vào khoảng mùng 5 và mùng 6, niềm hy vọng mới sẽ được nhen nhóm với những phương thức để giải quyết khó khăn.

Ngày 7, 8, bạn sẽ cảm thấy mình tràn trề năng lượng để làm việc. Điều này có nghĩa bạn hoàn toàn yên tâm khi gặp gỡ người khác. Các mối quan hệ đều đáng được quan tâm, và thực sự nó tốt đẹp hơn nhiều so với những gì bạn nhìn thấy. Cứ kiên trì và bạn sẽ tìm thấy điều mình thực sự trông đợi.

Vào ngày 18, bạn sẽ thấy mình trở nên mạnh mẽ và quyết đoán hơn. Khi giải quyết các vấn đề với người xung quanh, bạn nên bày tỏ rõ ràng quan điểm để tránh các bất đồng. Bạn cũng nên tránh tiếp xúc với những người có tư duy hướng ngoại quá mạnh, đặc biệt là vào cuối tháng.

Hổ Cáp (23/10 – 21/11)

Tháng 11, bạn sẽ cảm thấy thích thú với những trải nghiệm khác với bình thường. Nhìn chung đây là một điều tốt. Tuy nhiên, bạn không muốn quá vội vã ôm đồm cái mới, đặc biệt là những việc liên quan đến tiền bạc. Từ ngày 8 và 9, hầu bao của bạn có thể sụt giảm. Bạn hiểu nhầm những con số, số liệu và đưa ra một kết luận sai. Tuy nhiên, vào ngày 5 và 6, hãy đặt ra cho mình những mục tiêu mới, dẹp bỏ những điều trong quá khứ không còn hữu ích với bạn nữa.

Về mặt tình cảm, có thể người yêu bạn đang đưa ra những quyết định quan trọng. Và nếu bạn không thúc giục họ, thì kết quả cuối cùng sẽ khiến bạn thực sự hài lòng. Cuối tháng 11, Bò Cạp có thể bị “cám dỗ” làm những việc liều lĩnh, điều này sẽ dẫn bạn tới nhiều rắc rối. Vì vậy, cần luôn luôn tuân thủ những nguyên tắc của bản thân. Tránh những toan tính quá mức, bằng bất cứ giá nào.

Nhân Mã (22/11 – 21/12)

Tháng 11, bạn nên giữ thái độ thận trọng và dè dặt khi xuất hiện dấu hiệu của các rắc rối. Xét từ phương diện tinh thần, Nhân Mã trở nên khá hấp tấp, vội vã. Sự cả tin của bạn đôi khi khá nông cạn, thậm chí là thiếu thực tế. Vì vậy, nên bước chậm lại.

Về tình cảm, có người nào đó sẽ cảm mến và sẵn sang chiều theo ý bạn. Tuy nhiên, họ là những người khá nhạy cảm, vì vậy bạn cần đối xử thật nhẹ nhàng. Nếu là một Nhân Mã độc thân thì đây có thể là lúc bạn gặp được người thực sự phù hợp với mình.

Trong suốt nửa sau của tháng, mọi việc sẽ được cải thiện. Bạn sẽ trở nên tự tin hơn, và dễ dàng tiếp xúc với mọi người hơn. Trong suốt tuần cuối cùng của tháng 11, bạn có lẽ sẽ làm điều gì đó mà chưa suy nghĩ kỹ.

Nam Dương (22/12 – 19/1)

Trong tháng này, bạn sẽ hoàn thành công việc tốt nhất nếu làm việc một mình. Bạn cũng sẽ có vài lời đề nghị hấp dẫn. Vào khoảng ngày 7 hoặc 8, bạn nhận ra có một người đặc biệt có ích với bạn. Vấn đề là bạn nên phối hợp với người ta hơn là chỉ tin tưởng, và cùng tìm ra mối quan tâm chung.

Ngày 5 hoặc 6, bạn nhận ra những khao khát của mình hoàn toàn trong tầm với và với những chiến thuật đúng đắn, bạn sẽ đạt được những gì bạn mong muốn. Ngày 21, bạn nhận ra những ý tưởng của mình rõ rệt hơn, và nếu có một cơ hội nào đó đến với bạn, rất nhanh chóng, bạn sẽ nắm bắt được nó.

Từ ngày 18 trở đi, bạn có thể tìm ra những điều bổ ích từ một số cuộc hành trình, có thể là một hành trình bạn đã trì hoãn một thời gian dài. Tuy nhiên, chỉ cần bạn xê dịch từ A sang B, bạn sẽ nhận ra có vô vàn điều bổ ích đấy.

Quế Phượng post (theo Cu Thy Tinh)

A- KÍNH BÁO CÙNG BẠN ĐỌC

ĐAU ĐẦU CÁC NHÀ KHOA HỌC

XÁC CHẾT

BẬT QUAN TÀI

TÌM VỀ NHÀ

http://youtu.be/o1Yhj9YvIMM

Hình ảnh những xác chết đột nhiên đứng dậy và thản nhiên đi lại bình thường trên đường để tìm về nhà của mình có thể khiến nhiều người phải rùng mình sợ hãi. Tuy nhiên, đối với những người Toraja ở Indonesia, việc làm cho những thây ma biết đi dường như là một nghi lễ lưu truyền nhiều đời trong cuộc sống tâm linh của họ.

“Ma thuật” có từ lâu đời

Toraja là nhóm dân tộc bản địa sống ở vùng núi cao phía nam tỉnh Sulawesi, Indonesia (từ “Toraja” có nghĩa là “những người ở vùng đất cao”). Từ nhiều năm về trước khi vùng đất người Toraja sinh sống còn bị cô lập và dường như tách biệt với thế giới bên ngoài thì những tin đồn về ma thuật thần kỳ, làm cho xác chết đi đứng bình thường đã được nhiều người trên thế giới biết tới.

Theo những người già nhất trong bộ tộc, việc làm cho thây ma biết đi có từ thời xa xưa. Vào thời ấy, một cuộc nội chiến đã xảy ra giữa những người Tana Toraja ở phía Tây và người Tana Toraja ở phía Đông.

Người Tana Toraja ở phía Tây đã bị thua thảm hại và bị giết chết gần hết. Trong khi đó, người Tana Toraja ở phía Đông bị thiệt mạng ít hơn và hầu hết các chiến binh đều mang được xác của những người tử nạn về làng để chôn cất.

Ngược lại, do không thể mang xác của những người xấu số về làng, người Tana Toraja ở phía Tây đã nghĩ ra một cách đặc biệt để chôn cất những người chết. Sau đó, họ dùng một phương thức thần bí nào đó làm các xác chết biết đi và tự tìm đường về làng của mình. Kể từ đó, người Tana Toraja vẫn giữ “ma thuật” này và cho đến nay các thầy phù thủy chỉ thực hiện khi có yêu cầu của người nhà người quá cố.

Nghệ thuật bảo quản xác chết hoàn hảo

Từ năm 1905, các nhà khoa học đã tìm thấy những xác người còn nguyên vẹn, không bị phân hủy ở vùng đất này. Điều đặc biệt là dường như những xác người này không hề được tẩm ướp bất cứ một loại hóa chất nào, khác hẳn với phương pháp ướp xác được biết đến của người Ai Cập cổ đại.

Tuy nhiên, nhiều nhà khoa học vẫn nghi ngờ có một loại chất đặc biệt giúp bảo quản xác chết, nhưng cho đến nay họ vẫn chưa thể tìm ra câu trả lời.

Còn theo những người dân địa phương, cách thức chôn cất độc đáo của người Tana Toraja cùng với điều kiện thổ nhưỡng đặc biệt có thể là một trong những nguyên nhân quan trọng lý giải cho việc tại sao việc thây ma biết đi lại chỉ có duy nhất ở vùng Mamasa, Indonesia.

Khi một người trong làng qua đời, thi thể của họ sẽ được bọc bằng quần áo trước khi đặt vào quan tài. Sau đó, những người đàn ông sẽ khiêng chiếc quan tài ra nơi chôn cất của bộ lạc.

Điều đặc biệt là nghĩa địa của người Tana Toraja nằm cheo leo trên những vách núi đá vôi dựng đứng. Tại đây, người ta đục thành những ô vuông ăn sâu bên trong đá, đủ dài và rộng để vừa một chiếc quan tài.

Nhìn từ phía xa, những ngôi mộ nằm trong lòng núi trông giống những chiếc tổ chim bồ câu hay giống những ô cửa sổ của một khu nhà cao tầng. Chỉ những người đàn ông khỏe mạnh mới làm được công việc chôn cất vất vả này.

Ban đầu, họ dùng thang tre để bắc lên những khoang mộ trên vách núi và sau đó phải cần tới 4 đến 5 người mới có thể vận chuyển thi thể người quá cố lên vách núi thẳng đứng như tường trước khi đặt người chết vào nơi yên nghỉ cuối cùng. Cũng dễ hiểu khi đến gần những ngôi mộ, người dân không hề thấy mùi hôi thối bởi những xác chết không bị phân hủy mà khô quắt lại, trông như một xác ướp. Nhiều xác chết bước ra khỏi quan tài sau nhiều năm vẫn còn lông mi, lông mày, tóc và khuôn mặt hầu như không bị biến dạng hay thay đổi nhiều.

Theo những người dân nơi đây, việc những xác chết có “chất lượng” tốt như vậy có thể là do trong đá vôi ở vùng này có một loại chất giúp bảo quản xác người. Thêm vào đó việc những thi thể nằm sâu trong vách núi tránh được tác động của thời tiết hoặc sự đào bới của các loại động vật cũng có thể là một nguyên nhân dẫn đến việc các thi thể được giữ nguyên vẹn. Bởi lẽ, một xác chết sẽ không thể đi lại bình thường nếu như xương bị rời rạc mỗi nơi một chiếc.

Hành trình về nhà của những xác chết

Theo niềm tin của người trong bộ tộc, người chết phải quay trở về ngôi làng nơi anh ta được sinh ra để gặp mặt những người thân. Điều này rất quan trọng bởi vì họ sẽ hướng dẫn những kỹ năng giúp người chết bước vào một cuộc sống mới ở thế giới bên kia.
Trước đây, nhiều người lo ngại quãng đường trở về nhà của những thây ma quá dài, và sợ rằng những thây ma này lại “chết” một lần nữa trên đường đi, nên họ thường thuê một thầy phù thủy đi đằng sau, nhằm giúp dẫn đường cho những thây ma này trở về nhà an toàn.

Người chết phải tự thực hiện hành trình trở về nhà, bất chấp quãng đường đó xa hay gần. Sau khi được “làm phép”, xác chết có thể đi lại bình thường. Những thây ma di chuyển một cách cứng nhắc, trông giống như một rô-bốt và khuôn mặt dường như không biểu lộ bất cứ cảm xúc gì. Nếu một ai đó nói chuyện trực tiếp với xác chết, xác chết sẽ ngã xuống và không thể tiếp tục cuộc hành trình trở về nhà nữa. Do đó, một điều nguy hiểm trong hành trình trở về nhà của các xác chết là gặp những người còn sống và bị họ bắt chuyện.

Để hạn chế rủi ro, các thầy phù thủy thường tìm những con đường vắng vẻ, gần như không có người qua lại để các xác chết có thể tự do đi lại mà không bị làm phiền.

Làm xác chết biết đi bằng cách nào ?

Cho đến nay các nhà khoa học vẫn phải đau đầu đi tìm lời giải cho việc bằng cách nào mà phù thủy Toraja có thể khiến những xác chết đi lại và nhận biết được nhà của mình để trở về.

Câu trả lời được tạm cho là hợp lý nhất là việc các thầy phù thủy đã sử dụng một loại chất độc dạng bột nhằm đưa người chết sống trở lại trong trạng thái vô thức, trong một khoảng thời gian nhất định.

Theo đó, loại bột này được cho là chất cực độc đối với người sống do được chiết xuất từ những loài động vật rất độc trong tự nhiên như cá nóc, bọ cạp, nhện độc… Những chất này cũng được cho là tồn tại ở da và nội tạng của con sa giông, cóc, kỳ nhông, bạch tuộc vòng xanh…

Tuy vậy, đối với người chết, nó lại có tác dụng chẳng khác nào thuốc thần giúp cải tử hoàn sinh. Khi chất bột này được “thổi” vào những xác chết, nó sẽ kích thích hệ thần kinh đã chết hoạt động trở lại một cách vô thức như một cái máy.

Thường thì loại thuốc này sẽ làm cho các thây ma sống lại trong khoảng 3 ngày, đủ thời gian để tìm đường về nhà. Nếu muốn các thây ma sống lại lâu hơn, các phù thủy phải pha chế thuốc với tỷ lệ và liều lượng khác.

Mặc dù vậy, nhiều người vẫn tỏ ra không thỏa mãn với câu trả lời trên và cho rằng việc làm những thây ma biết đi chỉ là một trò ma thuật tà đạo của các phù thủy.

Ngày nay, người Tana Toraja cũng hiếm khi được thấy những thây ma tìm đường về nhà. Người ta e ngại rằng, chẳng bao lâu nữa câu chuyện về những thây ma biết đi sẽ lại chỉ có trong phim ảnh hoặc tưởng tượng. Bởi, ngày càng có ít người biết “ma thuật” này và ít gia đình nào có thể chi trả được chi phí cắt cổ cho việc thuê thầy phù thủy.

Cho đến ngày nay, việc làm cho những xác chết biết đi vẫn là một bí ẩn làm đau đầu các nhà khoa học Indonesia và thế giới.

Thực hư của sự thật khó tin này ra sao, có lẽ chỉ những phù thủy người Tana Toraja mới có câu trả lời xác đáng nhất. Dù dùng ma thuật hay không thì đây vẫn là một nghi lễ tâm linh quý, cần được cộng đồng người Tana Toraja và chính phủ Indonesia gìn giữ và bảo vệ.

Yên Huỳnh post

TƯỚNG NGƯỜI

QUA CÁCH NHÌN

Theo quan niệm“Nam ngoại nữ nội” dưới nhãn quang tướng học Á đông, những tướng tốt đối với đàn ông không bắt buộc phải là tốt với đàn bà. Chẳng hạn :

– Đàn ông mà trán cao, rộng, sáng sủa, đầy đặn là biểu hiện của trí tuệ sâu sắc, kiến thức rộng rãi, dễ thành đạt lúc thanh niên. Ở đàn bà, kẻ có tướng trán như vậy lại là kẻ long đong về đường gia thất.

– Đàn ông có lưỡng quyền cao rộng và nảy nở là tướng có thực quyền, quả cảm ưa phấn đấu. Ở đàn bà, quyền cao và nảy nở là kẻ có khí khái trượng phu, có khuynh hướng ăn hiếp chồng và khắc chồng.

– Đàn ông có tiếng nói cao và vang xa hoặc trầm hùng ngân lâu như tiếng chuông là tướng âm thanh thượng cách, chủ về thông minh tháo vát, hoặc công danh đầy hứa hẹn. Ngược lại, đàn bà mà có âm thanh kể trên lại là tướng âm thanh khắc phu, dâm loạn, phá bại hoặc trùng hôn.

Trong phép xem tướng diện mạo nữ giới, ngũ quan cần phải để ý đã đành nhưng ba bộ phận mà người xem tướng đặc biệt phải chú trọng là Mắt, Mũi, Môi và Miệng. Mắt cho ta biết được trạng thái qua tinh thần của nữ giới, Mũi chủ về chồng, Môi và Miệng liên quan mật thiết đến con cái.

Nói một cách tổng quát, đàn bà có mũi ngay ngắn, dài và đầy đặn, sắc da tươi mát và không có tỳ vết được xem là tướng vượng phu.

Miệng không lớn, không nhỏ, hay môi dày mỏng tương xứng, lưỡng quyền bằng phẳng không quá cao, không nổi, toàn thể da mặt hồng nhuận không có nốt ruồi. Tàn nhang hay bã chè làm mất vẻ mỹ quan là tướng ích tử.

Lục phủ (hiểu theo nghĩa rộng là toàn thể xương khuôn mặt) chủ về tiền tài, sinh kế mà người chồng có thể hưởng thụ khi lập gia đình với phụ nữ đó (*). Nếu khuôn mặt phụ nữ đầy đặn phúc hậu, xem tướng cân phân (trong trường hợp nếu là người gầy thì dĩ nhiên mặt không thể bầu bĩnh. Lúc đó, chỉ cần xương lưỡng quyền không lộcao, mặt mũi không hốc hác) là tướng vượng tài.

(*) Nói như vậy không có nghĩa là người chồng sẽ được hưởng của hồi môn mà chỉ hàm ý rằng nhờ sống chung với người vợ đó mà công việc làm ăn của người chồng sẽ vượng thịnh về mặt tiền bạc.

Dưới nhãn quan tướng học nam giới, người đàn bà có đủ cả tam vượng là người vợ lý tưởng trong đời sống gia đình. Nói khác đi, đó là loại cát tướng của phụ nữ.

Ngược lại, Mũi lệch cong queo hoặc trơ xương, lỗ mũi hếch hoặc quá ngắn là tướng lấy chồng khiến phu quân tổn thương, khắc hãm hoặc ly hôn. Vì vậy, tướng thuật có câu : “Mũi đàn bà là phu tinh”. Miệng quá lớn và mỏng, môi sáng hoặc trắng bệch, lưỡng quyền cao nhọn : vừa khắc chồng lại vừa lận đận về đường tử tức. Khu vực quanh mắt thâm đen, sâu hõm là tướng không con.

Đàn bà tối kỵ tướng cách cô thần nghĩa là mắt tròn và trắng dã, mũi hếch, môi vẩu và lộ cả chân răng, tai khuyết hãm, trán lẹm hoặc lồi, hoặc có loạn văn, đầu quá lớn, mũi sư tử, mũi sống kiếm mà lưỡng quyền cao rộng, mắt lồi, lông mày dựng đứng,thân hình quá ngắn mà mặt lại quá dài. Pháp lệnh quá dài và sâu lúc còn trẻ, tiếng nói như phèng la bể v.v… người có tướng cách cô thần vừa khắc chồng, vừa tổn con, về già cô đơn khốn khổ.

Về phong thái có loại phụ nữ vừa thoáng nhìn đã khiến ta sinh lòng tà vạy là loại dâm tướng, vì mọi cử động hành vi, ngôn ngữ, đầu, mặt, đuôi mắt đều khơi động xuân tình. Lại có loại phụ nữ thoáng thấy sinh dạ nể vì do ở ánh mắt nghiêm, tinh thần nghiêm túc, đó là tướng tôn quý; lại có tướng người vừa thấy mặt đã nảy sinh lòng coi rẻ là loại tiện tướng; còn loại người thoáng qua có cảm giác kinh sợ là tướng hình khắc.

Một số người khảo cứu về sự tương quan hợp hình tướng của đời sống nội tâm phụ nữ, sau khi quan sát và phỏng vấn một số phụ nữ thành gia thất đã phân chia phụ nữ thành 3 loại điển hình chính yếu sau đây :

1/- Loại hướng nội :

Loại có tâm hồn hướng nội, phần lớn có dáng người thấp, cổ ngắn, đầu khá lớn,miệng rộng, môi dày. Cá tính trội yếu của họ là trầm mặc, không ưa gây gổ lạc quan, dễ dàng thông cảm, thích ăn uống, tham lợi ích nho nhỏ, tâm địa thẳng thắn, không thích thủ đoạn.

Trong đời sống gia đình, họ là hiền thê, lương mẫu, thai kỳ đều đặn, chính thường, dễ sinh sản và lắm con, nấu nướng khéo, không ưa nhõng nhẽo, chung thuỷ với chồng.

2/-Loại hướng ngoại :

Phần lớn có dáng người cao và thon, vai xuôi mông nhỏ, tứ chi dài, mũi cao, môi mỏng cằm hơi lộ, cổ nhỏ và dà, da dẻ hơi khô và mỏng. Cá tính của họ dễ vui, dễ buồn, thích hoạt động nhưng mau chán.

Về mặt sinh lý, họ dễ bị bệnh phụ khoa, tính lãnh cảm. Trong đời sống gia đình, họ không ưa nấu nướng,kém tháo vát, dễ cáu kỉnh.

Xuân Mai post

Ông trời

Sau chầu nhậu ngoắc cần câu, một người trong đám nói :

– Trời cũng như con người vậy.

– Nghĩa là sao ?

– Thì trời cũng có : mặt trời, lưng trời, chân trời….

– Thế trời là đàn ông hay đàn bà ?

– Dĩ nhiên là đàn bà ! Vì trời cũng có bầu… trời nữa mà !

Đối đáp

Người đàn ông khoảng năm mươi tuổi, gặp một cô gái trẻ, bèn true : “Cô kia, cô kỉa, cô kìa, mặt mũi xinh xắn, cái kia thế nào ?”

Cô gái không phải tay vừa, đáp :

“Cũng xinh, cũng xỉnh, cũng xình, cũng như chúng mình có tóc, có lông.”

Rồi hỏi lại ông ta : “Anh kia, anh kỉa, anh kìa, dáng dấp chững chạc, cái kia thế nào ?”

Ông trả lời : “Cũng cưng, cũng cứng, cũng cừng, cũng nhảy tưng bừng khi thấy cái kia….”

Ngoan và không ngoan

Một bà mẹ dẫn cô con gái nhỏ đi xem triển lãm nghệ thuật. Trong phòng gồm có tất cả các tác phẩm về điêu khắc, hội hoạ, nhiếp ảnh.. Khi đi ngang qua một bức tượng khoả thân nam, vì tò mò cô gái kéo bà mẹ dừng lại và chỉ vào cái của quí của bức tượng mà hỏi :

– Mẹ ơi ! Cái này là cái gì hả mẹ

– Đó là một bộ phận trong cơ thể đàn ông thôi con ạ, à mình đi đi con !

– Không! Con muốn xem thêm một chút nữa.

– Thôi đi đi con, con ngoan đi lớn lên thế nào con cũng có được một cái.

– Còn nếu như con không ngoan thì sao hả mẹ ?

– À, nếu như con không ngoan thì con sẽ có… nhiều cái !!!

– ?!!

Thực hành

Giờ thực hành giải phẫu. Giáo sư đứng cạnh 1 xác chết, các SV chămchú theo dõi.

GS : “Muốn giỏi nghề này có 2 điều kiện, trước hết là không sợ bẩn, các cô cậu nhìn đây !”

GS cho 1 ngón tay vào hậu môn người chết, sau đó đưa ngón tay lên miệng thản nhiên mút, rồi bắt tất cả các SV lần lượt “thực hành”. Đến khi SV cuối cùng xong việc (và phun ra tại chỗ ^^), GS từ tốn nói tiếp : “Điều thứ 2 là cần phải có óc quan sát tinh tế. Lúc nãy tôi đưa ngón giữa vào, nhưng lại mút ngón trỏ.”

SV: !!!

Dạy con gái

Mẹ dặn con gái :

“Đi về trễ cẩn thận nghe con. Lỡ có bị chặn đường làm bậy thì con phải bình tĩnh, vui vẻ vén váy lên, bảo nó tụt quần nó xuống rồi mới bỏ chạy. Kiểu đó thì đố cha nó đuổi theo kịp con, nhớ chưa… Diệu kế diệu kế

Con gái : thế nhỡ nó không mắc lừa thì sao ạ ?

Mẹ : Số đó ít lắm… mẹ mới gặp có một lần nên mới có con ngày hôm nay đấy.

Con gái: ……….

Mỹ Nhàn post

Advertisements

KHÔNG CỦA RIÊNG AI (28)

LỄ HỘI

ĐIỆN HÒN CHÉN

Điện Hòn Chén nổi tiếng trên đất Huế, từ bờ sông Hương đi ngược dòng sẽ đến nơi có một gò cao như cái chén úp ngược, bên cạnh có một vực nước đen (theo tương truyền vực nước này không đáy là cung điện của Thủy Thần). Tuy là vực nước, nhưng có những luồng sóng to thường cuồn cuộn nổi lên, dân chúng cho rằng có con thuồng lồng khổng lồ đang lội ở đó. Vì thế dân địa phương gọi đây là Hòn Chén.

Trên Hòn Chén là điện thờ Bà Chúa Liễu Hạnh và Bà Chúa Ngọc tức Thánh mẫu Thiên Y Ana.

Thực ra Điện Hòn Chén có tên gọi Ngọc Trản Sơn hay đền Hàm Long, thờ Ngọc Trản Sơn Thần, nổi tiếng linh thiêng từ đời vua Minh Mạng (1820). Năm 1932 điện được trùng tu, năm 1886 được vua Đồng Khánh đổi tên đền Ngọc Trản.

Ngoài việc thờ chính Bà Chúa Ngọc Thiên Y Ana, trong điện còn thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Nên vào tháng 3 và tháng 4 ÂL, điện thường tổ chức các lễ vía Thánh mẫu Liễu Hạnh vào mùng 5 và 6/3 ÂL, và lễ vía Bà chúa Ngọc Thiên Y Ana các ngày 17 và 18/4 ÂL, khách về dự lễ hội rất đông.

Khi nói đến sự linh thiêng của điện Hòn Chén, có hai truyền thuyết như sau :   

– Khi vua Thiệu Trị (1841 – 1847) cho xây lăng gần đây, hoàng gia thường vi hành đến xem việc xây dựng, đi ngược dòng sông Hương qua Ngọc Trản Sơn tới vực nước đen, bà Hoàng phi (tức bà Từ Dũ, tên thật Phạm Thị Hằng 1810 – 1902) đánh rơi ống nhổ bằng vàng xuống đáy. Các thứ phi phần nịnh Hoàng phi, nên xin vua Thiệu Trị khấn Bà Chúa Ngọc xin tìm lại ống nhổ đó.

Nhà vua tuy không tin về sự linh thiêng của Bà Chúa Ngọc, nhưng vẫn miễn cưỡng khấn vái nữ thần trước mũi thuyền rồng để làm đẹp lòng các bà Hoàng, thứ phi của mình. Ai ngờ nhà vua thấy ống nhổ nổi lên trôi bềnh bồng trên sóng nước, liền cho người vớt lên. Thấy sự linh ứng của Bà Chúa Ngọc, vua Thiệu Trị long trọng hứa cho sửa sang và mở rộng ngôi đền.

Nhưng chưa kịp thực hiện thì vua Thiệu Trị băng hà, đến đời vua Đồng Khánh (1886 – 1888) đền mới được sửa sang và phong là Huệ Nam Điện (điện của Thánh Mẫu ra ân cho nước Nam). Dân chúng nghe đồn sự linh hiển của Thánh Mẫu Thiên Y Ana tìm lại ống nhổ cho bà Hoàng phi, ai ai cũng đến Ngọc Trản Sơn khấn vái Bà Chúa Ngọc để xin phước lộc cho gia đình.

Còn một truyền thuyết khác :

– Trước khi lên ngôi, vua Đồng Khánh còn là Hoàng tử có tên Chánh Mông tức Kiến Giang Quận Công rất mê tín, ông đến điện Hòn Chén khẩn cầu Bà Chúa Ngọc cho biết thời điểm nào được lên ngôi vua.

Đêm về ngủ nằm mộng thấy Bà Chúa Ngọc hiện ra báo tin, ngày giờ Hoàng tử được người Pháp thụ phong Hoàng đế và trị vì thiên hạ được đúng ba năm.

Quả thật giấc mộng trên đã đúng, nên vua Đồng Khánh càng tin việc ông làm vua chỉ trong 3 năm, nên từ đó rất thích đọc Kinh dịch mê bói toán, muốn tìm cho ra lẽ huyền vi để thay đổi số phận, đồng thời vua thường lên đền Ngọc Trản cúng bái, cầu khẩn, lệnh cho bộ Lễ mỗi năm hai kỳ Xuân, Thu phải thay mặt triều đình đến dâng lễ lên Thánh Mẫu, đổi tên điện là Huệ Nam Đàn.

Sợ và cầu khấn, dâng lễ vật cúng kiến như thế, nhưng vua Đồng Khánh cũng làm vua được đúng 3 năm theo giấc mộng đã được Bà Chúa Ngọc báo tin. Lúc đó vua Đồng Khánh nhuốm bệnh nặng băng hà vào ngày 28/1/1889.

Còn theo tương truyền do nhiều người trong cung đình thuật lại, trước khi chết vua Đồng Khánh thường la hét vì hay gặp những cơn mộng dữ, có lẽ nhà vua bị ám ảnh bởi cái chết của Phan Đình Bình, vị đại thần muốn tôn Bửu Lân (Thành Thái) lên ngôi vị thay vua Hàm Nghi đang bỏ trống bấy giờ.

Sau khi Đồng Khánh mất Bửu Lân cũng được Viện Cơ Mật và Khâm sứ Pháp đưa lên ngôi, tức vua Thành Thái.

(Trích trong cuốn Danh Thắng Việt Nam của Nguyễn Việt – đã xuất bản)

Lễ hội điện Hòn Chén năm Nhâm Thìn

Khác với mọi năm mạnh ai nấy chạy. Năm nay BTC lễ hội đã tập trung 130 “Bằng” có đăng ký, trên khoảng sông trước trường củ để cùng xuất phát đi điện Hòn-Chén. Khi di chuyển cũng là lúc các “Đồng” trên mỗi thuyền bắt đầu “lên” trong tiếng chầu-văn cùng nhiều nhac cụ được yểm trợ bởi hệ thống loa ầm ĩ vang vọng khắp đôi bờ Hương giang. Có thể nói đây là Ca-Ra-Van trên sông mà chẳng nơi mô có được.

Nhiều ngày trước đó du khách đến Huế tìm mướn thuyền rồng khó như hái sao trên trời vì phải cần 2 đến 3 ngày trang trí cho mỗi thuyền.

Lễ vật hành-hương

Gởi xe ở rìa đường trước lăng Thiệu Trị, trên đường vào bến thuyền (H1), khách hành hương gặp chừng 20 gian hàng cung cấp lễ vật và viết sớ như thế này (H2). Ngoài lễ vật trên các ‘bằng” (một loại thuyền trang hoàng cho từng nhóm người đến dự Lễ hội tại Điện Hòn Chén) thì đa dạng hơn và nhiều hơn. Môn sáp vàng, đặt sản vùng Cư Chánh. Không phải là lễ vật, được bày bán trên đường xuống bến thuyền khách hành hương vẫn mua mang theo vì món này không phải dễ có (H3).

Để an toàn cho khách sang sông, mỗi chuyến đò chỉ chở 30 người dưới sự giám sát của công-an (H4). Bên kia sông là điện Hòn Chén (H5). Vì nhiều lý do, khách hành hương có thể từ bờ sông đối diện cúng vọng qua (H6)

Áo, mão khách hành hương dâng cúng mẫu Thiên Y A Na (H7). Bàn thờ Mẫu được tôn trí ở thượng điện (H8). Trong khói nhang mờ mịt, người hành-hương cầu và xin. Sau đó chen nhau đặt tờ sớ lên bàn thờ Mẫu (H9).

Điện Hòn-Chén có chừng 10 công trình lớn, nhỏ thờ cúng các vị thánh thần khác nhau. Đã tới điện thì đều cúng khắp mọi nơi (H10). Thay vì phải chen lấn, anh chị này chọn nơi đây để cúng (H11). Gờ đá nhô ra cũng không sao, cúng cũng được (H12).

Ông “ba mươi” bằng đá được đặt trong một hộc xi-măng thò đầu ra ngài, được khách hành-hương chiêm bái, sau đó tưới nước lên đầu ông rồi dùng tay thấm nước thoa lên da mặt (H13). Gian hàng may sẳn, phục vụ các ”đồng” (H14). Các “con nhang đệ tử” bắt đầu vào vai nữ tế, dâng trà rượu lên Thánh Mẩu Thiên Y Ana (còn gọi bà chúa Ngọc) (H15)

Thuyền cung nghinh linh vị thánh mẫu (H16). Ngoài “bằng” của những am điện tại TT-Huế, lễ hội còn có sự góp mặt của nhiều địa phương miền Bắc và miền Nam. Chiếc “bằng” xịn này được dựng bởi nguyên bộ nhà rường cổ. Là nơi hầu đồng của “đồng cậu” nghệ sĩ hài Hoài Linh thuê khi về nước tham gia lễ hội (H17). Các “bằng” tuy hẹp nhưng đều dành diện tích thích ứng để tôn trí bàn thờ Mẫu (H18).

Nhiều lễ vật cổ truyền cũng như hiện đại được dâng cúng Mẫu (H19). Các con nhang đang “hầu bóng” (lên đồng), càng “lên” càng sung với bó nhang đỏ lửa (H20). Lộc “đồng” ban có khi là miếng cau trầu, lon bia, hoa, quả hay những tờ tiền mệnh giá nhỏ H21)

Lễ tục tại làng Hải Cát

Hằng năm dân làng Hải-Cát đều tổ chức Thu Tế, các thánh, thần thờ khắp các am, điện trong làng đều được thỉnh về đình làng.

Lúc 15g ngày 25/8 linh vị thánh mẫu Thiên Y A Na cũng được rước bằng thuyền từ điện Hòn Chén về đình để dự lễ tế được tổ chức lúc 2g đến 5g  26/8.

Trong ảnh là lễ cung nghinh linh vị thánh mẫu về lại điện Hòn Chén lúc 9g 26/8.

Đình Hải Cát được núi Kim Phụng che chở phía sau.

Yên Huỳnh – Quế Phượng post

MUA BÁN THÂN XÁC

ĐỊA NGỤC Ở TRẦN GIAN

Khi mua một cô gái chỉ mất khoảng 30 triệu đồng nhưng có thể bóc lột được 3 tỉ đồng từ thân xác cô, thì việc buôn bán phụ nữ đã trở thành ngành “công nghiệp đen tối” tàn bạo và siêu lợi nhuận như mafia buôn ma túy.

Phóng viên một tờ báo mạng đã thâm nhập vào thế giới này để tận mắt chứng kiến cảnh đời các cô gái ở địa ngục trần gian

Mây đen của cơn bão số 4 vần vũ kéo về, nhưng chợ vùng biên vẫn tấp nập người. Trên một đại lộ ở thị trấn Đông Hưng, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc, khu Xám Cáo (theo phiên âm của người dẫn đường) như một thế giới biệt lập với dãy nhà tồi tàn lọt thỏm giữa các tòa cao tầng. Tuy nhiên, đây lại là nơi có nhiều người tới lui.

Thấy chúng tôi vừa dừng xe, người đàn bà đang ngồi giũa móng tay cười lả lơi…

Phận người trong “hang chuột”

Cô gái có vẻ đã kiệt sức vì tiếp quá nhiều lượt khách mà bằng chứng rõ ràng là chiếc sọt rác đầy ắp bao cao su, đang nằm vật ra giường. Thấy khách chỉ ngồi hỏi chuyện, cô gái nhắc nhở thanh toán nếu không sẽ bị “bà chị” đánh vì mở buồng rồi. Hình như sợ ả tú bà nên hỏi gì cô gái cũng chỉ ừ hử qua chuyện. Mãi khi chúng tôi nói chẳng biết có dịp nào gặp lại đồng hương nên bao luôn ba suất, tức 600.000 đồng tiền Việt, cô mới tươi tỉnh trở lại.

Buồng cách xa chỗ “bà chị”, nhưng cô vẫn dè dặt thì thầm giới thiệu tên mình là Nga ở Trực Ninh, Nam Định. Nghe hỏi tự nguyện qua Trung Quốc hay bị lừa bán, Nga thở dài : “Hai năm trước, em bị một thằng cô hồn đểu ở Hà Nội lừa bán chứ ai thèm qua đây”. Cô kể sau hơn một năm bị ép bán dâm ở khách sạn, mình đã thành hàng dạt nên mới lay lắt ở Xám Cáo mạt hạng này.

“Bà chị” của Nga cũng quê Nam Định, từng bị lừa bán, rồi đưa đẩy thế nào lại cặp với một thằng ma cô Trung Quốc để thành tú bà chăn dắt gái khác. Xám Cáo trước là đất nông nghiệp, làm lò gạch ven thị trấn Đông Hưng. Nó là chốn chơi bời rẻ tiền cho giới lao động bản xứ và dân qua lại buôn bán khu mậu biên. Sau đô thị hóa đến, nhiều điểm mại dâm chuyển chỗ khác, kẻ còn lại cố bám trụ trên bãi đất đang ngày càng thu hẹp.

Các cô ở đây đều là người đã bị dạt sau thời gian làm việc. Nhiều cô tìm đường về nước. Một số cô bị nhiễm bệnh chán đời hoặc có hoàn cảnh gia đình, lay lắt ở ổ chuột này với giá bán mình chưa bằng nửa nơi khác !

Những ngày ở Đông Hưng, chúng tôi tiếp tục được thổ địa biên giới dẫn đi tìm hiểu thân phận các cô trôi dạt xứ người. Cũng như vùng biên mậu Hà Khẩu, tỉnh Vân Nam hay Pò Chài, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc, những khu “đèn đỏ” ở thị trấn Đông Hưng có đủ đẳng cấp ăn chơi cho kẻ lắm tiền lẫn dân bần cùng.

Hầu hết khách sạn đều có gái, nếu không cũng gọi đến được. Ngay khách sạn kế quán chúng tôi ăn trưa cũng có mười cô gái Việt đang ở trên lầu. “Các bạn uống rượu xong cứ vào khách sạn này cho em nó hầu, đi đâu làm chi” – gã chủ quán cười đểu. Nhưng nhiều nhất chính là các shop cắt tóc, massage. Lúc chúng tôi đến khu phố cũ (còn gọi phố cổ), một dãy “shop người” kín kín hở hở lả lơi mời chào.

Người dẫn đường dừng lại ở địa chỉ quen, bà chủ người Trung Quốc nắm tay kéo tuột chúng tôi vào. Ngay sau phòng khách bé xíu chỉ vừa đặt đủ chiếc bàn và vài ghế con là dãy buồng cho khách hành sự. Chúng cũng nhỏ xíu như hang chuột, nhưng sạch sẽ hơn và đều buông rèm chứng tỏ đang kẹt khách.

Tràn ngập chợ người

Ở vùng biên mậu Đông Hưng, phụ nữ cầm lái xe điện cũng sẵn sàng vui vẻ chở khách tìm đến điểm mại dâm trong vòng không quá 10 phút. Nhưng càng đi sâu vào nội địa, chúng tôi càng chóng mặt với các chợ tình dục đầy ắp kẻ mua người bán và hầu như công khai tất cả. Chính đám tú bà, tú ông cũng cho rằng chế độ một con ở Trung Quốc dẫn đến thiếu hụt nữ giới nghiêm trọng, nên đàn ông “ăn bánh trả tiền” để giải quyết ức chế sinh lý. Và đó chính là nguyên nhân khiến nhiều cô gái Việt sa chân vào con đường địa ngục xứ người.

Ngán ngẩm rời các khu “đèn đỏ” đầy phận người tủi nhục ở Đông Hưng, chúng tôi đón xe buýt ngược lên thị trấn Giang Bình, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. 12g trưa, mặt đường nhựa nóng như đổ lửa, nhưng trong xe buýt cũ kỹ càng ngột ngạt hơn khi nó vừa rời bãi đã dừng lại đón tốp khách khác thường. Ba cô gái không quá tuổi 18, gương mặt xinh đẹp nhưng buồn uất lọt thỏm giữa sáu gã lực lưỡng. Một gã phải cao hơn 1,8m, mập nần nẫn cỡ heo tạ có vẻ đại ca, đẩy cô xinh xắn và nở nang nhất ngồi ghế xe kế mình.

Mồ hôi, nước mắt ở Lình Coóng

Ở thị trấn Lình Coóng, tỉnh Quảng Đông, nhiều quán “đèn đỏ” còn tập trung lại với nhau thành từng khu để khách dễ tìm và cạnh tranh với các khu khác. Dân chơi bời không đủ tiền vào khách sạn, có thể đến các phố đầy tiệm cắt tóc, massage mà mới từ 7g sáng đã có các cô trẻ đẹp ăn mặc hở hang ngồi vẫy khách. Hầu hết các cô gái Việt ở Lình Coóng đều bị lừa bán qua. Sau khi bị bóc lột tàn tạ, các cô trở thành hàng dạt, không bị quản lý chặt nữa nên có thể tự tìm đường về nước. Một số cô đưa đẩy thành nhân tình hay vợ hờ của đám ma cô người địa phương để rồi lại làm tú bà chăn dắt, hành hạ các cô gái khác.

Mới nhìn cô thôn nữ Nghiêm Thị Thư có nước da trắng mịn, cao dong dỏng hơn 1,6m và ánh mắt trong veo ở tuổi 17, chúng tôi khó tin cô đã bị vùi dập gần một năm ở địa ngục xứ người. Cùng với ba bạn gái trẻ khác đồng cảnh bị lừa bán, Thư là “món hàng” cao giá, đắt khách nhất ở tiệm massage của “mẹ” Bạch ở Lình Coóng. Tú bà này 50 tuổi, quê ở Bắc Giang, cũng từng bị lừa bán sang lấy chồng Trung Quốc, rồi trở lại lừa những cô gái khác.

Tiệm bà Bạch nằm giữa con đường “đèn đỏ” có tên tiếng Trung dịch ra nghĩa Việt là Phố Cụt. Tuy là chủ Việt, nhưng mụ Bạch mua bán thân xác các cô gái cũng ồn ào không kém gì đám chủ chứa địa phương. 7g, Thư và các bạn Ly, Phương, Ba đã phải mặc quần ngắn, áo hở ngực ngồi vẫy khách ở tiệm massage mà bên trong là dãy “buồng” để hành sự.

Chiều khách xong, các cô được nhận tiền, nhưng ngay sau đó phải nộp không sứt mẻ một đồng cho bà chủ. Những cô trẻ đẹp như Thư nhiều ngày phải tiếp 40 lượt khách. Trung bình mỗi khách nửa giờ, các cô không có thời gian ngủ, thậm chí đánh lại lớp son phấn nhòe nhoẹt trong mồ hôi và nước mắt! Còn đám tú bà ngồi vắt chân, thu được hàng chục triệu đồng từ nỗi cay đắng, ê chề của mỗi cô gái.

Ngược trở lại con đường lừa bán các cô gái và phát hiện rằng buôn bán phụ nữ đã trở thành những đường dây cực kỳ tinh vi, thâm độc. Chính vì vậy, “thời xuân sắc” của các cô ở nơi bán dâm thường không quá 1,5 năm, nhưng tú bà không bao giờ thiếu “hàng” mới. (theo Quốc Việt)

NGƯỜI CHUYỂN GIỚI ĐẦU TIÊN

ĐƯỢC CÔNG NHẬN TẠI VN

Bạn biết chuyện giải phẫu chuyển giới tính ở Thái Lan chưa ? Nếu chưa, xin đọc trong bản tin số 251.

Mấy chục năm khổ sở sống cảnh “thân đàn ông kiếp đàn bà”, Phạm Văn Hiệp quyết định dành dụm tiền sang Thái Lan phẫu thuật chuyển giới. Trở về nước làm xét nghiệm y khoa và được chính quyền công nhận là “nữ”, cô gái sung sướng bật khóc.

Kể về cuộc đời nhiều thăng trầm đã qua và niềm vui được sống với giới tính thật của mình, chàng trai ngày nào giờ mang tên Quỳnh Trâm phấn khởi “khoe” với phóng viên báo giấy quyết định “Thay đổi cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính” do UBND một thị trấn tỉnh Bình Phước trao ngày 5/11/2009. Nội dung văn bản số 5876 QĐ/UBND ghi rõ: cho phép Phạm Văn Hiệp được xác định lại giới tính từ nam sang nữ và đổi tên thành Phạm Lê Quỳnh Trâm.

“Đó là mơ ước lớn lao bấy lâu nay nhưng tôi vẫn không dám tin đã thành sự thật. Tôi không thể nào diễn tả hết niềm vui khi được sống với giới tính thật của mình. Hạnh phúc lắm…”, cô gái đã chuyển đổi giới tính chớp mắt ngăn những giọt nước chực trào từ khóe mi.

Với chất giọng miền Nam nhỏ nhẹ, Trâm cho biết sinh ra tại Sài Gòn. Kinh tế gia đình khó khăn nên từ nhỏ Trâm đã cùng cha mẹ di cư đến vùng kinh tế mới ở tỉnh Bình Phước làm ăn sinh sống. Trâm là người song tính với phần “con gái” lấn át hơn, nhưng mang ngoại hình con trai nên từ lúc lọt lòng đã được gia đình “mặc định” là con trai.

“Khi bước vào tuổi dậy thì, tôi thấy cơ thể bắt đầu có những thay đổi như một người phụ nữ, ngực cứ từ từ lớn dần. Tôi lo sợ và không dám nói chuyện này với ai, chỉ biết giấu bằng cách ăn thật nhiều cho cơ thể mập lên để không ai biết”. Kết quả là chỉ sau một thời gian ngắn “che giấu thân phận”, cơ thể Trâm đã tăng từ hơn 40 kg lên 84 kg trong khi chiều cao chỉ 1,57 mét.

Từ nhỏ Trâm học rất giỏi nên luôn được thầy cô và bạn bè yêu mến. Năm học lớp một, với thành tích xuất sắc cô bé đã được đặc cách “tuyển thẳng” lên lớp hai. Mặc dù vậy, mang trong mình nỗi mặc cảm “nam không ra nam, nữ không ra nữ” nên Trâm chỉ thui thủi đi học rồi lại về nhà đóng cửa một mình. Tuổi ô mai, Trâm từng đem lòng yêu thương một người bạn nam nhưng luôn chôn chặt chuyện ấy trong lòng..

Học xong lớp 12, Trâm thi đậu đại học rồi học song song 2 trường: Đại học Kinh tế và Học viện Ngân hàng. Thời gian này cô gái bắt đầu biết đến Internet và lên mạng làm quen với bạn bè trong thế giới ảo. Mang trong mình khao khát được làm phụ nữ nên Trâm lập một nick name với tên con gái và dùng ảnh đại diện là một cô gái xinh đẹp lấy trên mạng. Nhiều chàng trai tìm vào làm quen và tán tỉnh. Rồi chị gặp và yêu một chàng trai Việt kiều sống ở Mỹ. Chưa bao giờ gặp mặt nhưng anh chính là người có ảnh hưởng lớn nhất đến cuộc sống của Trâm bây giờ.

“Chúng tôi thường chat và gửi email trò chuyện với nhau. Tôi kể cho anh ấy nghe hoàn cảnh của mình và anh rất thông cảm. Anh cũng thường xuyên động viên, an ủi tôi trong mọi việc và khuyến khích tìm lại giới tính thật”. Trâm cho biết, nhiều lần anh chàng kia xin cho xem webcame nhưng chị một mực từ chối vì sợ gây thất vọng cho “người yêu”.

Mong muốn được gặp mặt “người yêu” cùng với khao khát được sống với giới tính thật đã thôi thúc Trâm đi đến quyết định phẫu thuật chuyển giới. Năm 2006, xét nghiệm y khoa cho thấy lượng hormone cũng như đặc điểm bộ phận sinh dục của chàng trai Phạm Văn Hiệp thiên về giới tính nữ nhiều hơn nên các bác sĩ ở một bệnh viện tại Sài Gòn đã tư vấn sang Thái Lan để làm phẫu thuật.

“Hồi đó nhà tôi nghèo lắm làm gì có tiền mà đi Thái Lan. Nhưng vì đã quyết tâm nên tôi nghỉ học để đi làm thêm kiếm tiền”, câu chuyện cuộc đời được chủ nhân kể tiếp.

Từ đó Trâm dành toàn thời gian đi dạy thêm 3 môn “sở trường” là Toán, Lý, Hóa ở các trung tâm luyện thi trong địa bàn Sài Gòn. Cao điểm có ngày chị phải tăng ca gần 20 tiếng đồng hồ, đạp xe gần 20 km để “chạy sô” dạy kèm. Giờ ngồi nhớ lại, Trâm bảo : “Tôi đã xác định rồi, mình sinh ra với giới tính như vậy đã là không may mắn nên đòi hỏi phải nỗ lực gấp 4 người con gái bình thường. Dành dụm mãi rồi cũng có đủ tiền để qua Thái Lan”.

Với số tiền 250.000 USD có được nhờ dành dụm và sự giúp đỡ của “người yêu” ở Mỹ, Trâm đã dốc toàn bộ vào kinh phí đi lại và phẫu thuật chuyển đổi giới tính kéo dài trong vòng hai năm tại Thái Lan.

Nghĩ về quyết định táo bạo ngày ấy, cô gái đưa tay vuốt mái tóc xõa ngang lưng tâm sự: “Lúc đi tôi không dám nói cho gia đình biết vì sợ cha mẹ lo. Nhiều khi tôi cũng nghĩ nếu phẫu thuật không thành công, mình có thể bỏ mạng nơi đất khách quê người. Nhưng rồi nghĩ lại thà một lần phẫu thuật để được làm chính mình thì dù có chuyện gì xảy ra tôi cũng không hối tiếc”.

Nằm trên bàn phẫu thuật, Trâm cho biết mặc dù đã được gây mê nhưng vẫn thấy đau đớn như xé từng thớ thịt khi dao kéo lia đến những nơi nhạy cảm nhất trên cơ thể. Cầm tấm hình của người yêu trên tay, chị không ngơi hy vọng một ngày nào đó sẽ được đường đường chính chính đến gặp anh và nói lời yêu anh với tư cách là một người phụ nữ thực sự… Đó là động lực để chị tiếp tục chịu đựng những cơn đau tê tái.

Đến giữa năm 2008 sau khi trải qua phẫu thuật phần dưới, Trâm đã thực sự trở thành phụ nữ. Cũng trong năm đó, vị bác sĩ làm phẫu thuật thấy Trâm có khuôn mặt khả ái và làn da trắng đã đề nghị chị gửi ảnh tham gia cuộc thi Tiffany Show dành cho người đẹp chuyển giới tổ chức tại Thái Lan. Kết quả Trâm đã giành được giải thưởng phụ “người đẹp Tiffany qua ảnh”. Điều này động viên tinh thần rất nhiều cho chị.

Trở về Việt Nam, Trâm đã gửi đơn lên các cơ quan chức năng để được chuyển đổi giới tính và thay đổi tên trong giấy tờ tùy thân. Mặc dù gặp nhiều khó khăn vì từ trước đến giờ chưa có tiền lệ, song đến gần cuối năm 2009, sau khi làm xét nghiệm y tế, chính quyền địa phương và các ngành chức năng mới quyết định chấp thuận yêu cầu của chị. Ngày cầm tấm giấy quyết định trong tay, Trâm khóc như một đứa trẻ bởi nghĩ rằng “từ đây mình mới sống thật là mình”.

Hiện giờ hàng ngày Trâm rất thích mặc váy và tự tin hơn khi nói chuyện với mọi người. Chị dành nhiều thời gian đi học các lớp trang điểm, thẩm mỹ và làm MC trong một số chương trình văn nghệ. Sở hữu giọng hát truyền cảm và được nhiều thầy cô, bạn bè động viên, sắp tới Trâm định thử sức trong lĩnh vực ca hát. Chị dự tính sẽ tổ chức một live show nhạc trữ tình quê hương vào đầu năm 2013.

Hạnh phúc với cuộc sống hiện tại, song đến nay Trâm chỉ tiếc một điều là chưa có cơ hội gặp được chàng người yêu đang sống ở Mỹ bởi khoảng cách địa lý quá xa. Mặc dù vậy chị vẫn luôn nuôi hy vọng một ngày nào đó sẽ được gặp anh và tự tin sánh bước bên người yêu của mình.

“Trong sâu thẳm lòng mình, tôi luôn dành cho anh ấy sự kính trọng và ngưỡng mộ. Cũng như bao người phụ nữ khác, tôi ước mong sau này sẽ có được một gia đình hạnh phúc, một mái ấm và một người chồng hết mực thương yêu mình”, chị tâm sự. (theo Thi Trân)

Xuân Mai (tổng hợp)

CHỐN GIANG HỒ NÊN TRÁNH

Kính thưa quí bạn

Tuy là cái email nầy ngắn nhưng phần đầu quan trọng lắm, các bạn nên đọc chậm chậm. Mà thôi các bạn không đọc thì ráng chịu, mắc mớ chi tôi.

Hôm nay tôi muốn nhắc các bạn cẩn thận khi dùng email và internet. Ngày nay chuyện gian dối quá nhiều. Đã nhiều lần tôi thấy những email gởi đến kêu gọi gia nhập các trang web xã hội thí dụ như Face Book, như nhiều lắm quên mất tên… Cũng có nhiều trang web bắt đăng ký mới cho xem. Đa số bạn ta vô tình lọt bẩy. Internet là chốn giang hồ toàn là bí danh ẩn danh không, người lương thiện và kẻ ác đều y nhau, các bạn nên cẩn thận lắm lắm.

1/. Thí dụ ngày nào đó các bạn nhận được email của tôi gởi đến mượn các bạn chừng năm bảy trăm hay một vài ngàn đô vì lý do đi du lịch ngoại quốc bị mất hết giấy tờ và tiền bạc. Có bạn thấy thương tình bèn gởi tiền cho mượn. Té ra là đưa tiền cho kẻ gian.

2/. Chuyện điển hình khác là các bạn nhận được email thông báo vừa trúng rút thăm của Google, của Microsoft …. Được 500000 đô. Muốn nhận số tiền nầy thì các bạn phải ghi chi biết tên tuổi nghề nghiệp ngày sinh số account trong ngân hàng, địa chỉ…số phone… Vậy mà cũng có người mắc mưa kẻ gian khai hết “lý lịch” cũng như đăng ký “hộ khẩu”.

Hoặc có khi các bạn nhận được email nói rằng “tôi” là doc tờ XYZ, chức vụ nầy nầy trong ngân hàng (tên và địa chỉ lạ hoắc) thấy có số tiển vô chủ, nếu các bạn hợp tác với “tôi” thì mình chia đôi… muốn hợp tác thì cho tôi biết tên tuổi và gia phả ba đời của bạn. Hoặc tôi là nhân vật chức sắc ở quốc gia “Công Gô” có vài trăm triệu đô muốn chuyển ra ngoại quốc, nếu bạn họp tác thì tôi sẽ chia cho bạn vài triệu đô đánh bài chơi. Muốn vậy thì bạn đưa gia phả của bạn cho tôi.

3/. Chuyện gạt nhau khác khác nhẹ hơn là những webpage xin tiền phước thiện. Kế đó là loại email xin tiền để mỗ tim cắt bướu cho cháu bé mầm non Nụ Hồng nào đó. Gởi đi càng nhanh càng nhiều càng tốt. Các bạn lầm thì ráng chịu nhưng vô tình hại bạn bè khi forward chúng đi tiếp theo lời kêu gọi “càng nhanh càng nhiều càng tốt”. Tại sao loại email nầy có hại các bạn tự tìm hiều nói hoài mõi tay quá rồi.

4/. Chuyện thứ ba tinh vi hơn là kêu gọi ký tên thỉnh nguyện thư chống một chuyện gì đó.
Thí dụ qua email kêu gọi hãy log vô website nầy nầy để ký tên thỉnh nguyện thư  kêu gọi nhà “cầm đồ”  Lào ngưng xây đập trên sông Mekong (hay đem cầm nguyên cả đất nước), hoặc ký tên kêu gọi chánh phủ đừng làm một chuyện nầy chuyện nọ. Nhiều bạn thấy hữu lý vội vã lảm ngay mà không kịp suy nghĩ coi website đó là do ai làm ra, nhóm người lập ra đó là những người tin được không.

Khi mà các bạn ký tên vào “thỉnh nguyện thư” rồi thì có khi tên tuổi các bạn có khi được thu thập gởi về… để ghi vào sổ đen. Chuyện kế tiếp là có khi các bạn sẽ nhận được email xin vài chục đô gây quỉ. Nếu các bạn cho qua credit card thì eo ôi Ông Địa, người ta biết số credit card và lý lịch các bạn rồi, không biết tương lai họ có dùng credit card của các bạn  để mua hàng hóa hay đi Las Vegas đánh bài không. Ngay cả các bạn gởi biếu tấm check đi nữa thì số tiền trong check đó chạy vô túi ai các bạn đâu biết dù cho trên check ghi rõ là trả cho “Quỉ cứu trợ nạn lụt năm Ất Dậu”.

Ngày nay một đứa bé cũng có thể lập một webpage lớn để mọi người log vô thấy tưởng là do tổ chức nào có uy tính lắm. Có những website buôn bán hàng hóa khi log vô tưởng là của một công ty có hàng ngàn nhân viên, đâu có ngờ đó là webpage do một người duy nhất làm ra. Người nầy vừa là chủ nhân vừa là thơ ký cừa là nhân viên bán hàng vừa là nhân viên giao hàng.

Nhân đây nói them : Nếu các bạn thường dùng credit card để mua sắm qua Internet thì nhớ dùng cái credit card có mức tiền tối thiểu chừng $1500 thôi, đừng dùng cái credit card có limit vài chục ngàn đô.

Yên Huỳnh post

VÀO MÙA VU LAN (3)

XUẤT XỨ 2 TIẾNG

VU LAN

Rằm tháng 7 Âm lịch hàng năm là ngày xá tội vong nhân, dân gian gọi một cách nôm na là ngày cúng cô hồn. Nhưng đây cũng còn là ngày báo hiếu mà giới tăng ni Phật tử gọi là ngày Lễ Vu Lan. Vậy lễ Vu lanlễ cúng cô hồn có phải là một hay không ? Và đâu là xuất xứ của hai tiếng “Vu Lan” ?

Lễ Vu Lan bắt nguồn từ sự tích về lòng hiếu thảo của Ông Ma Ha Một Ðặc Già La (Maha Moggalyana), thường gọi là Ðại Mục Kiền Liên, gọi tắt là Mục Liên. Vốn là một tu sĩ khác đạo, về sau Mục Liên đã quy y và trở thành một đệ tử lớn của Phật, đạt được sáu phép thần thông rồi được liệt vào hạng thần thông đệ nhất trong hàng đệ tử của Phật. Sau khi đã chứng quả A La Hán, Mục Liên ngậm ngùi nhớ đến mẫu thân, bèn dùng huệ nhãn nhìn xuống các cõi khổ mà tìm thì thấy mẹ đã đọa vào kiếp ngạ quỷ (quỷ đói) nơi địa ngục A Tì. Thân hình tiều tụy, da bọc xương, bụng ỏng đầu to, cổ như cọng cỏ. Mẹ Mục Liên đói không được ăn, khát không được uống. Quá thương cảm xót xa, Mục Liên vận dụng phép thần thông, tức tốc đến chỗ mẹ. Tay bưng bát cơm dâng mẹ mà nước mắt lưng tròng. Mẹ Mục Liên vì đói khát lâu ngày nên giật vội bát cơm mà ăn. Tay trái bưng bát, tay phải bốc cơm nhưng chưa vào đến miệng thì cơm đã hóa thành lửa. Mục Liên đau đớn vô cùng, khóc than thảm thiết rồi trở về bạch chuyện với Ðức Phật để xin được chỉ dạy cách cứu mẹ.

Đức Phật cho Mục Liên biết vì nghiệp chướng của các kiếp trước mà mẹ ông mới phải sanh vào nơi ác đạo làm loài ngạ quỷ. Một mình Mục Liên thì vô phương cứu được mẹ dù ông có thần thông đến đâu và dù lòng hiếu thảo của ông có thấu đến đất trời, động đến thần thánh. Phải nhờ đến uy đức của chúng Tăng khắp các nẻo đồng tâm hiệp ý cầu xin cứu rỗi cho mới được. Bởi vậy, Phật dạy Mục Liên phải thành kính đi rước chư Tăng khắp mười phương về, đặc biệt là các vị đã chứng được bốn quả thánh hoặc đã đạt được sáu phép thần thông. Nhờ công đức cầu nguyện của các vị này, vong linh mẹ Mục Liên mới thoát khỏi khổ đạo.

 Đức Phật lại dạy Mục Liên sắm đủ các món để dâng cúng các vị ấy, nào là thức thức thời trân, hương dâu đèn nến, giường chõng chiếu gối, chăn màn quần áo, thau rửa mặt, khăn lau tay cùng các món nhật dụng khác. Ðúng vào ngày rằm tháng 7 thì lập trai đàn để cầu nguyện, thiết trai diên để mời chư tăng thọ thực. Trước khi thọ thực, các vị này sẽ tuân theo lời dạy của Ðức Phật mà chú tâm cầu nguyện cho cha mẹ và ông bà bảy đời của thí chủ được siêu thoát.

Mục Liên làm đúng như lời Phật dạy. Quả nhiên vong mẫu của ông được thoát khỏi kiếp ngạ quỷ mà sanh về cảnh giới lành. Cách thức cúng dường để cầu siêu đó gọi là Vu Lan bồn pháp, lễ cúng đó gọi là Vu Lan bồn hội, còn bộ kinh ghi chép sự tích trên đây thì gọi là Vu Lan bồn kinh.

Ngày rằm tháng 7 do đó được gọi là ngày lễ Vu Lan. Vậy lễ này có phải cũng là lễ cúng cô hồn hay không ? Không ! Ðây là hai lễ cúng khác nhau được cử hành trong cùng một ngày.

Sự tích lễ cúng cô hồn đại khái như sau :

Căn cứ theo “Phật Thuyết Cứu Bạt Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Ðà La Ni Kinh” mà suy thì việc cúng cô hồn có liên quan đến câu chuyện giữa ông A Nan Ðà, thường gọi tắt là A Nan, với một con quỷ miệng lửa (diệm khẩu) cũng gọi là quỷ mặt cháy (diệm nhiên). Có một buổi tối, A Nan đang ngồi trong tịnh thất thì thấy một con ngạ quỷ thân thể khô gầy, cổ nhỏ mà dài, miệng nhả ra lửa bước vào. Quỷ cho biết rằng ba ngày sau A Nan sẽ chết và sẽ luân hồi vào cõi ngạ quỷ miệng lửa mặt cháy như nó. A Nan sợ quá, bèn nhờ quỷ bày cho phương cách tránh khỏi khổ đồ. Quỷ đói nói : “Ngày mai ông phải thí cho bọn ngạ quỷ chúng tôi mỗi đứa một hộc thức ăn, lại vì tôi mà cúng dường Tam Bảo thì ông sẽ được tăng thọ mà tôi đây cũng sẽ được sanh về cõi trên”. A Nan đem chuyện bạch với Ðức Phật. Phật bèn đặt cho bài chú gọi là “Cứu Bạt Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Ðà La Ni”, đem tụng trong lễ cúng để được thêm Phước. Phật tử Trung Hoa gọi lễ cúng này là Phóng diệm khẩu, tức là cúng để bố thí và cầu nguyện cho loài quỷ đói miệng lửa, nhưng dân gian thì hiểu rộng ra và trại đi thành cúng cô hồn, tức là cúng thí cho những vong hồn vật vờ không nơi nương tựa vì không có ai là thân nhân trên trần gian cúng bái.

Vì tục cúng cô hồn bắt nguồn từ sự tích này, cho nên ngày nay người ta vẫn còn nói cúng cô hồn là Phóng diệm khẩu.Có khi còn nói tắt thành Diệm khẩu nữa. Diệm khẩu, từ cái nghĩa gốc là (quỷ) miệng lửa, nay lại có nghĩa là cúng cô hồn. Ðiều này góp phần xác nhận nguồn gốc của lễ cúng cô hồn đã trình bày trên đây. Phóng diệm khẩu mà nghĩa gốc là “thả quỷ miệng lửa”, về sau lại được hiểu rộng thêm một lần nữa thành “tha tội cho tất cả những người chết”. Vì vậy, ngày nay mới có câu : “Tháng bảy ngày rằm xá tội vong nhân”.

Vậy lễ Vu Lan và lễ cúng cô hồn là hai lễ cúng khác nhau. Một đằng thì liên quan đến chuyện ông Mục Liên, một đằng lại liên quan đến chuyện ông A Nan. Một đằng là để cầu siêu cho cha mẹ và ông bà bảy đời, một đằng là để bố thí cho những vong hồn không ai thờ cúng.Một đằng là báo hiếu, một đằng là làm phước. Sự khác nhau giữa hai bên là hiển nhiên, nhưng nhiều người vẫn cứ lẫn lộn. Chẳng hạn trước đây, ông Thái văn Kiểm cho rằng lễ Vu Lan và lễ xá tội vong nhân (fête des Trépassés) là một. Còn lễ cúng cô hồn (fête des âmes errantes) và lễ xá tội vong nhân (Pardon des Trépassés) chính là một thì ông lại xem là hai (X. Les fêtes traditionnelles Vietnamiennes, B.S.E.I., t. XXXVI, no1, 1961, pp. 64-65). Mới đây, hai tác giả Thích Minh Châu và Minh Chi cho rằng lễ Vu Lan là để cầu nguyện cho vong hồn những người đã chết không còn phải đọa cảnh khổ nữa (Từ điển Phật học Việt Nam, Hà Nội, 1991, tr. 795, mục Vu Lan bồn). Nhưng đây không phải là “những người đã chết ” nói chung vì như đã biết, đó chỉ là cha mẹ cùng với ông bà bảy đời mà thôi.

Yên Huỳnh post (theo An Chi – Huệ Thiên) 

Kinh Vu-lan và Báo ân cha mẹ  :   http://youtu.be/7OLJ6TxEIQg

– Mời nghe “Ngàn cánh hạc”

Vào mùa vu Lan mời các bạn nghe và đọc về những cánh hạc. Mời Click vào đường sẫn :  1-Birds-1-Cranes

AI LÀ THẦY CỦA NGÀI ?

Khi Hasan, một nhà hiền triết Hồi giáo sắp qua đời, có người hỏi ông : “Thưa Hasan, ai là thầy của ngài ?”

Hasan đáp : “Những người thầy của ta nhiều vô kể. Nếu điểm lại tên tuổi của các vị ấy hẳn sẽ mất hàng tháng, hàng năm, và như thế lại quá trễ vì thời gian của ta còn rất ít. Nhưng ta có thể kể về ba người thầy sau của ta.

Người đầu tiên là một tên trộm. Có một lần ta đi lạc trong sa mạc, khi ta tìm đến được một khu làng thì trời đã rất khuya, mọi nhà đều đi ngủ cả. Nhưng cuối cùng ta cũng tìm thấy một người, ông ta đang khoét vách một căn nhà trong làng. Ta hỏi ông ta xem có thể tá túc ở đâu, ông ta trả lời :

“Khuya khoắt thế này thật khó tìm chỗ nghỉ chân, ông có thể đến ở chỗ tôi nếu ông không ngại ở chung với một tên trộm.”

Người đàn ông ấy thật tuyệt vời. Ta đã nán lại đấy hẳn một tháng ! Cứ mỗi đêm ông ta lại bảo : “Tôi đi làm đây. Ông ở nhà và cầu nguyện cho tôi nhé !”. Mỗi khi ông ta trở về ta đều hỏi : “Có trộm được gì không ?” và ông ta đều đáp : “Hôm nay thì chưa, nhưng ngày mai tôi sẽ cố, có thể lắm chứ”. Ta chưa bao giờ thấy ông ta trong tình trạng tuyệt vọng, ông ta luôn hạnh phúc.

Có lần ta đã suy ngẫm và suy ngẫm trong nhiều năm ròng để rồi không ngộ ra được một chân lý nào. Ta đã rơi vào tình trạng tuyệt vọng, tuyệt vọng đến nỗi ta nghĩ mình phải chấm dứt tất cả những điều vô nghĩa này. Ngay sau đấy ta chợt nhớ đến tên trộm, kẻ hằng đêm vẫn quả quyết : “Ngày mai tôi sẽ làm được, có thể lắm chứ !”

Người thầy thứ hai là một con chó. Khi ta ra bờ sông uống nước, có một con chó xuất hiện. Nó cũng khát nước. Nhưng khi nhìn xuống dòng sông, nó thấy cái bóng của mình nhưng lại tưởng đó là một con chó khác.

Hoảng sợ, nó tru lên và bỏ chạy. Nhưng rồi khát quá nó bèn quay trở lại. Cuối cùng, mặc nỗi sợ hãi trong lòng, nó nhảy xuống sông và cái bóng biến mất. Ta hiểu đây là một thông điệp đã được gửi đến cho ta : Con người phải biết chiến thắng nỗi sợ trong lòng bằng hành động.

Người thầy cuối cùng là một đứa bé. Ta đến một thành phố nọ và thấy một đứa bé trên tay cầm một cây nến đã thắp sáng để đặt trong đền thờ. Ta hỏi đứa bé : “Con tự thắp cây nến này phải không ?”

Đứa bé đáp : “Thưa phải.”

Đoạn ta hỏi: “Lúc nãy nến chưa thắp sáng, nhưng chỉ một thoáng sau đã cháy sáng. Vậy con có biết ánh sáng từ đâu đến không ?”

Đứa bé cười to, thổi phụt ngọn nến và nói : “Ngài thấy ánh sáng đã biến mất, vậy ngài bảo ánh sáng đã đi đâu ?”

Cái tôi ngạo nghễ của ta hoàn toàn sụp đổ, pho kiến thức kim cổ của ta cũng sụp đổ theo. Lúc ấy ta nghiệm ra sự dốt nát của bản thân. Và từ đó ta vất đi tất cả những tự hào về kiến thức của mình.

Đúng là có thể nói ta không có một ai là thầy, nhưng điều này không có nghĩa ta không phải là một học trò. Ta xem vạn vật là thầy. Tinh thần học hỏi của ta luôn rộng mở hơn tất cả các người. Ta học hỏi từ tất cả mọi vật, từ cành cây ngọn cỏ đến đám mây trên trời kia. Ta không có một người thầy vì ta có hàng triệu triệu người thầy mà ta đã học được mỗi khi có thể. Điều thiết yếu trong cuộc sống là luôn làm một học trò.

Điều này có nghĩa là gì ? Nghĩa là có khả năng học hỏi, luôn sẵn sàng học để biết chấp nhận ý nghĩa của vạn vật.

Mai Trung Tín

TỰ LỰC VĂN ĐOÀN

NHỮNG NGƯỜI MẤT

CẢ VỐN LẪN LỜI

LTS: Nhân kỷ niệm 80 năm phong trào Thơ mới và ngày thành lập tổ chức văn học Tự lực văn đoàn, hội Nghiên cứu và giảng dạy văn học cùng với đại học Sài Gòn, khoa văn học và ngôn ngữ đại học Khoa học xã hội và nhân văn, khoa ngữ văn đại học Sư phạm và tạp chí Thế giới mới dự định mở toạ đàm “Phong trào Thơ mới và Tự lực văn đoàn – 80 năm nhìn lại” vào cuối tháng 9/2012. Chúng tôi xin trích đăng một bài viết có tính tư liệu độc đáo về xuất thân của các tay bút chủ lực của Tự lực văn đoàn do cố nhà văn Nghiêm Đa Văn ghi lại từ lời kể của mẹ nhà văn Khái Hưng. Tựa bài là : Mẹ tôi kể về Tự Lực văn đoàn : “Những người mất cả vốn lẫn lời”.

Mẹ tôi là con gái út cụ Cử Tiết : Nguyễn Đức Tiết . Ông ngoại tôi đỗ tiến sĩ đời Đồng Khánh, nhưng không thích mọi người gọi là ông Nghè, vì ông không nhận mũ mãng vinh quy của ông vua mới do Tây dựng lên, mà theo hịch của ông  vua cũ : Hàm Nghi thời ông đỗ Cử nhân, trưởng Nam. Ông ngoại tôi có ba người bạn đồng khoa : cụ Cử Nguyễn làng Xuân Cầu, cụ Cử Đặng làng Hành Khiển, cụ Cử Trần làng Cổ Am. (ông ngoại tôi là người làng Diêm Điền).

Tình bằng hữu của các cụ nhà nho  ngày xưa rất đặc biệt. Ông ngoại tôi theo cụ Tán Thuật làm quân sư trong cánh quân Sơn Nam hạ của cụ hiệp trấn Kinh Bắc Tạ Quang Hiện, dân gian gọi chủ tướng là Đề Hẹn, gọi quân sư là Đốc Tít.

Còn cụ Cử Nguyễn làng Xuân Cầu bỏ quan di dạy học. Cụ Cử làng  Hành Thiện theo quân triều đình làm  tham tán quân vụ. Cụ Cử làng Cổ Am thì di làm quan. Mỗi người một chí hướng, mỗi người một cảnh ngộ nhưng tình bạn trước sau  như một. Cụ Cử Trần làng Cổ Am làm quan đến tổng đốc đã nhận các con bạn “làm  giặc” về nuôi là con, cho ăn học thành tài.

Mẹ tôi kể : Cụ Cử Hành Thiện có các con trai là cậu Khóa Thiều. cậu Khóa Khu ; cụ Cử Xuân Cầu có bác giáo Hoan; ông ngoại tôi có bác Khóa Cảnh; cụ Cử Cổ Am có cậu Tú Dzư, cậu giáo Tiêu… Khi cụ tuần Trần Mỹ (tức cụ Cử Cổ Am) trị nhậm ở Thái Bình, Nam Định. tất cả các bác. các cậu đều về ở nhà cụ và học ở trường Thành Chung Nam Định, trừ một vài người đỗ vào trường bảo hộ tức trường Bưởi Hànội.

Người sớm có chí lo việc “quốc sự” là cậu Tú Dzư , tức Trần Dzư. Trần Dzư chống lại quyết định của bố, không chịu vào trường Hậu bổ, đào tạo các quan tri huyện. Vì trái ý cha. cậu Tú Dzư bị cắt hết  trợ cấp . Cậu ấm con quan bi đẩy ra cuộc đời  với hai bàn tay trắng, khi tuổi đời chưa tới hai mươi. Tú Dzư bôn ba Hà Nội, Hải phòng tìm bạn cùng chí hướng. Sau nhiều tháng thất nghiệp đói rét, Tú Dzư xin một chân thư ký một đại lý bán dầu hỏa ở huyện Cẩm Giàng và thị trấn Ninh Giang, trên đường quốc lộ nối liền Hà Nội – Hải phòng. Tại nơi này Tú Dzư gặp một người bạn dân gốc Quảng Nam, cả gia đình ra Bắc theo sự chuyển nhiệm sở của người cha, giữ một chức quan nhỏ. Cha chết, cả nhà ở lại. Người bạn đó là Tam. Tam có hai người em là Lân và  Long. Lúc bấy giờ anh Tam đã bắt đầu viết vài ba bài báo in trong tạp chí  của ông Phạm Quỳnh và đã in một cuốn sách nhỏ, Lân và Long còn đi học .

Mấy anh em thường quây quần bàn chuyện quốc sự, tức là việc ái quốc chống Pháp như tất cả các thanh niên có khí huyết hồi đó. Vì ý nguyện yêu nước mà cậu Tú Dzư nhận tên mình trùng với tên một danh tướng nhà Trần nên bỏ cách đặt tên ”Trần Cộc” tức là họ Trần không có tên lót hay tên đệm, tự đặt cho mình cái tên lót  “Khánh” trở thành Trần Khánh Dz­ư. Lấy việc bán dầu hỏa giống với việc bán than chờ thời để tỏ ý nguyện và cái chí của mình.

Làm thư­ ký đại lý bán dầu hỏa một thời gian. Tú Dzư ­cùng ba anh  em Tam, Lân, Long lên Hà Nội góp tiền mở một hiệu ảnh ở trước cửa chợ Đồng Xuân, đặt tên hiệu ảnh Hương Ký. Những người trẻ nhiều mơ mộng muốn cái việc chớp hình của mình ghi lại cái đẹp nhất của tục vật, cái hương của đời. Để thêm ngư­ời làm việc, cậu Tú Dzư­ vào Nam Định rủ thêm Cảnh là em nuôi, Tiêu là em ruột lúc bẩy giờ bị đuổi khỏi trường Thành chung vì tham gia phong trào bãi khóa đòi thả cụ Phan Bội Châu và đẻ tang cụ Phan Chu Trinh.

Mấy anh em tập trung vừa làm thấy vừa làm tớ ở hiệu ảnh Hư­ơng Ký nhỏ bé.

Cánh Nam Đồng thư­ xã của Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khắc Nhu, Phạm Tuấn Tài, Trần Huy Liệu, Nguyễn Phương Thảo… tìm đến bàn việc quốc sự với nhóm Hư­ơng Ký. Cảnh ly khai các anh theo nhóm Nam Đồng thư­ xã với chủ nghĩa Tam Dân : Dân tộc : độc lập, Dân quyền : tự do, Dân sinh : hạnh phúc, do ông Tôn Dật Tiên (bên Tầu) đề xướng. Còn anh em trong nhóm Hương Ký rất mê Thế kỷ ánh sáng của các triết gia Đức, Vônte, Montesquieu…

Cảnh vì giỏi tiếng Quan Thoại và nói được tiếng Quảng Đông được cử đi học thêm về chủ nghĩa Tam Dân ở Quảng Châu. Tại đây, Cảnh gặp Đinh Chương Dư, giới thiệu với Hồ Tùng Mậu và cử vào học lớp chính trị của Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội do Nguyễn Ai Quốc tổ chức. Vài năm sau, Cảnh tham gia lập Đảng Cộng Sản Đông Dương với chi bộ nòng cột bảy người ở 5D Hàm Long Hà Nội. Đây là chuyện của lich sử Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Nhóm Nam Đồng thư xã hoàn chỉnh học thuyết của mình thành lập Việt Nam Quốc dân đảng tổ chức cuộc khởi nghĩa Yên Bái chấn động lịch sử vào cuối năm 1929. Đảng Cộng Sản Đông dương phát động phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh. Cả hai phong trà đều bị dìm trong bể máu của khủng bố trắng.

Nhưng anh em trong nhóm Hương Ký vẫn kiên quyết theo đuổi đường lối quốc sự riêng của mình. Họ làm quen thêm với một sinh viên Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương ghi tên học theo  thể thức dự thính là Lễ, và một công chức Sở Tài chính là Hiếu, sau này kéo thêm một viên chức nhà Đoan là Diệu. Họ quyết tâm và đầy tự tin tiến hành một cuộc cách mạng văn hóa, cách mạng thơ ca, cách mạng văn chương, cách mạng lối sống… Vũ khí họ chọn là ngòi bút. Lịch sử 80 năm qua cho rằng họ thiếu dũng khí không dám cầm súng… Tài chính của họ là những đồng tiền ít ỏi góp nhặt từ những chiếc túi rách đời học sinh, gia sư, công chức hạng bét. Họ là những thanh niên vừa ở tuổi hai mươi, hầu hết vô danh, có người ngoài bài luận văn ở trường, chưa hề viết một bài thơ, một đoản thiên.

Họ góp tiền lại mua một “măng sét” (tên báo) của một anh chàng nhà giàu làm báo để mua danh : Báo Phong Hóa.

Với công cụ là một tờ báo vốn sinh ra là tờ lá cải, họ đã vươn lên thành trụ cột của phong trào Thơ Mới, xây dựng nền văn chương tiểu thuyết Việt  Nam hiện đại. Chàng sinh viên học thính thị Cao đẳng Mỹ thuật tên Lễ đã trở thành  con hổ nhớ rừng và là vị  chủ soái Thế Lữ của phong trào Thơ Mới. Anh chàng thư ký nhà Đoan tên Diệu trở thành nhà thơ Xuân Diệu, người tình muôn thuở của thi ca Việt Nam. Xuân Diệu kéo thêm một người em nuôi, người bạn chí cốt  một kỹ sư canh nông, sau thành nhà thơ Huy Cận. Anh cử nhân toán lý tên Tam thành ra nhà văn Nhất Linh, nhà chính khách Nguyễn Tường Tam. Cậu Tú Dzư, làm “tự mê’ cái tên Khánh Dzư thành Khái Hưng : trở thành hai cây đại thụ góp phần đặt nền móng cho nền  tiểu thuyết hiện đại của lịch sử văn chương Việt Nam.

Cậu Long, sinh viên khoa luật, trở thành nhà văn Hoàng Đạo, nhà lý  luận của nhóm, nhà văn luận đề đầu tiên của dòng tiểu thuyết luận đề Việt Nam. Cậu Lân trở thành nhà văn Thạch Lam, một trong những bậc thày của truyện ngắn Việt Nam. Cậu giáo Tiêu, trung thành với truyền  thống “Trần Cộc” không tên đệm thành nhà văn Trần Tiêu,  nhà văn viết tiểu thuyết đầu tiên của Việt Nam mô tả cái hồn của đời  sống nông thôn. Thầy ký sở Phi Năng tên Hiếu. họ Ngô, đệm Trọng trở thành thơ trào phong nổi tiếng : Tú Mỡ nối nghiệp Tú Xương .

Nhóm Phong hóa lập nên “Tự Lực Văn Đoàn” là một văn đoàn lớn , không nhận tài trợ của bất cứ ai, lập giải văn chương, giải thưởng khẳng định các tài năng văn học Việt Nam như Anh Thơ, Tế Hanh, Nguyên Hồng,  Đỗ Đức Thu, Đỗ Tốn…

Sau này, Tự Lực Văn Đoàn ra tờ Ngày nay và nhà xuất bản Ngày Nay. Phần lớn những tác phẩm quan trọng nhất của lịch sử văn học Việt Nam đã ra mắt bạn đọc trên  các tờ Phong Hóa, Ngày Nay, nhà xuất bản Ngày Nay.

Con cái của bốn người bạn đồng khoa ngày nào, riêng Khóa Cảnh tức Nguyễn Đức Cảnh, bí thư cộng sản đầu tiên của Hải phòng, Quảng Ninh, lãnh đạo phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh, bị tử hình cũng là một thà thơ cách mạng. Giáo Hoan sau kết  giao với nhà xuất bản Tân Dân, Tiểu thuyết thứ bảy thành nhà văn Nguyễn Công Hoan; Khóa Thiếu, khóa Khu là Đặng  Xuân Thiều, Đặng Xuân Khu là những nhà thơ cách mạng. Riêng Đặng Xuân Khu có bí danh là Trường Chinh, khi làm thơ ký tên Sóng Hồng.

Mẹ tôi bảo, các cậu, các bác không chỉ là con cái của bạn đồng khoa mà đều có họ hàng đằng mẹ với nhau. Vì theo lệ  của các bậc khoa bảng Bắc  Hà, khi thành đạt, họ thường được cha mẹ kén cho những người vợ ở làng Cổ Am. Đất Cổ Am có tiếng “đẻ” ra quan. Dân gian vì thế có câu : “VÚ Đồ Sơn, L… Cổ Am”. Ba người bạn đồng khoa đều lẩy con gái nhà họ Trần, một họ lớn cuả làng Cổ Am do chính bạn mình là cụ Cử Trần My mồi lái.

Nhắc lại chuyện cũ, mẹ tôi thường thở dài và cười :

– Hồi ấy, để có tiền mua bảng hiệu “nhật trình” Phong Hóa, các bác, các cậu “ăn dỗ” đám các chị  em  gái. Cậu Tú Dzư lột của tao đôi khuyên vàng, một bộ xà tích vàng… hứa là khi nào làm ra, ăn nên sẽ trả nhưng cho tới nay, tao mất cả vốn lẫn lời.

Không chỉ mẹ tôi mất cả vốn lẫn lời mà tất cả nhũng người thân của mẹ  tôi, những người  lập nên Tự lực văn đoàn đều mất cả vốn lẫn lời như mẹ tôi. Chỉ có nền văn hóa dân tộc là được những viên gạch đặt nền móng cho nền văn chương hiện đại. Nhưng sau này những người xây lâu đài trên nền móng đó vẫn chưa thực sự công nhận những viên gạch đó là nền móng văn chương nước nhà.

Mẹ tôi là con gái út của cụ cử Tiết, là em út của tất  cả những người  anh cùng họ bên ngoại làng gổc Cổ Am. Mẹ tôi là Thừa, Nguyễn Thị Thừa.  Mẹ tôi đã kể những chuyện này.

(theo Nghiêm Đa Văn – Bài đăngtrên Văn học & Dư Luận số 5-1992)

BÁC KHÁI HƯNG

TRONG MẮT TÔI

Ngày đó, tôi còn nhỏ, được cha mẹ gửi lên Hà Nội ăn học. Có lúc ở nhờ nhà ông chú trong Hà Đông, lắm khi lại đến ở với bác Khái Hưng. Tới giai đoạn tờ Phong Hoá bị đóng cửa, nhóm Tự lực văn đoàn dồn sức cho tờ Ngày Nay thì tôi về ở hẳn với vợ chồng bác. Nhóm Tự lực văn đoàn, ai cũng nhà cửa tươm tất, riêng bác tôi lấy toà soạn làm nhà. Cơ ngơi của báo Ngày Nay là một căn nhà hai tầng nằm ở số 80 phố Quán Thánh. Toàn bộ tầng dưới là nhà in. Tầng trên có ba phòng. Một phòng tiếp khách kiêm thư viện, lưu trữ rất nhiều sách quý. Phòng rộng hơn cả là nơi bác tôi làm việc như một tổng biên tập. Cứ đến cuối tuần, thì căn phòng này lại trở thành điểm hẹn của giới văn nghệ sĩ. Họ đến đông lắm, người hát, người ngâm thơ, người chơi đàn. Thi thoảng, lại có những đêm ca trù. Còn một phòng nữa dành cho hai vợ chồng bác.

Không khí của một toà soạn báo, khỏi phải nói ai cũng biết, lúc nào cũng tấp nập. Nhất là mỗi bận ra báo, cả nhà in chạy rầm rập, đến nỗi sàn gỗ tầng trên rung bần bật. Tôi đang ở tuổi ăn, tuổi ngủ cũng không thể ngủ được. Ấy vậy mà bác tôi thì cứ viết văn, viết báo, biên tập, dịch sách đều đều, quên ngày, quên đêm. Thấy ông vắt kiệt sức như thế, tôi cứ tưởng bác mình… bất hạnh lắm. Sau mới nhận ra, kỳ thực, ông đang rất thoả nguyện. Phải chứng kiến những khi ông háo hức giở từng trang báo vừa in xong, còn nguyên mùi mực, mới cảm nhận hết niềm hạnh phúc của ông. Thế nhưng, bác gái tôi mới là một người vô cùng đặc biệt. Rất kiệm lời và luôn nhỏ nhẹ, khoan thai, bà như một hình bóng lặng thầm, nhưng rất đỗi dịu mát giữa toà soạn báo ồn ã, náo nhiệt ấy.

Cuộc sống khó khăn, bữa cơm nhiều khi chỉ có canh với rau muống luộc. Nhưng từng ngọn rau muống vẫn được bà tỉ mẩn bày gọn ghẽ, đều tăm tắp trên đĩa. Sự chăm sóc giản đơn mà tinh tế ấy đã thổi vào cái tổ ấm tạm bợ của ông bà chút hơi hướng gia đình thực sự. Không có con, bà gắn bó toàn vẹn với chồng. Bởi thế, khi nghe tin ông mất, cuộc sống với bà không còn ý nghĩa. Bác gái tôi cũng ra đi ngay sau đó.

Những năm tháng sống bên bác Khái Hưng, tôi có cơ hội thường xuyên gặp gỡ các thành viên của nhóm Tự lực văn đoàn. Tuy đồng chí hướng, nhưng mỗi người một tính cách. Nhà văn Nhất Linh là người có sức ảnh hưởng rất lớn đến đồng nghiệp, và là một nhà chính trị thực thụ. Nhờ tài tổ chức, quản lý và những ý tưởng mạnh bạo, tiên tiến của ông nên tờ Phong Hoá và Ngày Nay mới phát triển rực rỡ như thế. Tôi vẫn nhớ, hồi đó, mỗi lần ra báo là bạn đọc háo hức đón đợi trước cả tuần. Cánh sinh viên, học sinh mê mệt các cây bút chủ lực của báo, nhất là Khái Hưng, đến nỗi đứng chờ hàng giờ trước cửa toà soạn để mong gặp mặt.

Nhà văn Trần Tiêu, cha tôi, thì lại là một người vui tính, hóm hỉnh. Năm 1933, bà nội tôi tuổi cao sức yếu, bác Khái Hưng không thể rời toà soạn nên cha tôi thay anh về Hải Phòng chăm sóc mẹ già. Vì thế, ông được giao viết mảng nông thôn. Hầu hết những nhân vật của ông đều có nguyên mẫu là người làng, nên khi đọc, thấy rất thân thuộc, gần gũi. Cha tôi quan sát rất tinh và truyền tải những cảm nhận của mình vào tiểu thuyết bằng giọng điệu hài hước. Cho dù là khen ngợi hay phê phán thì cũng dễ nhận ra ông có một tình yêu thực sự với nông thôn.

Trong mắt tôi, Khái Hưng là một con người tuyệt vời, một tâm hồn nghệ sĩ tràn đầy mộng mơ, hồn nhiên, trong trẻo và ngây thơ đến kỳ lạ. Ông nhìn cái gì cũng thấy tươi mới, thậm chí nhìn cái cũ cũng vẫn thấy mới. Ông rất yêu động vật, thường dành cả tiếng chơi đùa với con mèo cưng. Ông cũng rất yêu cây cối. Lúc đầu, tôi cứ tưởng bác tôi thơ thẩn bên hoa cỏ là để lấy cảm hứng viết văn. Nhưng, hoá ra, ông yêu thiên nhiên thật. Có khi bác gọi giật tôi lại, chỉ để chỉ cho tôi thấy một con cánh cam óng ả, một con chuồn chuồn ớt đỏ rực trong nắng. Hoặc có khi tôi bắt gặp ông cầm cái que nhỏ, thích thú đấu kiếm với… con bọ ngựa đậu trên cây. Sự hồn nhiên quá đỗi ấy, cộng thêm sự ngây thơ hiếm thấy trên đời, đã khiến bác tôi gặp nạn. Ông bước vào chính trị theo kiểu… a dua, chủ yếu vì trọng tình bạn keo sơn với nhà văn Nhất Linh. Không ít lần ông tính theo cách mạng, vì một tình cảm cũng rất hồn nhiên, nhưng lại nể bạn mà thôi. Trong thời điểm Nhất Linh và những nhân vật chủ chốt khác bỏ chạy ra nước ngoài thì ông bình thản ở lại toà soạn, hồn nhiên thông báo: “Mình sẽ đi theo kháng chiến”. Hôm đó, sốt ruột không biết bác mình ra sao, tôi tìm đến toà soạn báo Ngày Nay. Đúng lúc ông chạy ra đón tôi thì xe điện xình xịch lao qua. Đến giờ tôi vẫn còn nhớ, bác tôi vẫy tay chào và hét to: “Mai bác đi kháng chiến!” Đó là lần cuối cùng tôi được gặp bác Khái Hưng. (theo lời Trần Bảng do Hương Lan ghi)

Đôi lời về nghệ sĩ Trần Bảng

Ngay từ nhỏ, Nghệ sĩ Trần Bảng đã được cha và bác hướng theo con đường văn chương. Bài học đầu tiên cậu bé Trần Bảng tiếp thu là: nếu đã mê cuốn sách dịch nào thì phải tìm cách đọc bằng được bản gốc, tức phải biết thật nhiều ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh, Pháp, Trung. Thấy ông bắt đầu với các tập truyện ngắn hiện đại, các cụ liền giáo huấn : “Đã đọc văn học nước ngoài, phải đọc từ cổ điển”. Và thế là, Bồ Tùng Linh, Goethe, Shakespeare… và không ít kịch bản kinh điển của sân khấu thế giới trở thành sách gối đầu giường của Trần Bảng. Sau này, khi tham gia kháng chiến, không có cơ hội viết văn, nhưng cơ duyên lại đưa ông đến với nghệ thuật chèo. Và chính nền tảng văn học năm xưa đã góp phần đưa Trần Bảng trở thành một tên tuổi lớn, ông “trùm” của sân khấu chèo Việt Nam

Nguyễn Văn Danh post

ĐỌC ĐỂ GIẢI SẦU

Nào những ai, nếu có ưu phiền, để dành xem lại, cái phiền tiêu luôn..

1. Già người, già tóc, già râu. Bộ phận chiến đấu còn lâu mới già

2. Mình ngu nhiều kẻ ngu hơn, cho nên được gọi là khôn hơn người.

Em xinh đâu phải nụ cười, em xinh là bởi nhiều người xấu hơn !

3. Tái dê chấm với tương gừng, ăn xong rồi lại phừng phừng như dê

4. Ở giữa 2 cái chân thật là 1 cái chân tình

5. Yêu nhau cởi áo cho nhau. Ghét nhau trợn mắt : Áo đâu ? Mặc vào !

6. Phải bình tĩnh trước gái xinh và không giật mình trước gái xấu !

7. Nhan sắc có hạn, mà lựu đạn thì có thừa

8. Muốn ngủ ngon thì đừng lấy vợ. Muốn không nợ thì đừng có yêu.

Muốn cao siêu thì đừng dại gái. Muốn thoải mái thì vào nhà tu

9. Buổi sáng thức dậy. Thể dục thể thao. Da dẻ hồng hào.

Hứng khởi tuôn trào. Lại vào ngủ tiếp

10. Hội trường yên ắng ngủ say. Thuyết trình vừa dứt… vỗ tay ra về

11. Ăn hột mít luộc có thể gây mất đoàn kết nội bộ và nghi ngờ lẫn nhau !

12. Sống tình cảm mà không tiền cũng khổ. Yêu hết mình mà không được thì thôi

13. Không có gì làm anh em ta xa cách. Chỉ … hôi nách là xa cách anh em

14. Con nhà gia giáo, huýt sáo theo liền

15. Văn hay chữ tốt sao bằng thằng dốt lắm tiền

16. Con là cái nợ, vợ là kẻ thù, thầy u là gián điệp

17. Bò không ăn cỏ bò ngu. Trai không hú gái, trai ngu hơn bò !

18. Nếu tiền không làm bạn hạnh phúc thì hãy đưa nó cho tôi

19. Cell phone thuê bao mà bạn vừa gọi,nó nằm ngoài vùng phủ sóng. Thật ra nó đang nằm trong vòng tay kẻ khác đang phủ mền

20.Thúy Kiều ôm chiếc Iphone. Gọi cho Kim Trọng khôn hồn tới ngay.

Trọng lấy laptop xách tay. Mail cho bà tú tới ngay tóm hàng

21. 6 năm trời không bia, không rượu, không thuốc lá, không đi chơi đêm không đàn bà. Và thế là……… tôi vào lớp 1

22. Ngu còn tỏ ra mình phong phú

23. Vì một người đi cố làm cả phố tắc đường

24. Em đen nhưng tâm hồn em trong trắng, vì nhà em nghèo em dang nắng … em đen

25. Mai sau về với ông bà, ăn chuối cả nải ngắm gà khỏa thân

26. Bia độc hơn rượu, bằng chứng trên thế giới chỉ có bia mộ chứ nào thấy rượu mộ ở đâu

27. Mập không phải là cái tội. Mập là để thể hiện sự vượt trội về thể xác hơn người

28. Những câu nói bất hủ, đọc sẽ không buồn ngủ

Mỹ Nhàn post

VÀO MÙA VU LAN (2)

Ý NGHĨA CỦA BÔNG HỒNG

CÀI ÁO DỊP LỄ VU LAN

Lễ cài bông hồng trong dịp Vu Lan được xem là một buổi lễ báo hiếu quan trọng đối với những người con Phật. Tuy nhiên buổi lễ này không phải chỉ dành cho Phật tử mà tất cả mọi người không theo đạo vẫn có thể tham dự.

Điều này có từ lúc nào ? Tại sao lại là bông hoa hồng mà không phải là loại hoa khác ? Để hiểu về điều này Sư cô Thích nữ Huệ Đức (tu học tại Quan Âm Tu Viện – Sài Gòn) đã chia sẻ như sau :

Buổi lễ Bông hồng cài áo trong mùa Vu Lan báo hiếu được khởi xướng từ Hòa thượng Thích Nhất Hạnh, tác giả của ấn phẩm Bông Hồng Cài Áo.

Trong một lần sang Nhật Bản đúng ngày Mother Day (ngày của mẹ), Hòa thượng Thích Nhất Hạnh được một số thanh niên lại gần hỏi thầy còn mẹ không và cài lên áo 1 bông hồng rồi nói “Hôm nay là ngày tưởng nhớ đến mẹ”.

Hòa thượng nhận thấy truyền thống của Phật giáo cũng có lễ Vu Lan báo hiếu là dịp tưởng nhớ đến công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ với mỗi người, vậy tại sao chúng ta không phát huy truyền thống tốt đẹp này như những bạn trẻ nước Nhật làm trong ngày Mother Day.

Theo Hòa thượng Thích Nhất Hạnh, bông hoa hồng trong cách nhìn của người Việt là loài hoa thông dụng và dễ thương, được nhiều người yêu thích nhất. Loài hoa này còn mang quy ước biểu hiện của tình yêu thương của loài người. Chính vì thế Hòa thượng đã chọn bông hoa hồng làm biểu tượng cho lễ Vu Lan báo hiếu của nhà Phật và viết ấn phẩm “Bông Hồng Cài Áo” vào tháng 8 năm 1962.

Để làm mọi người hiểu hơn về điều này, chính bản thân Hòa thượng đã làm lễ cài Bông hồng đầu tiên cho Tăng Ni và Phật tử ở chùa Pháp Hội, Sài Gòn. Từ đó các chùa và các tổ chức Gia đình Phật tử đã nhân rộng thành lễ cài Bông hồng trong dịp lễ Vu Lan báo hiếu như hiện nay.

Ý nghĩa của việc cài bông hoa hồng, đã được Hòa thượng Thích Nhất Hạnh giải thích ngay trong ấn phẩm Bồng Hồng Cài Áo : “Nếu anh còn mẹ, anh sẽ được cài một bông hoa màu hồng trên áo và anh sẽ tự hào được còn mẹ. Còn nếu anh mất mẹ, anh sẽ được cài trên áo một bông hoa trắng. Người được hoa trắng sẽ thấy xót xa, nhớ thương không quên mẹ, dù đã khuất. Người được hoa hồng sẽ thấy sung sướng nhớ rằng mình còn mẹ và sẽ cố gắng để làm vui lòng mẹ, kẻo một mai người khuất núi sẽ khóc than cũng không còn kịp nữa”.

Cùng thời điểm đó, nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ đã sáng tác nhạc phẩm “Bồng Hồng Cài Áo”. Đến nay bài hát đó được coi như “bài hát chính trong các dịp lễ Bông hồng cái áo ở các chùa vào mùa Vu Lan báo hiếu”. Cũng từ đó nghi thức cài bông hồng trong ngày Vu Lan được phổ thông hóa và trở thành ngày lễ trong Phật giáo.

Cho nên hằng năm, cứ đến mùa Vu Lan Báo Hiếu, hầu hết người Việt Nam là Phật tử, dù ở bất cứ nơi đâu, cũng đều đến chùa tham dự lễ “Bông Hồng Cài Áo”, để tưởng nhớ công ơn sinh thành dưỡng dục của các đấng song thân, dù còn hiện tiền hay không còn trên cõi đời này.

Hiện nay ở các chùa thường có quy định chung cho những người tham dự lễ cài hoa hồng, đó là người còn cha mẹ thì chọn hoa hồng lá xanh, còn nếu mẹ đã mất nhưng cha vẫn đang ở với con cháu thì hoa trắng cành xanh, ngược lại thì chọn hoa đỏ cành trắng. Riêng đối với các bậc Chư Tôn Đức Tăng/Ni thì được cài hoa màu vàng trong dịp lễ này. (theo Hoài Lương ghi lại)

PHẠM THẾ MỸ

TÁC GIẢ NHẠC PHẨM

“BÔNG HỒNG CÀI ÁO”

Nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ sinh năm 1932, tại Qui nhơn (Trung Việt), xứ sở của rừng dừa mà anh đã có lần nhắc đến trong nhạc phẩm “Những ngày xưa thân ái’:…”Uống nước dừa hay nước mắt quê hương”.

Nhạc sĩ ra đời trong một gia đình có truyền thống về văn nghệ (em của nhà văn Phạm văn Ký, người được giải thưởng Văn chương Hàn lâm viện Pháp với cuốn “Perdre La demeure; và nhà thơ Phạm Hổ). Phạm Thế Mỹ đã được sự dìu dắt của các anh dể phát triển tài năng của mình.

Lúc nhỏ, anh học lý thuyết nhạc với sư huynh Yersin ở trường Gagelin (Quy nhơn). Sau đó, anh học hòa âm với ông Nguyễn Phụng và bà Nguyễn khắc Cung tại trường Quốc gia âm nhạc Sài gòn. Anh còn qua một thời kỳ dài để tự đọc, học thêm về hòa âm (Harmonie), đối âm (contrepoint), tòng âm (Fugue), sáng tác nhạc (Composition), kết nhạc pháp (Orchestration) (theo danh từ âm nhạc của Tống ngọc Hạp), của các tác giả Catel, Dupré, Dubois, Durand, Dureau, H.Berilioz, Norberi Dufourcq. Đặc biệt là Luận án Tiến sĩ nhạc học của Trần văn Khê ở Pháp, đã giúp rất nhiều khi anh sáng tác những nhạc phẩm mang màu sắc dân tộc nói riêng và Á đông nói chung.

Trước đây, nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ là giáo sư âm nhạc tại các trường trung học Nguyễn Công Trứ, Tây Hồ, Bồ Đề, Kỷ thuật Đà nẵng, sau là Trưởng Phòng Văn nghệ Viện Đại học Vạn Hạnh và là giáo sư âm nhạc tại các trường Trung học Mạc Đỉnh Chi,Thanh niên phụng sự xã hội Sài gòn.

– Thời gian sáng tác : Phạm Thế Mỹ bắt đầu từ năm 14 tuổi.Lúc bấy giờ anh đã viết nhiều ca khúc nhỏ mặc dù chưa hiểu gì về luật “Cân phương” (Carrure) hay công dụng của những “Giai kết”(Cadences). Được sự ngợi khen và khuyến khích của nhũng người thân, anh càng gia công học hỏi thêm phần nhạc lý, sáng tác và nghiên cứu để tìm tòi những ưu điểm, những nét đặc sắc của các nhạc sĩ nổi tiếng đương thời như Đặng Thế Phong, Lưu Hữu Phước, Phạm Duy, Nguyễn Xuân Khóat, Nguyễn Mỹ Ca…

Từ năm 20 tuổi trở về sau, anh bắt đầu sáng tác một cách vững vàng và đều đặn hơn. Những nhạc phẩm của anh ,kể đến nay gồm có:

– Nhạc bản : Đáng kể nhất là các tác phẩm “ Ngỏ chiều”,”Nắng lên xóm nghèo”, Nhạc buồn đêm sao”,”Màu tím hoa sim”,”Những ngày xưa thân ái”,”Người yêu và con chim sâu nhỏ”, ”Đưa em về quê hương” và 2 nhạc bản mới nhất : ”Bông hồng cài áo”,” Bóng mát” (do nhà xuất bản Hát cho quê hương ấn hành).

– Vũ kịch : “Kim Trọng Thúy Kiều” (1962-66)

– Tiểu ca kịch : ”Hoa bướm và thiếu nữ” (1960), ”Nước mắt người yêu” (1961)

– Nhạc kịch : “Sắc lụa Trữ La” (1958-1960)

Trường ca : “Lửa thiêng “(1964), ”Hàn giang dậy sóng(1960, ”Con đường trước mặt” (1967)

Những Vũ kịch, Tiểu ca kịch, Nhạc kịch, cũng như Trường ca,… Trường ca “Con đường trước mặt“ đã được trình diễn trên Đài phát thanh Huế, trên các sân khấu miền Trung.

– Khuynh hướng và quan niệm sáng tác : Phạm Thế Mỹ chủ trương sáng tác không chạy theo thị hiếu quần chúng. Anh nghĩ rằng nhiệm vụ nhạc sĩ (cũng như tất cả các người sáng tác thuộc các ngành khác trong lĩnh vực Văn hóa là phải hướng dẫn quần chúng trên phương diện thưởng thức. Anh có khuynh hướng sáng tác nghiêng về Tình yêu quê hương, tình yêu dân tộc, ca ngợi tình người và ca ngợi cuộc sống thanh bình.

Nhận định về hiện tình Tân nhạc Việt Nam trước 1975,  lúc đó nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ cho biết :

– Nhạc phẩm rất dồi dào về lượng nhưng nghèo nàn về phẩm.

– Phần đông giới Tân nhạc chúng tôi, dù là Nhà xuất bản, nhạc sĩ hay ca sĩ đều nghĩ đến vấn đề thương mại trước hơn vấn đề nghệ thuật. Đó là sự thực chua xót không thể tránh được trong hòan cảnh hiện tại mà chúng tôi hy vọng tương lai sẽ khá hơn.

Sau khi nghỉ hưu, ông sống âm thầm, thiếu thốn tại một căn nhà nhỏ ở Quận 4. Ông mất vào lúc 3 giờ sáng ngày 16 tháng 1 năm 2009,  sau một thời gian dài bị bệnh, ở tuổi 79.

NHỮNG THƠ CA SÁNG TÁC VỀ MẸ

– Bông hồng cài áo của Phạm Thế Mỹ – Khánh Ly trình bày

http://youtu.be/pLIbkJG5s9A

– Lòng mẹ của Y Vân – Như Quỳnh – Tường Nguyêm trình bày

http://youtu.be/Gx0eV7g8R-E

Ơn nghĩa sinh thành (vọng cổ)

http://youtu.be/zMh9SDdlBlc

THƠ MÙA VU LAN

Thật hạnh phúc khi mùa Vu lan đến với những ai được cài hoa hồng đỏ trên áo vì còn Cha Mẹ, những anh chị em này hãy tận hưởng và làm tròn trách nhiệm với Đấng sanh thành – cho dù mình đã khôn lớn vì Cha Mẹ nào cũng vẫn yêu thương con mình như lúc còn thơ – hạnh phúc thay. Còn những ai chỉ được cài hoa hồng trắng vì Cha Mẹ đã qua đời thì xin các anh chị em lắng lòng dành chút thời gian để nhớ về những công ơn, những thương yêu của Mẹ Cha dành cho mình lúc sanh tiền..

Bài thơ “Nhớ Mẹ” của chị Đinh Mỹ Chơn là bài thơ cuối cùng trong 3 bài thơ của thiên trường ca Người Mẹ gởi đến như một nén tâm hương dâng lên Đấng sanh thành với lòng biết ơn và kính trọng. (bài 1: Mùi hương của Biển đã được đăng trong trang HNC ngày 18/8/11 và được bạn Nguyễn Thanh Hóa chuyển thể qua dạng PPS, và bài 2 : Tình Mẹ đăng ngày 03/5/12)

NHỚ  MẸ

Con đường mòn đưa con về với Mẹ

Bên bụi tre già mỏi mắt trông xa

Mới hôm nào tiếng cười vui rộn rã

Sao giờ đây nghe hoang vắng lạnh lùng ?

Người Mẹ hiền đi một chuyến chơi xa

Đi thanh thản để lòng con trĩu nặng

Nhớ thật nhiều dáng Mẹ hiền bên ngưỡng cửa

Bên võng đưa ngồi nhắc chuyện ngày xưa

Kỷ niệm Mẹ Cha đong đầy trong nỗi nhớ

Là hành trang đến cuối cuộc đời…

Con quỳ xuống bên chân của Mẹ

Khóc thật nhiều, nào níu kéo được gì đâu !

Còn đâu nữa dáng gầy mình hạc ?

Mỗi cuối tuần ngóng đợi những đứa con.

Xác xương mai giờ buốt giá lạnh lùng

Còn đâu nữa đôi điều nhắn nhủ :

“Rằng các con nhớ học làm người,

Học đạo đức để đời con hưởng phước

Học đối nhân xử thế chu toàn,

Học nhân tâm để con người hoàn thiện

Học cả đời không hết chữ nghĩa nhân…”

Lời Cha Mẹ vẫn còn văng vẳng

Là hành trang theo suốt cuộc đời này,

Là kim chỉ nam dẫn đường con bước tới.

Cõi xa xăm con tìm qua dư ảnh

Thổn thức đau – buồng tim như ai cắt…

Quặn thắt lòng – khi cảnh cũ thiếu người xưa,

Dây trầu cay cũng héo lá lìa cành

Cau xanh trái giờ úa vàng chờ rụng.

Cau với trầu cũng héo hắt đợi chờ ai ?

Bởi nó cũng biết buồn và biết nhớ

Cũng như con – giờ mất mát thật rồi

Ngàn tiếc nuối chỉ còn trong ký ức,

Ký ức một thời – Cha hứng Mẹ nâng.

Thật sự rồi – con không còn điểm tựa,

Thật sự rồi – con thành kẻ mồ côi.

Nén hương lòng – con thầm khấn nguyện,

Cõi vĩnh hằng – Cha Mẹ được siêu sinh.

Đinh Mỹ Chơn

TẾT SONG THẤT

MÙNG 7 THÁNG 7 AL

Khi trang báo này ra mắt các bạn, đúng vào chiều mùng 7 tháng 7 âm lịch, theo phong tục người xưa gọi ngày này là Tết Song Thất hay ngày Ngưu Lang chức Nữ gặp nhau trên cầu Ô Thước trên song Ngân Hà, với bao là nước mắt. Và quả như thế, hôm nay trời mưa tuy không lớn nhưng cứ rả rích suốt buổi chiều cuối hè.

Thông thường đa số các tháng lẻ đều có những ngày lễ trùng nhật, như Tết Hàn Thực (mùng 3/3 ÂL), Tết Đoan Ngọ (mùng 5/5 ÂL), Tết Song Thất hay Lễ Thất Tịch (mùng 7/7 ÂL), Tết Trùng Cửu (mùng 9/9 ÂL) và chỉ có Tết Trùng Thập (ngày 10/10 ÂL) thuộc tháng chẵn.

Tết Song Thất hay còn gọi là Lễ Thất Tịch, nhằm ngày mùng 7 tháng 7 âm lịch, tức ngày mưa ngâu, tưởng nhớ đến chuyện tình “Ngưu Lang Chức Nữ”.

Lễ này không có cúng kiến nhưng báo hiệu cho mọi người biết một tháng mưa dầm không tạnh đã đến, làm ăn buôn bán thường ế ẩm. Có lẽ vì thế nên tháng bảy có mùa Vu Lan, nhà nhà cúng cô hồn như muốn lãng quên câu chuyện tình ái oăm, nhiều nước mắt tuông mưa kia.

Chuyện Chức Nữ là con gái của Ngọc Hoàng, cầm kỳ thi họa đều giỏi, còn Ngưu Lang là anh chăn trâu dưới trần gian có tâm hồn thi nhân, biết ngâm thơ thổi sáo. Hai người gặp nhau và nguyện ước se duyên, Ngọc Hoàng thương yêu con gái nên ưng thuận cho trai tài gái sắc nên duyên chồng vợ.

Mối tình của Ngưu Lang với Chức Nữ quá thơ mộng, làm Ngưu Lang quên đi phận nông dân kéo bừa trồng lúa nuôi sống mọi người trên thế gian. Chức Nữ cũng quên đi dệt lụa để có vải cho người đời mặc.

Trước thực trạng ấy, Ngọc Hoàng đã nổi trận lôi đình, đày hai người ở mỗi bên bờ sông Ngâu (còn gọi là sông Ngân Hà), và mỗi năm chỉ được gặp nhau một lần vào ngày mùng 7 tháng 7, và nhờ đàn quạ bắc thành cây cầu Ô Thước cho cả hai gặp nhau.

Trong những ngày xa vắng, chàng và nàng lấy công chuộc tội, chàng chăn trâu còn nàng dệt lụa, khi gặp nhau đã khóc đẫm lệ gây cảnh mưa dầm dề dưới trần gian.

Ngày mùng 7 tháng 7 người ta không thấy chim chóc bay, cho rằng chúng đã lên trời làm cây cầu Ô Thước bắc qua sông Ngân Hà cho Ngưu Lang đi gặp Chức Nữ.

RẰM THÁNG BẢY

Còn Tết Trung nguyên (Trung ngươn) còn gọi là Lễ Vu Lan, ngày lễ chính vào ngày rằm tháng Bảy. Theo quan niệm của Phật giáo, đây là ngày xá tội vong nhân.

Vào mùa Vu Lan (từ ngày rằm cho đến hết tháng bảy âm lịch) người ta làm lễ cúng gia tiên, mua vàng mã để đốt cho người đã chết. Ngoài ra còn làm lễ cúng chúng sinh ngoài sân, trước thềm nhà v.v… cúng các cô hồn ma xó, ma đói.

Lễ cúng cô hồn uổng tử gồm bánh đa, bánh bỏng, ngô, khoai lang, cháo trắng, gạo, muối, giấy tiền vàng mã, quần áo giấy. Những nhà có người mới chết trong vòng một hai năm, thường đốt nhiều vàng mã, làm cơm chay để cúng rất lớn.

Theo tín ngưỡng, các chùa chiền vào ngày Lễ Trung nguyên (mùa Vu Lan) đều tổ chức cúng cháo thí cho cô hồn các đảng. Còn tại gia đình cũng cúng như đã kể, không cúng mặn như cúng giỗ.

Tục cúng cháo thí thường tổ chức tại các đình chùa cho những cô hồn chết đường chết chợ, những người chết oan, chết mất xác ngoài chiến trận không ai biết tên tuổi để cúng giỗ hàng năm. Các cô hồn uổng tử đến nhận chén cháo cho no bụng ấm lòng, và để hưởng ơn “xá tội vong nhân” cho mau chóng được đâu thai kiếp khác.

Cháo thí không múc ra chén bát mà bằng những bồ đài đựng bằng lá mít đặt hai bên đường. Khi cúng xong những người ăn mày, kẻ đói cơm và trẻ con tranh nhau vào cướp. Nhà chùa coi đó là cô hồn sống thay lũ cô hồn chết đang cướp cháo thí để được xá tội.

Còn tục đốt vàng mã có tích, ngày xưa trong các buổi tế trời đất của vua, viên quan Tư tế sứ (coi về nghi lễ trong hoàng cung), hay dùng các vật dụng toàn bằng vải tốt và vàng bạc thật, đem ra cúng rồi bỏ đi (vì đồ cúng cho thập loại chúng sinh không được ăn, không được đem vào nhà). Sau vua Huyền Tôn đời Đường, thấy dùng như thế là phí phạm, nên cho dùng tiền giả thay cho các vật dụng bằng vàng bạc thật.

Đến đời Đường Thế Tôn cũng làm tiền giả, là những thỏi vàng, thỏi bạc, tiền giấy được vẽ y như thật để cúng, cúng xong thì đốt đi.

Không còn phí phạm ngân quỹ, nhờ thế sau tiền giả đến quần áo, đồ dùng được đem đốt trong các buổi tế tự cũng làm bằng giấy. Dân chúng noi theo gương ấy bắt đầu dùng đồ mã để đốt dâng cho bậc tổ tiên.

Ở nước ta có tục giật cô hồn. Tức người sống giành giật những mâm cúng, rồi người ta thường đốt vàng mã cho cô hồn, cho tiền người sống bằng cách thảy tiền (đồng tiền bằng kim khí đang lưu hành) cùng với bánh kẹo.

Họ tin nếu người sống mà giành giật càng đông, tức họ đã mua chuộc được lũ cô hồn các đảng không đến quấy phá gia đình mình.

Lê Hoàng Nguyễn (tổng hợp)

TÍNH CHUYỆN LẤY CHỒNG

Một cô gái khá xinh đẹp, công việc ổn định nhưng mãi không lấy được chồng. Lý do được cô viết trong nhật ký của mình như sau :

Toàn tính chuyện mây mưa

– Em muốn lấy anh đầu bếp nhưng anh ấy hay đòi nếm trước.

– Em muốn lấy anh thuế vụ nhưng anh ấy hay đòi xuống đòi lên.

– Em không chê anh bán vé số nghèo hèn nhưng sợ anh hay cào hay bóc.

– Em muốn làm vợ anh uốn tóc nhưng ngán bị đè cổ đè đầu.

– Em tính chọn làm dâu kho bạc nhưng sợ anh hay săm soi thiệt giả.

– Em muốn lấy anh khí tượng thủy văn nhưng người đâu toàn tính chuyện mây mưa.

-Tính lấy anh Thú-Y nhưng sợ anh chích mình như thú

-Tính lấy anh Thủy Lâm ..nhưng sợ nhất phá sơn lâm nhì đâm hà bá

Chữa mộng du

Bệnh nhân hỏi bác sĩ : “Bác sĩ có thuốc chữa mộng du không ?”

– Ông đem hộp này về rải quanh giường đi.

– Ủa thuốc gì thế ?

– Đinh 5 phân !

Sắp xuất hiện

Thầy bói nói với cô gái : “Sắp tới trong đời cô sẽ xuất hiện một người”.

– Ôi ! Người đó thế nào ạ ?

– Không tóc, không răng, nặng khoảng 3 ký rưỡi.

Đã bảo mà không tin

Một kỹ sư máy tính vừa tạo ra được một chiếc máy có khả năng biết mọi thứ. Anh ta tự hào nói với người bạn của mình :

– Hãy hỏi nó bất cứ câu gì. Nó sẽ trả lời cho anh biết.

Người bạn liền gõ câu hỏi vào chiếc máy :

– Bố tôi ở đâu ?

Màn hình máy chớp sáng liên tục và hiện ra dòng chữ :

– Bố của anh đang đi câu cá ở hồ Lasca.

Người bạn lắc đầu :

– Làm gì có ! Bố tôi đã mất cách đây 10 năm rồi cơ mà !

Viên kỹ sư rất bối rối. Anh ta chỉnh sữa một vài chỗ trên máy và đề nghị anh bạn hỏi lại theo một cách khác. Người bạn lại đánh :

– Chồng của mẹ tôi ở đâu?

Một lần nữa màn hình chớp sáng liên tục. Rồi câu trả lời hiện lên :

– Chồng của mẹ anh đã mất cách đây 10 năm. Còn bố anh thì mới bắt được con cá nặng hai kí ở hồ Lasca !

Có đầu có đuôi  

Vợ ở xa nhà gọi điện thoại cho chồng hỏi :

– Anh yêu, con mèo con của chúng ta thế nào rồi ?

– Chết rồi !

– Trời ! Một tin dữ như thế anh phải nói có đầu có đuôi chứ ? Chẳng hạn, anh có thể nói là “Nó trèo lên nóc nhà, không cẩn thận nên rơi xuống đất !”. Rồi sau đó mới từ từ nói: “Nó không còn nữa”. Anh hiểu không ?

– Anh hiểu rồi.

– Anh yêu, bây giờ anh cho em biết mẹ em thế nào ?

– Ừ… mẹ trèo lên nóc nhà…

Vợ mà như thế à ?

Uống quá say, tỉnh dậy lúc nửa đêm, chàng hốt hoảng kêu :

– Trời ơi ! Sao lại có cá sấu trên giường thế này?

– Ôi, anh yêu, em đây mà !

– Trời, lại còn biết nói nữa chứ ! Mi bao nhiêu tuổi rồi

– Thì nhìn thế nào, tuổi thế ấy mà.

– Vô lý, làm gì mà sống lâu đến như zậy.

Chuyện gà vịt

Trưa hè oi bức, trang trại tất cả đều yên lặng. Chợt có tiếng ồn ào vang lên. Từ trong chuồng, một con gà trống chạy thục mạng ra ngoài và hét lớn :

– Tôi nhầm rồi ! Tôi đã nhầm rồi !

Liền sau đó, một con vịt lạch bạch từ trong chuồng bước ra khẽ an ủi :

– Không sao đâu ! Chuyện thường tình ấy mà

Bác sĩ nghèo

– Mình ơi hôm nay em đi khám bịnh. Tội nghiệp ông BS mới ra trường, ổng than còn nghèo nên chưa có tiền mua ống nghe.

– Rồi làm sao thằng chả khám bịnh cho em ?

– Thì ổng khám bằng tay

– Hú hồn. Thằng chả mà than nghèo không có ống chích nữa thì tiêu đời em rồi.

Trật chỗ rồi 

Một anh chàng khẩn hoang gia nhập trại thổ dân da đỏ để học cách trồng trọt của dân bản xứ. Suốt cả ngày các trai tráng da đỏ hùng hục đào những dãy hố, cứ 1 hố nhỏ lại đến 1 hố to hơn 1 chút. Hố nhỏ họ bỏ hạt giống, hố to họ bỏ cá vụn làm phân bón.

Tối đến anh khách này được cho ngủ chung với 1 cô gái dễ thương trong bộ lạc. Đêm hôm đó, cứ mỗi lần anh ta ấn thân hình vào da thịt ấm áp của cô gái, cô ta lại kêu “Yahoo !!!”

Anh chàng thích thú với cảm giác đó và làm đi làm lại trò đó nhiều lần trong đêm. Sáng hôm sau anh ta trở lại cánh đồng để tiếp tục làm việc, cứ mỗi khi anh ta bỏ 1 khúc cá vào 1 hố nhỏ thì 1 anh da đỏ hét “Yahoo !!!” làm anh ta giật mình. Anh ta hỏi :

– Tiếng “Yahoo” nghĩa là gì mà sao người dân ở đây hay kêu lên những tiếng này ?

Người da đỏ nói:

– Trật chỗ rồi !!!

Nhận dạng

Trong giờ thực hành môn giải phẫu cơ thể người, Giáo sư Y khoa cho sinh viên nhận dạng các bộ phận khác nhau trên cơ thể một người nam giới. Ông cho các bộ phận tách rời nhau vào các túi đen để sinh viên dùng tay nhận dạng.

Đầu tiên, vị giáo sư mời một nữ sinh. Cô này ngập ngừng thò tay vào chiếc túi, mặt đỏ dần lên trong khi các bạn đang tủm tỉm cười. Giáo sư nghiêm nghị :

– Đây là một giờ học nghiêm túc, nào cô hãy nói cho tôi biết đó là bộ phận gì ?

Cô sinh viên ngập ngừng một lát rồi bạo miệng :

– Dạ thưa thầy, đây là một cái xúc xích Đức ạ !

Cả lớp cười ồ lên còn ông giáo sư bực tức nói :

– Không có vấn đề gì, tôi tôn trọng ý kiến của em. Giờ thì hãy bỏ nó ra ngoài xem sự suy đoán của em chính xác đến đâu !

Cô sinh viên run rẩy lôi từ chiếc túi ra theo yêu cầu của ông giáo sư. Cả lớp ngạc nhiên vỗ tay rầm rầm, quả đúng là một cái xúc xích Đức !

Lúc này, khuôn mặt của vị giáo sư bỗng tái dần…. Ông ta lẩm bẩm :

– Chết… không biết lúc sáng mình kẹp cái gì vào bánh mì nhỉ ?

Yên Nhàn post

THAM NHŨNG THỜI MINH MẠNG

CHA VỢ VUA MINH MẠNG

THAM NHŨNG BỊ CHÉM ĐẦU

Mộ hoang và án tham nhũng chấn động lịch sử

Gần hai thế kỷ trước, triều Minh Mạng rúng động với vụ án tham nhũng của viên quan đại thần Huỳnh (Hoàng) Công Lý. Đương chức phó tổng trấn Gia Định, Lý đã bòn rút tiền bạc dân binh. Khi điều tra, ông còn lòi thêm tội lộng quyền, tham nhũng ngay tại kinh thành.

Đặc biệt, vụ án tham nhũng này còn gây rúng động hơn bởi chính bản án xử tử nghiêm minh mà triều đình Minh Mạng đã “quân pháp bất vị thân” cho một đại thần nhiều công trạng và đang là bố vợ của chính nhà vua.

Tuy nhiên khi Lê Văn Duyệt mất, bị truy xét công tội, phải xích mồ, cũng xuất hiện dư luận xét lại vụ án Huỳnh Công Lý. Phải chăng ông đã nặng tay xử trảm vị phó của mình với nghi án “dám lăng nhăng với thê thiếp Lê Văn Duyệt”. Sự thật vụ trọng án tham nhũng chấn động lịch sử này thế nào ? Và bí ẩn dưới ngôi mộ cổ hoang phế giữa Sài Gòn đã góp phần giải mật điều gì ?

Lần tìm dấu tích

“Từ hồi còn học lịch sử, tôi đã đặc biệt quan tâm vụ án phó tổng trấn Gia Định Huỳnh Công Lý. Đó là trọng án tham nhũng mà tổ tiên đã công tâm minh xử để con cháu đời sau phải suy ngẫm, ghi nhớ. Là võ tướng, Lý từng có công đánh giặc biên viễn cũng như chỉ huy đào thành công con kênh quan trọng bậc nhất ở Sài Gòn, nhưng quan trọng hơn cả Lý chính là bố vợ của vua Minh Mạng. Ấy vậy mà khi phạm tội Lý vẫn bị nghị xử công khai. Rồi sau khi bị Lê Văn Duyệt chém đầu, Lý vẫn bị Minh Mạng nhiều lần nhắc lại tội lỗi như là bài học răn dạy cho chính hoàng thân quốc thích của mình” – đã qua tuổi 80, nhà khảo cổ Đỗ Đình Truật vẫn nặng nhớ chi tiết vụ án tham nhũng lịch sử mà ông đã nhiều năm đau đáu nghiên cứu, giải mật.

Trong cuốn Sài Gòn năm xưa, Vương Hồng Sển cũng viết lại rằng : “Gần Tam Tông miếu, mấy năm về trước còn thấy một ngôi mộ xây ô dước to lớn, vì chồm ra lộ cái quá nhiều nên bị cải táng. Hỏi ra đó là mả Huỳnh Công Lý. Công Lý là quan to có con gái hầu đức Minh Mạng, được vua sủng ái nên cậy thế ỷ thần. Theo cụ Trương Vĩnh Ký chép lại, Lê tả quân mắc ra chầu vua ngoài Huế, Công Lý ở lại Sài Gòn có làm nhiều điều ngang dọc và dường như có xúc phạm đến một cô hầu của tả quân.

Khi về quan lớn thượng hay được cả giận bèn tâu tự sự lên vua Minh Mạng. Ông vua này có ý binh vực cha vợ nên hạ chỉ giải Công Lý ra kinh đặng dễ bề tha tội. Tả quân biết trước, sẵn có trong tay thượng phương bảo kiếm được quyền “tiền trảm hậu tấu”, bèn chém đầu Huỳnh Công Lý, sai quân đóng thùng ướp muối, gửi thủ cấp về kinh, trên nắp thùng viết mấy chữ : “Phụng thừa thánh chỉ, xử trảm tội nhân”. Minh Mạng thấy sự đã rồi, trong lòng căm giận, nhưng không làm gì được Lê Công (tức Lê Văn Duyệt). Sau Bố chánh Bạch Xuân Nguyên đem chuyện này ra kết tội khi quân cho Lê Công và vu thêm nhiều tội lớn nữa…”.

Khoan chưa bàn đến nghi án Lê Văn Duyệt nhập nhằng chuyện công, chuyện riêng để xử chết Huỳnh Công Lý mà Vương Hồng Sển ghi lại từ tài liệu của Trương Vĩnh Ký, nhưng chính cuốn Sài Gòn năm xưa đã khẳng định viên quan tham này được chôn cất ngay tại pháp trường Sài Gòn. Thậm chí, mộ Huỳnh Công Lý còn rất to lớn, ở ngay khu vực sau này là chợ Vườn Chuối và cư xá Đô Thành. Là người học sử và làm khảo cổ, ông Truật đã lần từ những manh mối này. Ông có niềm tin rằng chính những trang sử đất của kết quả khảo cổ sẽ góp phần quan trọng làm sáng tỏ sự thật lịch sử đã được thư tịch, chính sử và chuyện người đời sau kể lại.

Ngay sau năm 1975, từ miền Bắc vào Sài Gòn, ông Truật đã lần tìm dấu vết ngôi mộ tội nhân tham nhũng Huỳnh Công Lý. Chắp nối lại các tài liệu, ông Truật tin Vương Hồng Sển ghi địa điểm chôn cất Lý là chính xác, đó chính là khu mả hầu không xa mấy khu “mả ngụy”, mà sau này đã chôn vùi hàng ngàn binh tướng cùng thân nhân già trẻ của “phiến quân” Lê Văn Khôi khi thua trận bị triều Nguyễn xử trảm tập thể dã man.

Tuy nhiên, có một điều ông Truật chưa tin lắm đó là chi tiết Vương Hồng Sển ghi mộ của Huỳnh Công Lý được cải táng. Nếu đã cải táng thì cải táng ở đâu ? Tại sao không có tài liệu nào ghi lại điều này ? Hơn nữa, việc khai mở một ngôi mộ bề thế bằng hợp chất ô dước kiên cố ngày xưa không hề đơn giản. Đặc biệt, đã nói là cải táng mà tại sao một phần mộ vẫn còn nằm ngay chỗ cũ ?

Dưới nấm mộ hoang

Suốt mấy năm, nhà khảo cổ Đỗ Đình Truật cố gắng khai quật phần mộ còn lại này để làm sáng tỏ sự thật nhưng chưa có điều kiện thích hợp. Bất ngờ đến khoảng cuối thập niên 1970, việc chỉnh trang đô thị đã cho phép ông cùng các đồng nghiệp như phó giáo sư khảo cổ Lê Xuân Diệm, giáo sư bác sĩ Nguyễn Quang Quyền tiến hành khai quật, làm sáng tỏ sự thật lịch sử dưới nấm mộ cổ đã hoang vỡ.

“Lúc ấy chưa nhiều phương tiện cơ giới phá công trình kiên cố như giờ. Nhưng nếu sẵn, chúng tôi cũng không sử dụng vì tác động cơ học quá mạnh có thể ảnh hưởng đến những gì còn lại trong quan tài” – ông Truật nhớ ngoài đội khảo cổ, đã phải thuê thêm công nhân xây dựng khỏe mạnh sử dụng đục thép cẩn thận phá từng mảnh nhỏ phần quách nấm mộ. Đó là hợp chất ô dước mà người Việt xưa thường hay sử dụng để xây dựng các công trình kiên cố, kể cả lăng mộ. Nó được làm từ những thành phần chính như vôi, cát, mật, than gỗ quý, kể cả các vỏ sò biển giã nhuyễn. Khi các thành phần này được trộn lẫn với nhau theo đúng công thức tốt sẽ tạo thành một hợp chất kết dính như bêtông. Nhưng hợp chất còn tốt hơn cả bêtông vì nó có độ dẻo dai, bền bỉ, ít bị nứt vỡ như bêtông đến lúc lão hóa. Quan tài được bao bọc bởi lớp quách hợp chất này thường chống được sự xâm thực của nước, không khí, vi khuẩn phá hoại. Chính vì vậy, nhiều xác ướp đã được phát hiện ở VN đều có sự bảo vệ bởi lớp quách này.

Đục ròng rã suốt nhiều ngày liền, cuối cùng quan tài mới lộ thiên. Đội khảo cổ rất vui mừng khi thấy quan tài làm bằng gỗ trai vẫn còn nguyên vẹn, kể cả phần hoa văn bên ngoài cũng còn thấy rõ. Như vậy lần đập phá mộ để làm đường trước đây đã không phạm đến quan tài. Và chỉ khi quan tài còn tốt, các nhà khảo cổ mới hi vọng có thể tìm thấy sự thật bên trong.

Ông Truật nhớ đó là một quan tài làm bằng gỗ trai dày gần cả 0,1m, có màu đen thâm và rất nặng, được chôn sâu 3m dưới mặt đất, đầu quay về hướng tây nam. Đội khảo cổ đã phải mất gần cả buổi sáng mới khéo léo đưa được chiếc quan tài nguyên vẹn lên mặt đất. Thời tiết và điều kiện lúc đó không cho phép họ tìm hiểu bên trong quan tài ngay tại hiện trường, nên quan tài được chuyển ngay về bệnh viện để nghiên cứu.

Đến lúc này nhóm khảo cổ mới chỉ có một số cơ sở tạm tin một phần rằng đó là mộ Huỳnh Công Lý. Và sự thật bí ẩn gì đang chôn giấu trong chiếc quan tài cổ thâm đen ?

Sự thật trong quan tài cổ

Nhưng sự thật vụ án tham nhũng chấn động triều Nguyễn của phó tổng trấn Gia Định, bố vợ vua Minh Mạng, vẫn chưa thể xóa nhòa dấu vết. Nhà khảo cổ Đỗ Đình Truật nhớ lại rất hồi hộp khi mở nắp quan tài thâm đen. Sự thật lịch sử gì sẽ phơi bày sau gần hai thế kỷ ?

Chiếc thủ cấp và nhát chém

“Hôm ấy Sài Gòn mưa tầm tã. May mà chiếc quan tài đã kịp đưa về bệnh viện. Bên khảo cổ học có tôi và phó giáo sư Lê Xuân Diệm, phía bác sĩ có giáo sư Nguyễn Quang Quyền, ông rất giỏi về giải phẫu cơ thể học và kinh nghiệm trên xác ướp khảo cổ” – ông Truật nhớ khi nắp quan tài bật ra.

Họ ngỡ ngàng với đồ tùy táng đơn sơ, ngược lại với bề ngoài nấm mộ khá lớn trong cư xá Đô Thành. Phủ bên trên và dưới thi hài chỉ có hai lớp chiếu cói mỏng, một cái quạt, không có bất cứ châu báu, tiền bạc gì. Còn quần áo mặc theo chỉ vài lớp, rất khác với táng thức “gửi đồ cho người chết về suối vàng sử dụng” mà nhiều trường hợp ông Truật phải bóc hơn 30 lớp áo quần mới chạm đến thi hài.

Nhưng điều làm các nhà khảo cổ ngỡ ngàng nhất là không tìm thấy giấy tờ hay tài liệu, thẻ bài ghi thân phận người chết. Theo ông Truật, điều này rất lạ so với các mộ táng ông từng khảo cổ dù còn nguyên vẹn hay mục nát cũng đều có vết tích thân phận người quá cố. Xác ướp ở Xóm Cải, quận 5, tên người chết được định danh Nguyễn Thị Hiệu ghi trong tờ giấy đặt trên ngực. Với xác ướp ở Vụ Bản, Nam Định, người ta còn tìm thấy tấm minh tinh chôn theo có ghi Đặng thượng y phu nhân Phạm Thị Nguyên Chân…

Trước thực tế không thể định danh hài cốt trong quan tài này, các nhà khảo cổ lúc ấy đã phân tích một biến cố nào đó đã xảy ra và cái chết không bình thường nên người chết được an táng một cách lặng lẽ, buồn tủi như thế!

Tuy nhiên, mấu chốt để xác định hài cốt Huỳnh Công Lý chính là bộ xương trong quan tài. Ngay hiện trạng chỉ còn bộ xương trong quan tài nguyên vẹn và vỏ quách hợp chất đồ sộ cũng làm nhà khảo cổ suy nghĩ. Với táng thức trong quan ngoài quách bằng gỗ quý và hợp chất bền chắc, họ đã tìm thấy nhiều thi hài còn nguyên vẹn như xác ướp.

Vậy tại sao trong này lại chỉ còn bộ xương ?

Ông Truật lật lại sử liệu : sau khi xử trảm Huỳnh Công Lý, tổng trấn Lê Văn Duyệt cho đem thủ cấp về trình tội với vua Minh Mạng. Sau đó, thủ cấp này được hoàn lại cơ thể để an táng. Như vậy, nó được đưa đi, đưa về mất nhiều thời gian nên thi hài phải quàn lâu hoặc chôn tạm để chờ thủ cấp. Chính thời gian khá dài đó làm thi hài không được bảo vệ trong lớp quách hợp chất nên đã bị phân hủy.

Bộ xương được chôn đầu theo hướng tây nam, xương thân nằm ngửa nhưng hộp sọ lật mặt về phía trái. Chính giáo sư bác sĩ Nguyễn Quang Quyền kiểm tra xương cổ, tìm thấy một vết cắt ngang qua như bị đao chém đầu. Nhà khảo cổ Đỗ Đình Truật còn phát hiện vết máu trên cổ áo trong quan tài.

Chắp nối lại các sử liệu ghi chép Huỳnh Công Lý sau khi bị xử trảm được chôn cất ngay tại Sài Gòn, đặc biệt là các sử liệu định vị mộ quan tham này, các nhà khảo cổ đi đến kết luận họ đã tìm thấy nấm mộ và xương cốt Huỳnh Công Lý.

Phía sau bản án

Sự thật bên trong mộ cổ là vậy, nhưng nghi án lạm quyền “tiền trảm hậu tấu” của Lê Văn Duyệt vẫn còn phải làm sáng tỏ. Đặc biệt, khi Lê Văn Duyệt qua đời, bị truy tội, nhiều người đã gán ông lồng ân oán riêng tư vào chuyện công để chém đầu Huỳnh Công Lý.

Trong quá trình tìm tư liệu, người viết đã tiếp cận một hồi ký đặc biệt của người nước ngoài đánh giá khách quan Huỳnh Công Lý. Đó là hồi ký Chuyến đi đến Nam Hà của trung úy thuyền trưởng John White, người Mỹ đầu tiên đến Sài Gòn năm 1819 trên chiếc thuyền Franklin. Là nhân chứng nước ngoài hai năm 1819-1820 ở thành phố mới này, John White ghi lại hồi ký rất nhiều khó khăn, nhũng nhiễu phải đối mặt. Đây chính là giai đoạn Lê Văn Duyệt về kinh thành, giao nhiệm vụ cho phó tổng trấn Huỳnh Công Lý.

Lần đầu gặp Huỳnh Công Lý, John White không mấy thiện cảm để ghi lại hồi ký rằng : “Vị phó tổng trấn ngồi xếp chân hai bên kiểu người Á, vuốt râu trắng lưa thưa. Ông là một người già ốm, nhăn nheo, rất thận trọng, điệu bộ, mặc dù có nở nụ cười nhưng không đáng tin cậy, không cho ta thấy một điều gì công chính và thành thật”.

Về sau gặp Lê Văn Duyệt từ Huế trở về, nếu như John White ca ngợi đức hạnh, tầm nhìn viên tổng trấn này bao nhiêu thì lại khinh thường Huỳnh Công Lý bấy nhiêu. Thậm chí thuyền trưởng người Mỹ còn kể chính viên phó quan này thông đồng với những kẻ bất chính gây khó khăn cho ông ta.

Một đoạn hồi ký John White còn kể Huỳnh Công Lý lên thăm tàu Franklin, trơ trẽn “mượn” khẩu súng săn hai nòng quý giá mà John White biết rằng mình sẽ vĩnh viễn mất nó.

Đặc biệt, tội trạng và bản án Huỳnh Công Lý cũng được các chính sử Đại Nam thực lục, Quốc sử triều toát yếu, Ngự chế văn vua Minh Mạng… khẳng định. Đại Nam thực lục chép rõ năm 1820, Huỳnh Công Lý bị dân binh Gia Định tố cáo tham nhũng hơn ba vạn quan tiền, khi điều tra còn lòi tội bắt binh sĩ xây dựng nhà riêng, cơ sở buôn ngói ở bờ sông Hương. Vua Minh Mạng đã than giận : “Trẫm nuôi dân như con, thực không kể phí tổn. Nhưng bọn quan lại tham lam giảo quyệt chứa đầy túi riêng… Gần đây Hoàng (Huỳnh) Công Lý làm phó tổng trấn Gia Định không bao lâu mà bóc lột của dân đến trên ba vạn. Nếu các viên mục thú đều như y cả thì dân ta còn cậy vào đâu…”.

Cũng chính vua Minh Mạng minh xét án tham nhũng cần phải nhân chứng mà họ đều ở Gia Định, không dễ ra Huế, nên cử quan Bộ Hình Nguyễn Đình Thinh vào Gia Định tra xét. Sau đó vua Minh Mạng không những định án chết của Huỳnh Công Lý mà còn đuổi con gái ông ta là Huệ Phi trong cung ra làm thường dân.

Đặc biệt, trong Ngự văn chế sơ tập, vua Minh Mạng đã khẳng định “quân pháp bất vị thân” với đình thần : “Từ nay bất kể quân lính trong ngoài, gặp các viên quan biền tham lam ngược đãi như vậy mà phải chỗ quyền thế không nói ra được thì cho phép tâu trình, trẫm sẽ tìm ra căn nguyên để trị tội kẻ tham nhũng”.

Vụ án tham nhũng và sự đền tội của quan tham Huỳnh Công Lý từ gần hai trăm năm trước vẫn còn vẳng đến mai sau…

Nguyễn Văn Danh post (theo Quốc Việt)

CÔNG BỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

NGÔI MỘ CỔ QUÝ TỘC CẦU XÉO

Ngày 4/11/2011, Sở VH-TT&DL Đồng Nai và các nhà khoa học đã tổ chức họp báo công bố kết quả khai quật, nghiên cứu mộ hợp chất Cầu Xéo tại huyện Long Thành. Theo đánh giá của giới nghiên cứu, đây là công trình mộ cổ hợp chất có nhiều giá trị khoa học.

Mộ hợp chất Cầu Xéo được đơn vị thi công xây dựng đường cao tốc Sài Gòn – Long Thành – Dầu Giây phát hiện trong quá trình giải toả mặt bằng. Sau đó tỉnh Đồng Nai phối hợp với Trường Đại học khoa học và xã hội nhân văn ở Sài gòn tiến hành khai quật từ ngày 5/9 đến 25/10. Quá trình khai quật, các nhà khoa học đã giữ được hầu như nguyên trạng ngôi mộ đưa về văn miếu Trấn Biên phục vụ công tác nghiên cứu và bảo tồn. Quần thể mộ cổ Cầu Xéo rộng 40m2, với kiến trúc khép kín tạo thành hình chữ nhật, có cửa mộ hướng Bắc và xung quanh là tường thành.

Các nhà khoa học khẳng định chủ nhân mộ cổ Cầu Xéo có giới tính nữ, độ tuổi khoảng 50 đến 60 tuổi, cao khoảng 1,5m, nhuộm răng đen. Chủ nhân ngôi mộ được chôn theo các di vật như cối trầu, túi gấm, 20 khuy áo bằng vàng tây, 1 gối da màu đen, 1 đôi hài gấm thêu kim tuyến chỉ vàng, một số hạt lúa, cùng hàng ngàn trái cây lạ rắc ở phần chân. Trong quan tài còn phủ đầy kín từ đầu đến chân một lớp lá sen còn nguyên hình.

Theo đánh giá của giới khảo cổ, công trình mộ cổ Cầu Xéo mang nhiều giá trị khoa học. Đây là một quần thể kiến trúc mộ hợp chất còn giữ nguyên được gần như nguyên vẹn hình hài nguyên thuỷ, mang dấu ấn của dạng mộ hợp chất quý tộc thời trung và cận đại. Các chi tiết trang trí, phối trí và kiến trúc quần thể mộ còn mang đặc trưng của kiến trúc mộ cổ quý tộc Nam bộ với các trụ cổng hình búp sen, các chân ban thờ, bình phong kiểu chân quỳ… và cả di tồn Hán Nôm quý hiếm trên bia.

Ngoài ra, di tích mộ hợp chất Cầu Xéo còn có nhiều điểm rất độc đáo lần đầu tiên được biết đến ở Việt Nam như lớp lá sen phủ kín mộ, lớp thuỷ ngân mỏng rắc phần đầu và lớp hạt cây lạ rắc phần chân. Trong đó lớp thuỷ ngân rắc ở đầu thi hài là độc tố acid tính mạnh. Nhận định của các nhà khoa học việc người xưa sử dụng loại chất này nhằm mục đích diệt khuẩn.

Về chất liệu hợp chất và kỹ thuật xây cất, qua kết quả phân tích quang phổ và cường độ nén cho thấy vật liệu xây mộ cổ Cầu Xéo đạt chất lượng “hảo hạng”. Qua phân tích carbone tại Trung tâm Hạt nhân, các nhà khoa học khẳng định độ tuổi của quần thể di tích mộ cổ Cầu Xéo vào khoảng thế kỷ XVII – XVIII. (theo Sỹ Tuyên)

PHÁT HIỆN BỘ XƯƠNG

NỮ HOÀNG MAYA

2000 NĂM TUỔI

Hài cốt của một Nữ hoàng Maya chỉ là một trong số nhiều báu vật mà người ta tìm thấy trong ngôi mộ 2000 năm tuổi đang bị mối ăn tại Guatemala.

Có rất nhiều bí ẩn bao trùm lên hài cốt này mà các nhà khảo cổ chưa thể lý giải. Trước hết, đầu của Nữ hoàng được đặt giữa hai chiếc chậu gỗ: một chiếc dưới gáy và một chiếc úp lên trán. Bên cạnh thi hài, người ta đã tìm thấy nhiều chuỗi ngọc vô giá và dao làm lễ. Cuối cùng, ngôi mộ được tìm thấy bên dưới một lăng mộ khác có tuổi đời “trẻ” hơn – 1300 năm. Bên trong lăng mộ này cũng có một hài cốt được nghi là thành viên của hoàng gia.

Hai ngôi mộ tọa lạc tại khu phế tích Nakum thuộc Guatemalan, nơi xưa kia từng là thủ phủ đông đúc và sầm suất của nền văn minh Maya. Đây cũng là lần đầu tiên người ta phát hiện được mộ Hoàng gia Maya tại Nakum, dù các nhà khoa học đã cất công đào xới và tìm kiếm tại vùng Tam giác Văn hóa (Nakum và ngoại vi) hàng thập kỷ nay.

Giáo sư khảo cổ Wieslaw Koszkul và các đồng nghiệp từ Viện Khảo cổ Krakow, Ba Lan tin rằng cấu trúc 2 ngôi mộ xếp chồng lên nhau cho thấy, quần thể này có thể là một lăng tẩm dùng chung cho cả một triều đại kéo dài tối thiểu 400 năm.

Bộ hài cốt bên trong ngôi mộ nằm trên đã bị đàn mối phá hỏng, tuy nhiên Giáo sư Koszkul nhận định đây hiển nhiên là thân xác của một thành viên Hoàng tộc. Hơn nữa, đây có thể là một phụ nữ bởi họ còn tìm thấy một chiếc nhẫn cỡ nhỏ bên trong mộ.

Công việc khai quật mộ được bắt đầu từ năm 2006. Sau khi chui xuống được tầng đầu tiên của mộ, các nhà khoa học đã phát hiện thấy những vết nứt trên sàn nhà . Họ quyết định cắt xuyên qua lớp đất và tìm thấy tầng mộ thứ hai.

Chia sẻ với Daily Mail, Giáo sư Koszkul cho biết hiện tại, ông vẫn chưa biết lý do vì sao thi hài lại được chôn cùng với chậu gỗ. Bên cạnh đó, ngôi mộ lại không có dấu hiệu bị trộm, dù dấu vết của những kẻ trộm mộ để lại xung quanh mộ rất nhiều.

Những người Maya cổ đại sống tập trung ở Trung Mỹ, nhiều nhất ở phía Nam Mexico, Guatemala, El Salvador và Honduras trong khoảng thời gian từ năm 500 trước CN đến năm 900 sau CN.

Quế Phượng post

KHÔNG MỘT MÁI NHÀ

Gia đình tôi đến Mỹ tính đến hôm nay đã được 22 năm. Bạn bè than phiền tôi thay đổi địa chỉ xoành xoạch, vì thường thư gửi đến địa chỉ này thì tôi đã đổi sang địa chỉ khác.

Tính ra trong 22 năm tôi đã ở 3 tiểu bang, dọn nhà 18 lần và ở tại hơn 10 thành phố khác nhau, địa chỉ lúc nào cũng mang thêm cái đuôi như #12A, #182 vì tất cả đều là căn nhà trong khu chung cư. Nếu ông bà mình nói “ba lần dọn nhà bằng một lần cháy nhà”, thì phần tôi đã cháy nhà ít nhất 6 lần. Tục ngữ Việt Nam có câu : “Hòn đá lăn hoài không có rêu,” vì tôi thay đổi hoài, đi hoài nên không có được một ngôi nhà, và cũng vì không có nhà nên cứ phải dọn nhà đi mãi.

Hồi mới chân ướt chân ráo đến đây, ghé thăm nhà một người bạn, tôi nghe bà chủ ngôi nhà nói : “Ở Mỹ này, nhà là nhà của nhà băng !” Tôi ngây thơ không hiểu nổi mấy chữ “nhà là của nhà băng,” trong bụng cứ trầm trồ nhà của nhà băng, hèn gì ngôi nhà này rộng lớn, lộng lẫy quá chừng. Chưa hiểu, nhưng tôi lại phấn khởi hy vọng, rồi ra trong tương lai, mình cũng có một cái nhà của nhà băng như thế này. Ðến cuối đời, gặp nhiều người, họ lại nói : “Không có nhà như anh mà khỏe, có nhà như chúng tôi khổ chứ đâu có sung sướng gì !” Chẳng qua đây là một câu nói an ủi cho những người thiếu may mắn hơn mình. Từ ngày sang Mỹ đến nay, tôi cũng muốn khổ kiểu này mà khổ không được.

Lang bang chịu mãi cảnh thuê nhà, tôi đâm ra thèm sở hữu một ngôi nhà, nhưng trên đường đi, lại cứ hay nhìn những ngôi nhà đẹp mà không chú ý đến những căn nhà xấu, như thói đời người ta hay chú ý đến mỹ nhân. Trên những khu đồi núi nhà đã đẹp, mà dọc bờ biển nhà lại đẹp hơn. Trong khu nhà của các đại gia ngành ngân hàng, dầu khí, địa ốc ở Houston hay Dallas, nhà nào cũng có vườn cây bóng mát, đồ sộ như một lâu đài. Nhà của các vị thượng nghị sĩ, tướng lãnh ở Virginia là những dinh cơ to lớn, bề thế lạ thường. Những ngôi nhà trong “17-Miles Drive, Pebble Beach,” Bắc Cali, nghe nói lên đến bạc triệu, nằm đó mà nghe sóng vỗ thì đời còn chi thú vị, nhàn tản bằng. Những khu nhà giàu có này, nghe nói bây giờ cũng đã có nhiều chủ nhân là người Việt.

Ði ngang qua những ngọn đồi nhà cửa san sát hay trong những khu nhà đang xây dựng hằng trăm căn, tôi lại tự hỏi vẩn vơ, vì sao ở đâu cũng có hằng nghìn, hàng triệu ngôi nhà như vậy, cũ có, mới có, mà không có căn nhà nào là căn nhà của mình.

Bạn bè ở tù ngày xưa hay cùng đơn vị cũ, sau bao nhiêu năm gặp lại, nhất là ở miền Ðông, ông nào cũng có nhà, mà toàn nhà lớn, vườn rộng, không hề thấy nhà nhỏ. Rồi ai cũng nói, có nhà chỉ thêm khổ, người nhắc lại chuyện nhà của nhà băng, người lại giải thích đây là nhà của con. Khổ sở, phiền phức thế nhưng sao ai cũng có nhà, không phải có một, mà nhiều người Việt Nam có tới năm bảy ngôi nhà, cái ở, cái cho thuê, cái bỏ không !

Thiên hạ cho ở nhà thuê cũng có cái sướng của kẻ ở nhà thuê. Bồn cầu nghẹt, nước trong phòng tắm rò rỉ, nhà có chuột gián… thì cứ việc gọi chủ nhà. Chẳng may nhà có ma, xuống cấp hay mặt ông chủ phố hay manager dễ ghét thì sang năm ta lại đổi nhà. Con lên trung học đổi trường thì ta lại đổi nhà theo. Chỉ phải chuyện tháng nào cũng phải chi tiền nhà, ngày tháng qua mau mà sốt ruột. Cũng bất tiện là nếu không may thuê lỡ nhầm những khu nhà xấu, xe cộ thỉnh thoảng bị đập kiếng hay xe bị rạch sơn thì phải chờ một năm cho hết hợp đồng.

Ở khu chung cư, thỉnh thoảng lại có tấm giấy quảng cáo gắn ở cửa ra vào, kêu gọi người đi thuê hãy làm chủ một ngôi nhà, vì trả tiền nhà mua hàng tháng cũng bằng trả tiền thuê, tuy vậy đào đâu ra 20% tiền down thì không nghe mấy ông bà chuyện quảng cáo nhắc đến. Nếu trên nước Mỹ này ai cũng mua được nhà thì mấy ông bà tư bản xây chung cư cho thuê làm sao có khách ?

Không có nhà, tôi cũng không có cơ hội quen biết những ông bà sang trọng bán nhà, thường đi trên những chiếc xe đắt tiền, hay theo dõi tình trạng địa ốc ở Mỹ lên xuống như thế nào, cũng chẳng biết thế nào là “closing cost,” thế nào là “short sale” hay “refinance.”

Có một ngôi nhà đúng là một giấc mơ như người Mỹ đã nói, “American Dream,” cũng không có gì là quá đáng. Ai đến Mỹ cũng ôm giấc mơ này, nhưng không phải tất cả mọi người ai cũng biến giấc mơ thành hiện thực, có người được nhưng cũng có người không. Không có nhà thì phải tự an ủi, “nhà là nhà của nhà băng,” “có nhà chi cho khổ!”

Người ta thường nói : “Có tiền mua được một căn nhà nhưng không mua được một mái ấm.” Dưới 100 mái nhà không biết có được bao nhiêu mái ấm, có nhà khó hay có mái ấm khó hơn, hay chẳng qua đây là lời người ta an ủi những kẻ không nhà. Tuy không sở hữu được một căn nhà nhưng hằng tháng còn có tiền thuê nhà cũng đã hạnh phúc lắm rồi, nếu so với những người kém may mắn, ngủ ngoài hè phố, trong những ống cống, hay dưới gầm cầu trong những đêm lạnh như đêm nay.

Ðến bây giờ nhìn lại chặng đường đã đi qua, nếu có ai hỏi tôi liệu có còn thích có một ngôi nhà hay không, không biết, khi ở tuổi, đất thì gần mà trời thì xa, câu trả lời là có hay không ! Hình như những lúc còn trai trẻ, sức khỏe, người ta còn nhiều mơ ước, tham dục, nhưng đối với những ai đang biết mình ở cuối chặng đường đời, hay đang mang căn bệnh trầm kha, thể xác rã rời, nằm trên giường bệnh, liệu có còn ham muốn gì nữa không ? Ðến lúc sức đã tàn, lực đã kiệt, thấy những chuyện hăm hở, bon chen ngày trước hóa ra vô nghĩa.

Nỗi bất hạnh thông thường của đời người là “sống vô gia cư, thác vô địa táng” sống thì còn cảm giác vui buồn, sướng khổ, còn biết lạnh nóng, hãnh diện hay tủi thân, vênh vang hay xấu hổ, cần đến một nơi trú thân, nhưng chết rồi, liệu có cần đến một mảnh đất để chôn vùi nắm xương tàn mà chắc chắn rồi sẽ rã mục theo năm tháng không ? Trong một thời đại mà nạn nhân mãn tăng, đất đai quý hơn vàng, nghĩa địa đào lên lấp xuống, có những nơi moi lên chôn xuống nhiều lần, thì chết cũng không yên.

Ðất nước trải qua nhiều năm chiến tranh, loạn lạc, không phải ai chết cũng có một nấm mồ. Ở Việt Nam bây giờ nói đến mồ tập thể, mộ gió là chuyện thường tình. Hàng vạn đồng bào, anh em ruột thịt của chúng ra đã bị thủy táng bất đắc dĩ trong lòng đại dương, nhiều người lính thân xác đã tàn tạ, mục nát trong đất cát quê hương, vậy mà có người chết ở hải ngoại phải mang về chôn trên đất quê hương, cũng có người đi chơi Việt Nam chết, phải mang trở lại Mỹ. Sao mà người ta coi trọng “chiếc áo cũ” và làm khổ cho người sống đến thế ?

Là người sống không có nhà chưa có gì quan trọng, vậy thì chết có lẽ cũng không cần đến một nấm mồ. Chút tro tàn gửi cho gió ngàn bay có lẽ thênh thang hơn một ngôi mộ trong nghĩa trang buồn không người viếng thăm. Lúc sống không có một ngôi nhà, lúc chết đâu còn cần đến một địa chỉ !

Yên Huỳnh post (theo Tạp Ghi Huy Phương)

NỤ HÔN HUYỀN DIỆU

Dương đi mua quà sáng về, rón rénbước vào phòng ngủ, ngồi xuống cạnh giường, nhìn vợ trìu mến. Tỉnh từ từ mở mắt ra, thấy chồng nhìn mình trìu mến, thẹn thùng hỏi :

– “Sao anh nhìn em ghê thế”

Dương cười :

– “Từ ngày có bầu, em ngày càng xinh ra, à, hy vọng hôm nay thành phố không có đám cháy nào để anh được đưa em đi bệnh viện kiểm tra”

Tỉnh buồn thiu :

– “Chán chết đi được 6 lần đi bệnh viện vẫn chỉ có mình em, bác sĩ và y tá nhìn em với ánh mắt là lạ thế nào ấy”

Chuẩn bị xong, lúc sắp đi, chuông điện thoại di động của Dương reo lên. Nghe xong, Dương buồn rầu nói với vợ :

– ” Thật tiếc, khách sạn Hoa Hồng gần tòa thị chính bị hoả hoạn, anh phải đi ngay, em chịu khó một chút, thế nào lần sau anh cũng đưa em đi”

Anh vừa nói vừa quay trở lại phòng ngủ, thay đồng phục, tay cầm chiếc áo khoác cho vợ, dỗ dành :

– “Em mặc áo khoác vào đi, anh biết em thông cảm với anh lắm”

Nghe Dương dỗ dành , nỗi buồn trong lòng Tỉnh vơi đi một nửa. Nàng giơ tay ra để anh mặc áo khoác rồi nép vào ngực anh không chịu rời ra. Dương liếc nhìn đồng hồ, nhẹ nhàng ôm vợ, lúc đầu nàng né tránh, nhưng rồi cũng đón lấy nụ hôn của Dương. Khi kết thúc nụ hôn dài gần như khiến nàng nghẹn thở, Tỉnh nói :

– “Rõ dơ, ai bảo hôn người ta !”

Dương cười :

– “Nụ hôn hôm nay của anh kỳ diệu lắm, nó truyền sức mạnh thần kỳ vào người  em, em đi đến đâu là có người giúp đến đó”.

– “Em chẳng tin”. Tỉnh nhìn chồng cười

– “Rồi em sẽ thấy lời anh linh nghiệm như thế nào”.

Hai người cầm tay nhau ra khỏi cửa, bước ra hè phố. Chưa vẫy xe đã thấy một chiếc taxi từ phía sau lại gần rồi đậu trước mặt. Tỉnh đang phân vân không biết ai gọi xe, đã thấy tài xế xuống xe, mở cửa sau mời Tỉnh  lên. Tài xế là phụ nữ, ân cần hỏi han đủ mọi chuyện :

– “Có mang mấy tháng ? Có bình thường không ? phải năng đi lại, vui vẻ, chú ý kiểm tra định kỳ…” làm cho Tỉnh hết sức cảm động.

Khi đi xuống cầu thang tàu điện ngầm, một cô bé đi ngược lên, hai người đi qua nhau. Cô bé ngoảnh lại nhìn, vội quay lại đứng trước mặt Tỉnh nói :

– “Chị ơi, để em dìu chị”

Tỉnh vội từ chối, nhưng cô bé vẫn nắm tay dìu đi. Bước vào toa tàu điện ngầm, không có ghế trống, một người đàn ông trung niên ngồi gần đấy thấy Tịnh liền đứng lên mỉm cười nói :

– “Cô ngồi đi, tôi sắp đến bến rồi”

Tỉnh cảm ơn rồi ngồi xuống. Cô để ý thấy tàu đã qua nhiều trạm mà người đàn ông đó vẫn không nhúc nhích. Cô thầm nghĩ : “Anh Dương nói  đúng thật, nụ hôn dài làm mình gặp toàn người tốt “. Đến bệnh viện, từ lúc lấy số, vào kiểm tra, đến lúc lấy thuốc  hễ Tỉnh xếp hàng là người đứng sau nói với người  đứng trước để cô lên phía trước. Mặc cho Tỉnh chối  :

– “Không cần đâu ạ”, người ta vẫn nhường cho cô lên trên. Trên đường về, cô dừng lại một lát trên phố, một ông cụ hỏi :

– “Con gái, có cần bác giúp gì không ?” .

Cô vội nói :

“Dạ không, cám ơn cụ” .

Tỉnh vừa bước vào cửa thì Dương cũng vừa rở về. Anh từ hiện trường về thẳng nhà, mặt mũi còn lem luốc. Dương ân cần hỏi :

– “Trên đường có ai giúp em không ?”

– “Sao anh biết trên đường có người giúp em ?”. Tỉnh hỏi vặn.

– “Anh phải biết sự diệu kỳ của nụ hôn chứ !”

– “Anh là nhà  tiên tri à ?”. Tỉnh âu yếm nhìn chồng.

Nhân lúc Tỉnh không để ý, Dương lén gỡ mảnh giấy gài sau lưng áo khoác của cô. Mảnh giấy có dòng chữ : “Tôi là lính cứu hỏa, phải đi làm nhiệm vụ, xin thay tôi săn sóc vợ tôi đang có thai. Xin cám ơn”.

Đỗ Quyên dịch (Truyện của Vương Bồi Tỉnh – Trung Quốc)

NGÀY CỦA MẸ (1)

NGUỒN GỐC

NGÀY CỦA MẸ

Ngày Của Mẹ đang đến gần (13/5/2012) và bạn đang háo hức hoàn thành kế hoạch tri ân những người mẹ của mình. Để các bạn hiểu rõ hơn về ngày đáng quý này, Ẩm Thực & Giải Trí đã tìm hiểu nhiều tài liệu liên quan đến Ngày Của Mẹ, giúp bạn thấy ý nghĩa hơn, trân trọng hơn khi trên đời này có Mẹ.

Ngày Của Mẹ còn gọi là Ngày Hiền Mẫu , đương thời được khởi xướng có nguồn gốc vào thời kỳ Hy Lạp và La Mã. Lễ hội tri ân được tổ chức thường niên vào mùa xuân, người Hy Lạp dùng ngày này để cúng hiến cho các nữ thần, đặc biệt là vị thần Rhea – Mẹ của nhiều vị thần trong thần thoại Hy Lạp.

Theo một tài liệu khác ghi lại thông tin như sau : cổ sử La Mã tổ chức lễ hội mùa xuân Hilaria để tưởng nhớ mẫu chúa Cybele vào ngày 15 tháng 3. Tuy nhiên lễ hội này khá tốn kém, gây phẫn nộ trong quần chúng khi kéo dài ba ngày bao gồm : diễu hành, trò chơi và những dạ hội giả trang, lễ hội đã khép lại ngay sau đó không lâu.

Cũng có một tài liệu khác khẳng định rằng : Cái gốc lịch sử Ngày Của Mẹ được tìm thấy ở Anh Quốc vào khoảng năm 1600. Ngày này được tổ chức hàng năm, trước lễ Phục Sinh 40 ngày để tri ân các bà mẹ. Vào ngày của mẹ, các em nhỏ, những người làm công công, công nhân xa nhà được khuyến khích mang hoa, bánh bột nhân trái cây đến tặng và tri ân các bà mẹ của mình. Tuy nhiên, phong tục này bị quên lãng vào thế kỷ thứ 19.

Sau đó, ngày lễ này được khởi xướng trở lại sau thế chiến thứ hai tại Mỹ do bà Anna Marie Jarvis đấu tranh xác lập, tại phố Grafton, tiểu bang Tây Virginia, Hoa Kỳ. Bà Anna Marie Jarvis quyết tâm thực hiện di nguyện của người mẹ quá cố. Người mẹ của bà Anna khi còn sống là một nhân viên an sinh, luôn đấu tranh không ngừng để làm rạng danh các bà mẹ, tri ân công sức của họ trong đời sống và vì hòa bình. Sau khi người mẹ mất, cộng thêm thái độ thờ ơ lãnh đạm của người dân Hoa Kỳ với thân mẫu của mình càng thôi thúc quyết tâm của bà. Sau nhiều năm đấu tranh quyết liệt, vào năm 1911, Ngày Của Mẹ được tổ chức ở hầu hết các tiểu bang ở Mỹ. Vào ngày 8/5/1914, tổng thống Mỹ đã ký quyết định ấn định ngày Chủ nhật thứ hai của tháng Năm hàng năm là Ngày của Mẹ.

Ngày nay, Ngày Của Mẹ đã được phủ rộng đến 46 quốc gia, tuy các ngày kỷ niệm có khác nhau nhưng đều ấn định vào tháng năm hàng năm.

Tại Việt Nam, ngày Của Mẹ mới thực sự nở rộ trong những năm gần đây, càng ngày càng có ý nghĩa không nhỏ đến đời sống tình cảm trong mỗi gia đình. Tại Việt Nam, chúng ta cũng có một ngày để dành cho những người con thể hiện tấm lòng hiếu thảo của mình đối với mẹ của mình, đó là ngày Lễ Vu Lan. Mục đích ngày Lễ Vu Lan và Ngày Của Mẹ đều là như nhau nhưng đối trách nhiệm và vai trò của những người con, chúng ta nên xem ngày nào cũng là ngày báo hiếu chứ không phải cả năm chỉ có hai ngày để thể hiện sự quan tâm, trách nhiệm và báo hiếu đâu nha các bạn.

Bạn đã ít nhiều hiểu và biết được ý nghĩa nguồn gốc Ngày Của Mẹ rồi đúng không ? Đừng chần chừ nữa, ngay từ bây giờ, hãy bắt tay vào kế hoạch của bạn dành cho những người mẹ, người bà kính yêu của mình đi nhé !

MẸ : NGƯỜI KHÔNG THỂ THAY THẾ

Bạn có thể thay đổi Vợ.. Người Tình…..

Nhưng Mẹ chỉ một… và một … mà thôi….

Mời các bạn đọc một biên khảo hay của TV tiền bối – Bích Huyền thân chúc các bạn một mùa Mother’s thật Hạnh Phúc bên cành hoa đỏ.. hoặc trắng…

Thưa các bạn,

Tháng Năm tại Hoa kỳ, khi những cây Jacaranda bâng khuâng tím ngát mầu hoa tím là người ta lại nhớ Mẹ vì ngày Mother’s Day là khoảng giữa tháng này. Có lẽ ngày lễ Mẹ đã có từ lâu. Mỗi dân tộc chọn một ngày, cách thức khác nhau nhưng ý nghĩa chung là để tỏ lòng biết ơn đối với Mẹ.

Thật đáng yêu và cảm động, năm nay BH nhận được một món quà rất sớm, cách đây trên dưới 10 ngày. Nói sao hết cho vừa với tình thương yêu trong sáng ấy…

Nói đến mẹ là nói đến sự hy sinh vô bờ bến. Nhất là trong lịc sử cận đại. Có khi Mẹ đã phải một tay nuôi tù trong trại tù gọi là “trại học tập cải tạo” khi : bố tù, chồng tù, con tù, rồi cả cháu tù nữa. Có những bà mẹ, có bao nhiêu đứa con thì sau chiến tranh không còn sót người nào ! Tháng Năm, ngày lễ Mẹ, hãy ngậm ngùi nhớ đến những bà mẹ ấy.

Nhà thơ Hồ Dzếnh trong một bài thơ ca ngợi người đàn bà Việt Nam, đã viết những bài thơ tha thiết như thế này :

Cô gái Việt Nam ơi !

Nếu chữ hy sinh có ở đời

Tôi muốn nạm vàng muôn khổ cực

Cho lòng cô gái Việt Nam tươi

Thế thì… có chữ nào, nạm bằng gì có thể làm cho những người chêt sống lại được không ?

Mẹ của chúng ta

Đã có bao nhiêu thơ ca ca ngợi về người mẹ, từ ngàn xưa cho đến ngày nay và mãi mãi mai sau, viết về mẹ vẫn là vô cùng.

Cho dù ở đâu, bất cứ một xứ sở, xã hội nào, văn minh hay lạc hậu, người Mẹ cũng vẫn là thần tượng vĩ đại nhất của con người. Mẹ là người sáng tạo ra nhân loại, ban phát tình yêu, ân sủng cho con người.

Chúng ta hãy nghe một vài trích đoạn trong bài thơ Ngày Xưa Có Mẹ của Khuyết danh :

Khi con biết ăn

Mẹ là người mới cho con muỗng cháo

Khi con biết đòi ngủ bằng tiết tấu

Mẹ là người thức hát ru con

Bầu trời trong mắt con ngày một xanh hơn

Là khi tóc mẹ ngày thêm sợi bạc

Nếu có một vòng trái đất

Người mong con mòn mỏi vẫn không ai ngoài Mẹ

Mẹ !

Tiếng gọi Mẹ mà khi bập bẹ

Đến lúc trưởng thành con vẫn chưa hiểu hết chiều sâu

Mẹ, có nghĩa là bắt đầu

Cho sự sống, tình yêu, hạnh phúc …

Vâng, thưa các bạn,

Mẹ, có nghĩa là mãi mãi

Là không cho đi không đòi lại bao giờ

Mẹ bao giờ cũng nhận về mình những nỗi bất hạnh, sự đau khổ, điều oan nghiệt và bất công có khi do chính những  người con của mẹ gây nên.

Thiên chức làm mẹ từ nghìn xưa là niềm tự hào cao cả, kiêu hãnh và vinh quang mà mẹ cảm thấy hạnh phúc.

Niềm sung sướng hạnh phúc nhất của mẹ phải chăng là cái khoảnh khắc nghe thấy tiếng khóc đầu tiên của đứa con vừa chào đời,  thấy gương mặt con  với cái nhìn đầu tiên. Mẹ quên cả sự đau đớn thể xác chỉ còn biết đứa con yêu, một thiên thần bé bỏng…

Mẹ nuôi con không kể nhọc nhằn bao ngày tháng.

Mùa xuân đến với trần gian tươi đẹp nhưng mùa xuân mỗi lần đến với mẹ là mỗi lần tóc mẹ bạc, mắt mẹ lại nhạt phai…

Con lớn lên rồi rời xa tay mẹ

Mẹ vẫn cười nghiêng theo bóng đời con

Khi vấp ngã con gọi “Mẹ ơi” rất khẽ

Đỡ con lên, mẹ hỏi “có đau không?”

Lòng mẹ ấm, lòng mẹ thơm, lòng mẹ là nơi an toàn nhất cho con trú ngụ. Bao nhiêu tiếng cười, nước mắt rơi mà vẫn không đầy, không vơi.

Bao nhiêu nỗi buồn, bao nhiêu nỗi âu lo mẹ chịu để con có niềm vui , mỗi lần ngồi bên mẹ , con như được ngồi trong vùng kỷ niệm , nguyên vẹn, yêu thương tràn đầy.

Con tập  làm thơ từ năm lớp 9

Bởi tự bao giờ quen tiếng mẹ ru

Yêu tiếng quê hương ngọt ngào giọng mẹ

Với tiếng ru êm đềm : Gió mùa thu…

Và… thêm một bài thơ thật đẹp , mẹ dành cho con :

Nếu mẹ bỗng tan thành ánh trăng

Thì con ơi, con hãy là đồng lúa

Ánh trăng mơn man đồng lúa rì rào

Mẹ con mình cùng hát

Những bài ca không lời đẫm hương

Nếu mẹ bỗng biến thành đồng cỏ

Thì con ơi, con hãy là một con bê con

Đồng cỏ mẹ mênh mông tơ non

Cho con tha hồ ăn, tha hồ bay nhảy

Nếu mẹ bỗng chảy thành dòng sông

Thì con ơi, con hãy là ánh sáng

Bởi những dòng sông trong đêm buồn lắm

Mẹ sợ những con thuyền nằm ngủ không yên

Nếu mẹ bỗng hóa thành cánh buồm

Thì con ơi, con hãy là ngọn gió

Mẹ con mình đi khắp bốn phương

Thấm hết bao mặn mòi, ngọt mát của nhân gian

Nếu mẹ là..nếu… mẹ là…

Thôi mẹ ơi, mẹ đừng là gì nữa

Con muốn mẹ là Mẹ mãi thôi

Để con được ngồi trong hai vòng tay mát êm của mẹ…

Một câu chuyện cảm động về người mẹ thứ hai :

Cô Giáo Là Mẹ

Câu chuyện đã xảy ra từ nhiều năm trước. Lúc đó, cô Thompson đang dạy tại trường tiểu học của thị trấn nhỏ tại Hoa Kỳ. Vào ngày khai giảng năm học mới, cô đứng trước những em học sinh lớp năm, nhìn cả lớp và nói cô sẽ yêu tất cả các học sinh như nhau. Nhưng thực ra cô biết mình sẽ không làm được điều đó bởi cô đã nhìn thấy cậu học sinh Teddy Stoddard ngồi lù lù ngay bàn đầu. Năm ngoái, cô đã từng biết Teddy và thấy cậu bé chơi không đẹp với bạn bè, quần áo thì lôi thôi lếch thếch, còn người ngợm thì lại quá bẩn thỉu. “Teddy trông thật khó ưa.”

Chẳng những thế, cô Thompson còn dùng cây bút đỏ vạch một chữ thật rõ đậm vào hồ sơ cá nhân của Teddy và ghi chữ F đỏ chói ngay phía ngoài (chữ F là hạng kém). Ở trường này, vào đầu năm học mỗi giáo viên đều phải xem thành tích của từng học sinh trong lớp mình chủ nhiệm. Cô Thompson đã nhét hồ sơ cá nhân của Teddy đến cuối cùng mới mở ra xem, và cô rất ngạc nhiên về những gì đọc được. ô giáo  lớp 1 nhận xét Teddy như sau : “Teddy là một đứa trẻ thông minh và luôn vui vẻ. Học giỏi và chăm ngoan… Em là nguồn vui cho người chung quanh”. Cô giáo lớp 2 nhận xét : “Teddy là một học sinh xuất sắc, được bạn bè yêu quý nhưng có chút vấn đề vì mẹ em ốm nặng và cuộc sống trong gia đình thật sự là một cuộc chiến đấu”.

Giáo viên lớp 3 ghi : “Cái chết của người mẹ đã tác động mạnh đến Teddy. Em đã cố gắng học, nhưng cha em không mấy quan tâm đến con cái và đời sống gia đình sẽ ảnh hưởng đến em nếu em không được giúp đỡ”. Giáo viên chủ nhiệm lớp 4 nhận xét: “Teddy tỏ ra lãnh đạm và không tỏ ra thích thú trong học tập. Em không có nhiều bạn và thỉnh thoảng ngủ gục trong lớp”.

Đọc đến đây, cô Thompson chợt hiểu ra vấn đề và cảm thấy tự hổ thẹn. Cô còn thấy áy náy hơn khi đến lễ Giáng sinh, tất cả học sinh trong lớp đem tặng cô những gói quà gói giấy màu và gắn nơ thật đẹp, ngoại trừ món quà của Teddy. Em đem tặng cô một gói quà bọc vụng về bằng loại giấy gói hàng nâu xỉn mà em tận dụng lại từ loại túi giấy gói hàng của tiệm tạp hoá. Cô Thompson cảm thấy đau lòng khi mở gói quà ấy ra trước mặt cả lớp. Một vài học sinh đã bật cười khi thấy cô giơ lên chiếc vòng giả kim cương cũ đã sút mất một vài hột đá và một chai nước hoa chỉ còn lại một ít. Nhưng cô đã dập tắt những tiếng cười nhạo kia khi cô khen chiếc vòng đẹp, đeo nó vào tay và xịt ít nước hoa trong chai lên cổ.

Hôm đó Teddy đã nén lại cho đến cuối giờ để nói với cô: “Thưa cô, hôm nay cô thơm như mẹ em ngày xưa”. Sau khi đứa bé ra về, cô Thompson đã ngồi khóc cả giờ đồng hồ. Và chính từ hôm đó, ngoài dạy học cô còn lưu tâm chăm sóc cho Teddy hơn trước. Mỗi khi cô đến bàn em để hướng dẫn thêm, tinh thần Teddy dường như phấn chấn hẳn lên. Cô càng động viên em càng tiến bộ nhanh. Vào cuối năm học, Teddy đã trở thành học sinh giỏi nhất lớp. Và trái với phát biểu của mình vào đầu năm học, cô đã không yêu thương mọi học sinh như nhau. Teddy là học sinh cưng nhất của cô.

Một năm sau, cô tìm thấy một mẩu giấy nhét qua khe cửa.

Teddy viết : “Cô là cô giáo tuyệt vời nhất trong đời em”. Sáu năm sau, cô lại nhận được một bức thư ngắn từ Teddy. Cậu cho biết đã tốt nghiệp trung học, đứng hạng 3 trong lớp và “Cô vẫn là người thầy tuyệt vời nhất trong đời em”. Bốn năm sau, cô lại nhận được một lá thư nữa. Teddy cho biết dù hoàn cảnh rất khó khăn khiến cho cậu có lúc cảm thấy bế tắc, cậu vẫn quyết tốt nghiệp đại học với hạng xuất sắc nhất, nhưng “Cô vẫn luôn là cô giáo tuyệt vời mà em yêu quý nhất trong đời”. Rồi bốn năm sau nữa, cô nhận được bức thư trong đó Teddy báo tin cho biết cậu đã đậu tiến sĩ và quyết định học thêm lên. “Cô vẫn là người thầy tuyệt nhất của đời em”, nhưng lúc này tên cậu đã dài hơn.

Bức thư ký tên Theodore F. Stoddard – giáo sư tiến sĩ.

Câu chuyện vẫn chưa kết thúc tại đây.

Một bức thư nữa được gửi đến nhà cô Thompson. Teddy kể cậu đã gặp một cô gái và cậu sẽ cưới cô ta. Cậu giải thích vì cha cậu đã mất cách đây vài năm nên cậu mong cô Thompson sẽ đến dự lễ cưới và ngồi ở vị trí vốn thường dành cho mẹ chú rể. Và bạn thử đoán xem việc gì đã xảy ra ?

Ngày đó, cô đeo chiếc vòng kim cương giả bị rớt hột mà Teddy đã tặng cô năm xưa, sức thứ nước hoa mà Teddy nói mẹ cậu đã dùng vào kỳ Giáng sinh cuối cùng trước lúc bà mất. Họ ôm nhau mừng rỡ và giáo sư Stoddard thì thầm vào tai cô Thompson : “Cám ơn cô đã tin tưởng em. Cám ơn cô rất nhiều vì đã làm cho em cảm thấy mình quan trọng và cho em niềm tin rằng mình sẽ tiến bộ”.

Cô Thompson vừa khóc vừa nói nhỏ với cậu : “Teddy, em nói sai rồi. Chính em mới là người đã dạy cô rằng cô có thể sống khác đi. Cô chưa từng biết dạy học cho tới khi cô gặp được em.”

Bích Huyền chúc quý bạn có một ngày Mother ‘s Day tràn đầy hạnh phúc.

Bích Huyền

LỄ VÍA MIẾU

BÀ CHÚA XỨ NÚI SAM

Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam tọa lạc nơi chân núi Sam, thuộc thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang,. Đây là một di tích (lịch sử, kiến trúc & tâm linh) quan trọng của tỉnh và của khu vực.

Nguồn gốc

Cách đây khoảng 200 năm, tượng Bà (sau được gọi tôn là Bà Chúa Xứ) được dân địa phương phát hiện và khiêng xuống từ đỉnh núi Sam bằng 9 (có nguồn nói 12 hoặc hơn nữa) cô gái đồng trinh, theo như lời dạy của Bà qua miệng “cô đồng”, nên người dân đã lập miếu để tôn thờ.

Có ý kiến cho rằng ngài Thoại Ngọc Hầu hoặc vợ là bà  Châu Thị Tế là người đã ban lệnh và hỗ trợ việc xây dựng miếu. Tuy khó xác minh, nhưng biết chắc là miếu ra đời sau khi vị quan này về đây trấn nhậm và đào con kênh Vĩnh Tế hoàn tất (1824) mang lại lợi ích rõ rệt cho lưu dân và dân bản địa.

Kiến trúc

Ban đầu miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam được cất đơn sơ bằng tre lá, nằm trên vùng đất trũng phía tây bắc núi Sam, lưng quay về vách núi, chính điện nhìn ra con đường và cánh đồng làng.

Năm 1870, ngôi miếu được xây dựng lại bằng gạch hồ ô dước. Năm 1962, ngôi miếu được tu sửa khang trang bằng đá miểng và lợp ngói âm dương. Năm 1965, Hội quý tế cho xây nới rộng nhà khách và làm hàng rào nhà chính điện của ngôi miếu. Năm 1972, ngôi miếu được tái thiết lớn và hoàn thành vào năm 1976, tạo nên dáng vẻ như hiện nay.

Đến khi ấy, kiến trúc miếu có dạng chữ “quốc”, hình khối tháp dạng hoa sen nở, mái tam cấp ba tầng lầu, lợp ngói đại ống màu xanh, góc mái vút cao như mũi thuyền đang lướt sóng. Bên trong miếu có võ ca, chánh điện, phòng khách, phòng của Ban quý tế…

Các hoa văn ở cổ lầu chính điện, thể hiện đậm nét nghệ thuật Ấn Độ. Phía trên cao, các tượng thần khỏe mạnh, đẹp đẽ giăng tay đỡ những đầu kèo. Các khung bao, cánh cửa đều được chạm trổ, khắc, lộng tinh xảo và nhiều liễn đối, hoành phi ở nơi đây cũng rực rỡ vàng son. Đặc biệt, bức tường phía sau tượng Bà, bốn cây cột cổ lầu trước chính điện gần như được giữ nguyên như cũ.

Tượng Bà Chúa Xứ Núi Sam

Nguồn gốc pho tượng đến nay vẫn còn là điều bí ẩn. Tục truyền, tượng được đem đến đây bằng thuyền.

Khi xưa, tượng Bà ngự trên đỉnh núi Sam, gần Pháo Đài. Chứng minh cho điều này là bệ đá Bà ngồi vẫn còn tồn tại (ảnh). Bệ đá có chiều ngang 1,60m; dài 0,3m, chính giữa có lỗ vuông cạnh 0,34m, loại trầm tích thạch màu xanh đen, hạt nhuyễn, không có ở địa phương.

Theo nhà khảo cổ học người Pháp là Malleret đến nghiên cứu vào năm 1941, thì tượng Bà Chúa Xứ Núi Sam thuộc loại tượng thần Visnu (nam thần), tạc dáng người nghĩ ngợi, quý phái, chất lượng bằng đá son, có giá trị nghệ thuật cao, được tạc vào cuối thế kỷ thứ VI, và rất có thể đây một trong số hiện vật cổ của nền văn hóa Óc Eo.

Sau này, nhà văn Sơn Nam cũng đã chép rằng : Tượng của Bà là pho tượng Phật đàn ông của người Khmer, bị bỏ quên lâu đời trên đỉnh núi Sam. Khi người Việt Nam tiến đến khai hoang lập ấp đưa tượng vào miễu, điểm tô lại với nước sơn, trở thành đàn bà mặc áo lụa, đeo dây chuyền. Và từ đó “Bà Chúa Xứ” là vị thần có quyền thế lớn ở khu vực ấy, xứ ấy…

Cũng theo lời truyền miệng dân gian, thì khi xưa có một nhóm người đến quấy nhiễu nơi đây. Gặp tượng Bà, họ muốn lấy đi nhưng xê dịch không được nên tức giận đập gãy cánh tay trái của pho tượng.

Chung quanh tượng Bà (đặt ở giữa chính điện), còn có bàn thờ Hội Đồng (phía trước), Tiền hiền và Hậu hiền (hai bên), bàn thờ Cô (bên phải, có thờ một tượng nữ thần nhỏ bằng gỗ), bàn thờ Cậu (bên trái, có thờ một Linga bằng đá rất to, cao khoảng 1,2 m)…

Việc thờ cúng

Lễ Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam được tổ chức trang trọng từ ngày 23 đến 27 tháng 4 Âm lịch hàng năm, trong đó ngày vía chính là ngày 25. Các lễ chính gồm :

– Lễ “tắm Bà” được cử hành vào lúc 0 giờ đêm 23 rạng 24 tháng 4 âm lịch.

– Lễ “thỉnh sắc” tức rước sắc và bài vị ngài Thoại Ngọc Hầu cùng hai phu nhân từ Sơn lăng về miếu bà, được cử hành lúc 15 giờ chiều ngày 24.

– Lễ túc yết và Lễ xây chầu : Lễ “túc yết” là lễ dâng lễ vật (lễ vật chính là con heo trắng) và tiến hành nghi thức cúng Bà, lúc 0 giờ khuya đêm 25 rạng 26. Ngay sau đó, là “Lễ xây chầu” mở đầu cho việc hát bộ (còn gọi là hát bội hay hát tuồng) .

– Lễ chánh tế được cử hành vào 4 giờ sáng ngày 27.

– Lễ hồi sắc được cử hành lúc 16 giờ chiều cùng ngày, ngay sau khi Lễ chánh tế kết thúc. Đây là lễ đem sắc và bài vị Thoại Ngọc Hầu cùng hai phu nhân về lại Sơn lăng.

Theo tín ngưỡng của người dân, nơi đây vẫn còn có những tục như xin xăm Bà, vay tiền Bà, thỉnh bùa Bà…

Ý nghĩa việc thờ cúng

Nhà văn Sơn Nam viết:

Bà Chúa Xứ, dạng đạo Lão dân gian, thu hút bá tánh nhiều nhất Nam Bộ. Cất bên chùa Tây An nhưng trong “Đại Nam nhất thống chí” không ghi tên, phải chăng đời Tự Đức và khi Pháp đến hồi cuối thế kỷ thứ XIX, miễu hãy còn khiêm tốn, khách hành hương chỉ là người phụ cận mà thôi. Miễu phát triển về sau, qua thời kháng Pháp…

Lăng Thoại Ngọc Hầu được trùng tu, rồi lập miếu thờ trang nghiêm như đình làng, nhưng vẫn không đáp ứng được yêu cầu của con người khi quá đau khổ, bế tắc. Miễu bà Chúa Xứ được nâng cấp, thay cho miễu sơ sài… Đây là dạng tu tiên, một dạng như : Tây Vương Mẫu, Cửu Thiên Huyền Nữ, hoặc công chúa Liễu Hạnh… nên việc thờ phượng, cúng vái để “tự nhiên”, khách có thể ăn mặc lòe loẹt, trai gái đùa giỡn, cúng rượu thịt… Vị trí miễu Bà núi Sam hội đủ : Sông rộng, đồi núi trập trùng, vùng biên giới…Người hành hương cảm thấy được thỏa mãn về tâm thần, hòa mình vào”sơn hà xã tắc”, “khí thiêng sông núi”…

Theo Nguyễn Đức Toàn, thì :

Theo bước đường Nam tiến của dân tộc Việt, chúa Liễu đã từ Phủ Giầy (Nam Định), Đền Sòng (Thanh Hóa) đi về phương Nam, tạm dừng ở điện Hòn Chén (Huế) và gặp bà Pô Nưgar tại Nha Trang, gặp bà Đen (Linh Sơn Thánh Mẫu) ở Tây Ninh và bà Chúa Xứ ở núi Sam, Châu Đốc… Tất cả các bà đều là một Mẹ duy nhất trong tâm thức của tín ngưỡng và tập tục thờ mẫu của người Việt…

Sách Kiến thức phục vụ thuyết minh du lịch giải thích thêm :

Do ảnh hưởng Phật Giáo, Lão Giáo cùng với các tín ngưỡng đồng bóng của dân gian mà các vị thần được thờ chủ yếu là nữ, như: Thánh mẫu Liễu Hạnh, Thượng Ngàn, Bà Chúa Tiên, Bà Chúa Ngọc, Bà Chúa Động, Bà Cố Hỷ, Bà Thủy, Bà Hỏa…Và Bà Chúa Xứ trở thành một dạng như “Phật Bà Quan Âm ” (đối với người Việt), “Bà Mã Hậu” hay “Thiên Hậu Nương Nương” (đối vớ người Hoa). Bà được tin tưởng đến độ có rất nhiều huyền thoại về “quyền lực linh thiêng” của Bà trong việc “ban phúc, giáng họa” cho con người. Như hai câu liễn đối treo ở miếu Bà như sau :

Cầu tất ứng, thí tất linh, mộng trung chỉ thi

Xiêm khả kính, Thanh khả mộ, ý ngoại nan lường.

Tạm dịch:

Xin thì được, ban thì linh, báo trong giấc mông

(Người) Xiêm sợ hãi, (Người) Hoa kính mộ, ý tứ khôn lường.

Ngày 10/7/2000, Bộ Văn Hóa đã ký quyết định số 92/VH-QĐ công nhận Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam thuộc khu di tích Núi Sam là cấp Quốc gia.

Từ năm 2001, lễ hội Vía Bà Chúa Xứ Núi Sam được Bộ Văn hóa Thông tin và Tổng cục Du lịch Việt Nam công nhận là Lễ hội cấp Quốc gia. Ngoài phần Lễ được tổ chức trang trọng theo lối cổ.

Lê Hoàng Nguyễn post (tổng hợp)

TRANH VUI GIA ĐÌNH

H1: Hội Lesovo nghe giảng “chồng phải ngoan”. H2: Chồng luôn luôn nghe theo lời vợ. H3: Đám cưới xe cày trên đường quê.

H4 & 5 : ba giai đoạn của một ông chồng. H6: Cho các bà vợ khoẻ cái bụng. H7: loại rượu ông uống bà khen, hàng xóm thèm…

Yên Nhàn post

KHÔNG CỦA RIÊNG AI (14)

NHÂN NGÀY LỄ PHẬT ĐẢN SẮP ĐẾN

Ý NGHĨA LỄ PHẬT ĐẢN

VÀ LÒNG TỪ BI

CỦA ĐỨC PHẬT

Lễ Phật đản là lễ trọng của đạo Phật, diễn ra hằng năm vào ngày Rằm tháng 4 (ÂL) theo truyền thống Phật giáo để kỷ niệm ngày xuất thế và tưởng nhớ Đức Thế Tôn – người khai sáng đạo Phật.

Đức Phật Thích Ca (ngôi thứ hai, sau Đức Phật Tổ Như Lai) có tên thật là Tất Đạt Đa, là thái tử con vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Mada, thuộc bộ tộc Thích Ca, nước Ấn Độ cổ đại.

Đại lễ Phật đản được lưu truyền từ ngàn xưa cho đến nay. Trước kia một số nước ở Châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản… đều làm lễ Phật đản vào ngày 8 tháng 4 âm lịch (theo lịch cũ, trước khi ĐGH Gregory XIII sửa lại vào năm 1582 về ngày tháng dương lịch cho đúng theo trái đất quay quanh mặt trời, nên có chênh lệch khoảng 10 ngày)  nhưng đến năm 1950 tại Hội nghị Phật giáo thế giới tại Sri-lan-ca đã quyết nghị lấy ngày trăng tròn đầu mùa hạ (ngày 15 tháng 4 âm lịch) làm ngày kỷ niệm Phật đản chính thức.

Theo thông lệ, hằng năm cứ đến ngày này hầu hết các nước có Phật giáo và những người con Phật đều long trọng tổ chức kỷ niệm ngày Đức Phật ra đời. Từ năm 1999, Lễ Phật đản đã được Liên Hiệp Quốc công nhận là ngày lễ hội văn hoá tâm linh thế giới, lễ Phật đản là một trong ba lễ cấu thành Lễ Tam hợp mà Liên Hiệp Quốc gọi là Vesak (lễ Phật đản sinh, lễ Phật thành đạo và lễ Phật nhập Niết bàn).

Ở Việt Nam, lễ Phật đản từ lâu đã trở thành lễ hội lớn, được Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức một cách trang trọng. Nhiều người hay gọi ngày Phật đản là “Mùa Phật đản” để hoà chung niềm vui cùng mọi người trên khắp thế giới kính mừng ngày Đức Phật ra đời. Đây cũng là dịp để khích lệ truyền thống văn hoá Phật giáo đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời thể hiện rõ chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta nên được tổ chức long trọng, thu hút rất nhiều người tham gia, kể cả những người không có tín ngưỡng Phật giáo.

Nhân đại lễ Phật Đản sắp đến, xin gửi đến các bạn, một bài suy gẫm rất đáng đọc :

NHỮNG ĐIỀU ĐÁNG NGẪM

TRONG CUỘC SỐNG

Danh vọng, địa vị, sự thành công và sự giàu có thường có khuynh hướng gia tăng cái tôi của người ta. Vì vậy, người ta sẽ lạc lối, giống như người lạc đường không thể về nhà được. Ai chứa đầy kiến thức thì điếc trước lời phải trái. Khi hai người tranh luận, một người thường đưa cái biết của mình vào. Cho nên rút lại chỉ nghe thấy tiếng của mình mà không học thêm được gì cả.

1/- SAU KHI CHẾT NGƯỜI TA ĐI VỀ ĐÂU ?

Hoàng đế Goyozer đang học thiền với thiền sư Gudo Toshoku.

– Bạch thầy, sau khi chết, người ta đi đâu?

– Tôi không biết.

– Tại sao thầy không biết ?

– Vì tôi chưa chết.

– ???

Lời bình : Khi sống, con người nên thưởng thức những vẻ đẹp và bí ẩn của cuộc sống theo cái nhiều người sống. Không cần quan tâm đến thế giới sau khi chết. Hãy sống trọn hôm nay, đừng lo ngày mai vì chuyện ngày mai thì mai mới xảy ra.

2/- THIÊN ĐƯỜNG & ĐỊA NGỤC

Một vị tướng quân đến gặp thiền sư Ekaku hỏi :

– Bạch thầy, thiên đường hay địa ngục có thật hay không ?

– Thế ngài là ai ?

– Tôi là tướng quân.

Bất ngờ, thiền sư cười lớn :

– A ha ! Thằng ngốc nào cho ông làm tướng vậy, trông ông giống anh hàng thịt.

Tướng quân nổi giận, rút gươm :

– Tao băm xác mi ra !!!

Thiền sư vẫn điềm tĩnh :

– Này là mở cửa địa ngục.

Chợt giác ngộ, vị tướng sụp xuống lạy :

– Xin… xin thầy tha lỗi cho cử chỉ thô bạo vừa rồi của tôi.

– Này là mở cửa thiên đường – thiền sư Ekaku mỉm cười.

Lời bình : Thiên đường, địa ngục không phải là chỗ con người tới sau khi chết mà nó ở đây và bây giờ! Lành, dữ đều do tư tưởng. Cửa thiên đường địa ngục mở ra bất cứ lúc nào.

3/- THIÊN ĐÀNG ĐỊA NGỤC ĐỀU DO TÂM TẠO

Có một bà lão biệt danh “mụ già hay khóc”. Trời mưa, mụ cũng khóc, trời không mưa mụ cũng khóc. Có người hỏi bà :

– Bà lão ơi, sao bà lại khóc ?

– Tôi có hai con gái, cô chị bán giày vải, cô em bán dù. Khi trời nắng ráo, lão nghĩ tới con em bán dù không được. Khi trời mưa, lão lại lo cho con chị, mưa gió không có khách nào chịu mua giày.

– Lão nên nghĩ rằng khi trời đẹp đứa lớn sẽ bán được, khi trời mưa đứa nhỏ bán dù rất chạy.
– À, ông có lý.

Từ đó, “mụ già hay khóc” thôi khóc. Bà lão cười suốt ngày dù trời mưa hay nắng.

Lời bình : Một điều lợi hay bất lợi sẽ tuỳ thuộc vào cách nhìn, cách suy nghĩ của bạn.

4/- AI ĐÓ ?

Kitagaki, thống đốc bang Kyoto, đến viếng đền Tofuku để thăm Keichu – vị sư trưởng đền này. Đệ tử của Keichu vào báo :

– Kitagaki, thống đốc Kyoto muốn diện kiến thầy.

– Ta không biết thống đốc nào cả – Sư trưởng trả lời.

Đệ tử chạy ra nói với Kitagaki :

– Thầy tôi yêu cầu ngài lui gót vì không quen thống đốc nào cả.

Kitagaki hiểu ra:

– Nếu vậy, hãy báo với thầy anh có Kitagaki muốn diện kiến.

– Để tôi thử lần nữa.

Lần này, sư trưởng ra đón tận nơi :

– Ồ, Kitagaki đấy à. Mời vào nhà.

Lời bình : Danh vọng, địa vị, sự thành công và sự giàu có thường có khuynh hướng gia tăng cái tôi của người ta. Vì vậy, người ta sẽ lạc lối, giống như người lạc đường không thể về nhà được.

5/- CÀNG VỘI CÀNG CHẬM

Một thanh niên nọ lên núi tìm kiếm sĩ lừng danh để học kiếm thuật. Anh ta hỏi vị sư phụ :

– Thưa thầy, nếu con luyện tập chuyên cần thì phải bao lâu mới thành kiếm sư ?

– Có lẽ 10 năm.

– Cha con đã già rồi và con phải chăm sóc ông. Nếu con luyện tập chuyên cần hơn nữa thì mất bao lâu ?

Lặng yên suy tư một lúc, vị sư phụ đáp:

– Trường hợp này có lẽ phải 30 năm.

Anh thanh niên không giấu được vẻ nôn nóng:

– Trước thầy bảo 10 năm, bây giờ 30 năm. Con sẽ vượt qua mọi trở lực để nắm vững kiếm thuật với thời gian ngắn nhất.

– Thế thì anh cần phải ở lại đây 70 năm – Vị sư phụ mỉm cười.

Lời bình ; Những người quá nóng nảy muốn đạt đến kết quả thì hiếm khi thành công.

6/- BÌNH THƯỜNG TÂM

– Bạch thầy, sống theo Đạo một cách siêng năng là thế nào ?

– Khi đói hãy ăn, khi mệt hãy ngủ.

– Đó là những điều mà mọi người thường làm mà ?

– Không, không ! Hầu hết mọi người đều không làm như vậy. Khi ăn, mọi người đầy những suy tư, ao ước và khi ngủ lại đầy những lo toan.

Lời bình : Có bao nhiêu người mà mỗi sáng thức dậy mà đầu óc không bận bịu những chuyện quá khứ ? Con người phải vứt bỏ những điều nguy đã gây ra bão tố nội tâm và sống theo bản chất nguyên thuỷ của họ vì Đạo nằm ngay trong đời sống hằng ngày.

7/- THIỀN TRONG CHÉN TRÀ

Vị giáo sư đại học đến gặp thiền sư Nan In để tìm hiểu Thiền. Nan In mời ông uống trà. Nan In rót đầy chén trà rồi mà cứ thế rót thêm. Giáo sư nhắc :

– Kìa thầy, chung trà đầy tràn rồi, xin đừng rót nữa.

Nan In cười đáp :

– Như chung trà này, ông cũng đầy ắp những quan niệm của ông. Nếu trước tiên, ông không cạn chén thì sao tôi có thể bày tỏ Thiền cho ông được.

Lời bình : Ai chứa đầy kiến thức thì điếc trước lời phải trái. Khi hai người tranh luận, một người thường đưa cái biết của mình vào. Cho nên rút lại chỉ nghe thấy tiếng của mình mà không học thêm được gì cả.

8/- CON QUỶ BÊN TRONG

Nhà sư nọ mỗi khi bắt đầu nhập định đều thấy một con nhện khổng lồ làm ông bối rối. Nhà sư liền vấn ý sư Tổ:

– Mỗi khi con bắt đầu nhập định thì luôn có một con nhện khổng lồ xuất hiện, dẫu có đuổi thế nào nó cũng không đi.

– Lần tới, nếu thấy con nhện xuất hiện, con hãy vẽ một vòng tròn to làm dấu xem nó từ đâu đến.

Nhà sư làm đúng như vậy. Khi ông vẽ vòng tròn to vào bụng con nhện, con nhện chạy đi, ông lại có thể tiếp tục thiền định. Sau buổi thiền định, nhà sư rất bối rối khi thấy vòng tròn nằm ngay trên bụng mình.

Lời bình : Trong cuộc sống, con người gặp phải nhiều xáo trộn và âu lo, phiền nhiễu. Nhưng âu lo tệ nhất thường là từ chính bản thân mình mà ra.

9/- ĐÍCH TỚI CÓ MỘT ĐƯỜNG ĐI KHÔNG CÙNG

Một tăng đồ hỏi Thiền sư Baling Haojian :

– Nghĩa lý của sư tổ và ý nghĩa của giáo lý có gì giống và có gì khác nhau ?

– Khi vịt lạnh, chúng lội xuống nước. Khi gà lạnh chúng đậu trên cây.

Lời bình : Lạnh vẫn lạnh nhưng phương thức tránh lạnh lại khác nhau. Cùng một mục tiêu nhưng mỗi loài lại có cách riêng của chúng. Để đạt mục tiêu không chỉ có một con đường, không phải ai cũng đi theo một con đường. Hãy khéo chọn…

Hoàng Nguyễn & Yên Huỳnh post

NHÀ MỒ GIỮA THÀNH PHỐ

CỤ PÉTRUS TRƯƠNG VĨNH KÝ

Có một nhà mồ nằm ngay mặt tiền đường Trần Hưng Đạo ở Sài Gòn, mà không phải ai cũng biết có một thân phận đặc biệt đang yên nghỉ.

Trên cửa nhà mồ, dòng chữ Latin Miseremini mei saltem vos amici mei (Xin hãy thương tôi, ít ra là những bạn hữu của tôi) như nói lên nỗi lòng thiên cổ của một người Việt đã được vinh danh là một trong 18 nhà thông thái của thế kỷ 19: Trương Vĩnh Ký.

Lặng lẽ bên đường

Lách cách mở ổ khóa đã hoen gỉ ở cửa nhà mồ, ông Trương Minh Đạt, hậu duệ đời thứ tư của Trương Vĩnh Ký, ngậm ngùi: “Lâu lắm rồi mới có khách đến viếng !”. Chúng tôi nhẹ bước qua những chiếc lá vàng khô bị gió cuốn bay vào nhà mồ, mà ngẩn ngơ nhìn thực tế khác nhiều với điều mình hình dung. Nền bằng phẳng, không một gò đất, công trình nào nhô lên như những nấm mộ thường hay nhìn thấy. Dưới ánh chiều đang sậm dần, phải nhìn kỹ mới thấy ba phiến đá khác màu có chiều rộng khoảng 1m, dài gần 2m được lát bằng phẳng mà mới nhìn cứ tưởng là nền nhà mồ. Ông Đạt bùi ngùi : “Các ông nhà tôi yên nghỉ dưới đấy !”.

Dưới phiến đá trắng đã ngả màu vàng nhạt, nơi Trương Vĩnh Ký yên nghỉ, ở giữa người vợ Vương Thị Thọ và con trai cả Trương Vĩnh Thế. Sinh thời Trương Vĩnh Ký đã nổi danh. Và hơn một thế kỷ trôi qua bao ngòi bút ngược xuôi vẫn còn rỏ mực về ông, nhưng bia mộ lại chỉ vài dòng ngắn ngủi. Nó được khắc ngay trên phiến đá làm nắp mộ với vài dòng danh phận người yên nghỉ : J.B. Petrus Trương Vĩnh Ký. Chữ Pháp đầu dòng không phải tên Tây của ông mà là tên đạo ông theo từ thuở ấu thơ ở quê hương Cái Mơn, Bến Tre. Bia mộ không ghi năm ông sinh (6/12/1837), nhưng khắc rõ ông mất ngày 1/9/1898. Trang trí mộ bia cũng giản dị với hình một cành lá, không hoa bao quanh.

Mất sau chồng đến chín năm, nhưng bia mộ bà Vương Thị Thọ lại bị thời gian làm phai mòn nhiều hơn. Bà yên nghỉ dưới phiến đá màu nâu đỏ đã ngả màu sậm có nhiều vết nứt, vỡ cùng năm tháng. Lau lớp bụi thời gian, ông Đạt ngậm ngùi kể mình 58 tuổi. Từ nhỏ, ông đã được cha là Trương Vĩnh Thạnh dặn dò phải gìn giữ nhà mồ các cố để hậu sinh truyền đời tưởng nhớ, nhưng không thể ngăn được sự tàn phá của thời gian và bao biến động thời cuộc.

Giữ đúng đạo “xuất giá tòng phu” xưa, dòng đầu trên bia mộ cụ bà mang tên chồng là Maria Trương Vĩnh Ký. Dòng nhỏ dưới mới khắc tên mình là Vương Thị Thọ mất năm 1907 và không trang trí một hoa văn nào ngoài hình cây thánh giá. Nằm bên trái cha, tình trạng bia mộ người con Trương Vĩnh Thế cũng bị nhiều vết hư hại của thời gian. Trong gia phả dòng họ, Trương Vĩnh Thế là anh cả ông nội Trương Vĩnh Tống của ông Trương Minh Đạt, hiện đang sống ở đây để gìn giữ nhà mồ. Sinh thời, ông Thế làm quan đốc phủ sứ mà dòng chữ khắc trên bia vẫn còn rõ nét.

Ông Đạt trầm ngâm : “Hồi xưa, khu nhà mồ này còn nhiều di vật ông cố Trương Vĩnh Ký để lại với các sách vở, hình ảnh được giữ gìn cẩn thận. Về sau, một số được tặng cho Viện Khảo cổ Sài Gòn, nhiều cái còn lại đem qua Pháp trong năm 1975”. Thuở trước, nhà mồ còn có bức tượng bán thân cụ cố Trương Vĩnh Ký. Tượng được đắp bằng ximăng, sơn đen. Những năm khó khăn sau năm 1975, kẻ xấu đã lẻn vào lấy trộm vì tưởng là “đồng đen” quý hiếm. Thời ấy, phải vật vã kiếm miếng ăn, anh em ông Đạt đã bỏ nhiều ngày lang thang các khu “chợ trời” vỉa hè để tìm chuộc lại nhưng cuối cùng đành gạt nước mắt về không. Họ nghĩ có lẽ kẻ gian phát hiện tượng ximăng, không phải kim loại quý, đã đập mất rồi !

Hiện nay, toàn bộ khuôn viên nhà mồ còn rộng hơn 2.000m2. Ngoài nhà mồ Trương Vĩnh Ký, bãi đất còn khoảng 60 ngôi mộ khác của gia tộc và một nhà ngói cổ được xây từ năm 1937 đến giờ vẫn đang là nơi ở của gia đình ông Đạt. Mang nét kiến trúc Pháp với nhiều cửa, cột, vòm cong, nhà mồ Trương Vĩnh Ký rộng khoảng 50m2, trang nhã với các chi tiết nhẹ nhàng nhưng tinh tế.

Thiên tài và định mệnh

Theo chân ông Đạt, tôi trở ra đường Trần Hưng Đạo. Cảm giác bùi ngùi khi chẳng thể tìm được tấm bảng nào chỉ dẫn đây là nơi Trương Vĩnh Ký – người Việt đã được vinh danh một trong 18 nhà thông thái thế giới, sử dụng thành thạo 26 ngôn ngữ – yên nghỉ. Bên góc cổng, người anh Trương Minh Tấn của ông Đạt đang cặm cụi với quán cà phê kiếm sống qua ngày. Gương mặt ông Tấn hằn nét khắc khổ, già hơn tuổi 68. Nhắc chuyện xưa, ông Tấn tràn ngập ký ức: “Hồi tôi còn nhỏ, đường này thưa thớt lắm, bên đây nhìn thấy con kênh đào ven đại lộ Võ Văn Kiệt bây giờ. Thuở đó, kênh vẫn còn trong xanh và là nơi ông cố Trương Vĩnh Ký dựng nhà mát bên sông để đọc sách, dạy học trò”.

Khi anh em ông Tấn, ông Đạt chào đời, Trương Vĩnh Ký đã mất cả nửa thế kỷ. Ký ức hai anh em được ông nội Trương Vĩnh Tống (con trai thứ Trương Vĩnh Ký) truyền kể rằng nhà mồ nằm bên đại lộ Gallieni nay là đường Trần Hưng Đạo. Vùng đất ngày xưa còn gọi Chợ Quán này là quê vợ Trương Vĩnh Ký. Còn nơi chôn nhau cắt rốn của ông ở Cái Mơn, Bến Tre. Là con trai lãnh binh Trương Chánh Thi và bà Nguyễn Thị Châu, Trương Vĩnh Ký sớm mồ côi khi cha đi công vụ ở Cao Miên.

Trong gia đình có đạo, tuổi thơ Trương Vĩnh Ký sớm thăng trầm khi triều Nguyễn ra lệnh “sát tả” ngăn chặn Thiên Chúa giáo. Ban đầu, Trương Vĩnh Ký học chữ Nho với thầy đồ, và ông chỉ lộ rõ thiên tài khi được các linh mục Pháp dạy học. Đặc biệt là ở chủng viện Penang (Malaysia), ông đã làm cả thầy lẫn bạn học khâm phục sự đam mê đọc sách cùng trí nhớ siêu việt và khả năng học nhanh chóng cùng lúc nhiều ngoại ngữ khó như Latin, Hi Lạp, Pháp, Ý, Anh, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha,Thái Lan. Nhờ vậy mà nghiệp bút của Trương Vĩnh Ký đã đạt kỷ lục khoảng 120 cuốn sách gồm đủ các lĩnh vực, đặc biệt là các sách đạo làm người, từ điển Pháp – Việt…

Và rồi định mệnh như an bài với Trương Vĩnh Ký. Chính thiên tài ngoại ngữ, tri thức sâu rộng nhờ đọc sách, đi xa đã cuốn ông vào vòng xoáy lịch sử chênh vênh, phức tạp trong thời cuộc nước nhà bị Pháp tiến chiếm. Trở thành thông ngôn cho Pháp, rồi cho cả sứ bộ triều đình, phải kề cận kẻ đô hộ lẫn gần gũi chính nhà vua nước mình, Trương Vĩnh Ký đã bị người đời nhìn nhận ngược xuôi công tội.

Để rồi trước khi nhắm mắt xuôi tay, chính ông phải cảm thán viết bài thơ đầy nỗi niềm :

Quanh quanh quẩn quẩn lối đường quai

Xô đẩy người vô giữa cuộc đời

Học thức gửi tên con sách nát

Công danh rốt cuộc cái quan tài

Dạo hòn lũ kiến men chân bước

Bò xối, con sùng chắc lưỡi hoài

Cuốn sổ bình sanh công với tội

Tìm nơi thẩm phán để thừa khai.

TRONG VÒNG XOÁY LỊCH SỬ

Là cây bút có giá trị sử liệu nổi tiếng nói thẳng, không sợ mất lòng, Vương Hồng Sển khẳng khái nhận xét bậc tiền bối của mình : “Trương Vĩnh Ký, Trương Minh Ký, Huỳnh Tịnh Của là ba ông minh triết bảo thân, gần bùn mà chẳng nhuốm mùi bùn, không ham “đục nước béo cò” như ai, thấy đó mà mừng thầm cho nước nhà những cơn ba đào sóng gió còn người xứng danh học trò cửa Khổng…”.

Giữ đạo nhà

Suốt buổi chiều ngồi trò chuyện với chúng tôi về ông cố Trương Vĩnh Ký của mình, hậu duệ Trương Minh Đạt cứ đau đáu nỗi long : “Người ta nói theo Tây tìm lợi lộc, nhưng cố tôi giàu sang gì đâu, đến xuôi tay vẫn còn giấy nợ bên mình. Nhiều tài liệu nói nhà mồ này do Trương Vĩnh Ký tự xây trước, nhưng tôi nghe cha mình kể lại có lẽ không phải vậy. Đến đời con trai cố tôi, nhà mồ này mới được xây dựng cho cha mẹ yên nghỉ không tủi nắng mưa và cho cả chính mình, nên trong nhà mồ còn có phần mộ người con đầu Trương Vĩnh Thế”.

Chuyện nhà mồ ở đại lộ Galliéni nay là Trần Hưng Đạo, được xây dựng năm nào chưa thể rõ ràng vì nhiều tài liệu gia tộc họ Trương không còn ở đây, nhưng có một điều xác tín rằng cả đời nhà bác học ngôn ngữ này đã sống đạo thanh khiết, thậm chí nghèo khổ cuối đời. Trong tất cả hình ảnh còn lại về ông, cả những lúc làm việc, dạy học, viết sách hay đeo huân chương trên ngực … chưa bao giờ thấy ông rời bỏ áo dài khăn đóng truyền thống của tổ tiên.

Một người biết 26 thứ tiếng, từng dạy học vua Đồng Khánh, thông ngôn sứ bộ Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ, có tài năng và đức độ khiến các đại văn hào, nhà khoa học, chính khách nổi tiếng như V.Hugo, Littré, Renan, Paul Bert … phải quý mến, kết giao mà vẫn trọng giữ lấy lề thầy đồ thanh bạch của dân tộc. Ông mang tên đạo Pétrus Ký nhưng dứt khoát không nhập tịch Tây.

Trả lời thắc mắc sao không “vào dân Tây”, ông đã khí khái bày tỏ: “Tôi lấy sự ấy làm trái tự nhiên không ăn thua vào đâu… Không lý trời sanh ra tôi làm con quạ, bây giờ nói tôi một hai là con cò làm sao đặng ? Nên là điều trái tự nhiên hết sức. Đặng một bên mất một bên, lợi thì ít mà hại thì nhiều”. Đó chính là lối sống mà Trương Vĩnh Ký đã tự bạch bằng câu cách ngôn Latin “Sic vos non vobis” (ở với họ mà không theo họ). Sự hiểu biết, tài năng và những gì làm được cho hậu thế, ông đã đi trước thời đại mình rất xa, đến mức có thể bị kẻ đương thời suy diễn này nọ, nhưng chưa bao giờ ông để mất gốc rễ mình, mất lương tâm một con dân nước Việt.

Nhà văn Hoàng Lại Giang sưu tầm tư liệu, nghiên cứu viết về Trương Vĩnh Ký, kể rằng ông đã từng thâm thúy trách dạy Lê Phát Đạt, một học trò rơi vào đường bất đạo, làm quan tranh thủ thời thế “đục nước béo cò” cho thân mà không đếm xỉa nỗi khổ của dân. Khi Đạt tỏ ý chê thầy không biết cách làm giàu, Trương Vĩnh Ký trả lời rằng : “Anh khoe với ta tài làm giàu ư ? Với ta đó là sự sỉ nhục mà học trò ta đã gieo cho ta. Ta muốn khuyên anh chớ vui mừng quá sớm: đang lúc vui nên gẫm mà buồn lần đi”. Còn bạn đốc phủ đương thời hỏi Trương Vĩnh Ký sao chẳng lo làm giàu, ông đã nhẹ nhàng viết thư trả lời : “Các ông hỏi tôi ý làm sao không lo về phần của cải ? Sao không mua đất sắm ruộng kiếm tiền bạc mà tiêu dung ?… Thật thì ai cũng phải lo về sau, nhưng mà xét cho cùng mà coi thì cũng chẳng nên lo cho quá làm chi… Chi bằng ý thực tùy duyên tự nhiên khoái lạc: có nhiều ăn nhiều, có ít ăn ít thì được vui vẻ, yên lòng, yên trí…”.

Hơn 100 năm sau, hai người cháu cố Trương Minh Tấn và Trương Minh Đạt vẫn kể chuyện cha ông nhắc nhớ đến cuối đời Trương Vĩnh Ký còn thiếu nợ nhưng không phải nợ tậu đất, mua nhà mà nợ xuất bản sách… Ngay tài sản lớn nhất ông còn để lại là mảnh đất hơn 2.000m2 ở đường Trần Hưng Đạo đang làm nhà mồ và chỗ ở cho con cháu cũng được cho là của bên vợ ông, quê hương bà Vương Thị Thọ, xưa gọi là Chợ Quán.

Hậu thế minh định

Ông Đạt kể lời cha ông truyền đời rằng Trương Vĩnh Ký từng có mặt trong nhiều sự kiện quan trọng của đất nước, giao thân với nhiều nhân vật có thể quyết định vận mệnh dân tộc, nhưng chưa bao giờ ông nhận lãnh chức quan nào. Ngoài những lúc thời cuộc đưa đẩy phải làm thông ngôn chênh vênh giữa hai phía, tâm huyết Trương Vĩnh Ký là dạy học, viết sách, làm báo đến nỗi phải nợ nần. Trong thư gửi bạn, Trương Vĩnh Ký tự bạch rằng : “Tôi có được thư ông nói sao tôi không ra làm chức chi … như phủ, huyện, đốc phủ với người ta lấy danh chơi ?… Song tôi trộm xét theo ý riêng tôi, tôi tưởng chẳng cần chi. Vì tôi nghĩ rằng làm huyện, làm phủ mặc dầu, cũng ở dưới tay người ta, người ta sai cắt hành hạ, tánh tôi không chịu được… Chi bằng mình sẵn làm ông thầy dạy học, lại dạy là dạy Tây các quan…”.

Viếng mộ Phan Thanh Giản, rồi thắp nén nhang lên bàn thờ Trương Vĩnh Ký, hai thân phận bị cuốn cùng một dòng xoáy lịch sử và phải mang nặng nỗi niềm đến khi nhắm mắt xuôi tay vẫn chưa nguôi, chúng tôi bùi ngùi nhớ lại lời Trương Bá Cần viết : “… Cuốn sổ bình sinh công với tội / Tìm nơi thẩm phán để thừa khai. Đã 100 năm trôi qua, còn nói công với tội làm gì ? Đối với Trương Vĩnh Ký cuộc đời đã khép lại rồi, không thể khai báo gì thêm”.

Tuy nhiên cũng chính Trương Bá Cần, người có công trình nghiên cứu sâu sắc mối quan hệ Việt – Pháp trong 100 năm ân oán, vẫn không quên lời công minh với ông : “Nhưng vào lúc đất nước đã thống nhất, nhiệm vụ còn lại là xây dựng con người và xây dựng đất nước, nếu có đặt vấn đề dựng lại tượng đài hay phục hồi tên trường cho Trương Vĩnh Ký thì có lẽ không phải là thuần túy muốn sự công bằng cho người đã quá cố. Bởi vì về mặt trí tuệ và lao động khoa học cần cù, Trương Vĩnh Ký là một khuôn mặt làm rạng rỡ giống nòi được thế giới kính trọng”.

Thôi thì, công tội cuộc đời ông hãy phó thác cho hồn thiêng sông núi. Trăm năm thiên hạ vẫn chưa hết ngược, xuôi về Trương Vĩnh Ký, thì ba trăm năm sau hay ngàn năm nữa hậu thế chắc sẽ minh định tấm lòng ông !

– Vũ Ngọc Phan : “Ông là một nhà bác học hơn là một nhà văn, ông lại hơn người ở chỗ làm việc rất mải miết, rất đều đặn, nên sự nghiệp văn chương của ông thật lớn lao…”.

– Jean Bouchot : “Ta thấy con người thuần Nam kỳ ấy đã sánh kịp các nhà thông thái bậc nhất của châu Âu trong đủ mọi ngành khoa học”.

T. Thomson : “Tôi không bao giờ quên được nỗi sững sờ khi người ta giới thiệu ông với tôi. Ông nói tiếng Anh rất giỏi, hơi pha chút ít giọng Pháp, còn tiếng Pháp của ông thì thật thanh lịch, tao nhã. Tiếng Tây Ban Nha, Ý, Bồ Đào Nha… đối với ông đã trở thành quen thuộc”.

Nguyễn Văn Danh post (theo Quốc Việt)