TỪ BẮC VÀO NAM

BỨC TRANH THỦY MẠC CỦA GẦN

60 NĂM CUỘC ĐỜI

– Lữ Tuấn.

Tháng 6 năm 1954 đúng 50 năm về trước, là lúc mọi người trong vùng kiểm soát của chính phủ Quốc Gia ở Bắc Việt cực kỳ lo lắng và hoang mang sau khi cứ điểm Điện Biên Phủ thất thủ ngày 7 tháng 5 năm 1954. Nhiều tin đồn trái ngược càng làm cho mọi người thêm sợ hãi. Khoảng 20 tháng 6, tại Nam Định và các tỉnh phụ cận, có tin đồn được lan truyền nhanh chóng nói rằng quân đội Pháp và quân đội Quốc Gia sẽ rút khỏi Nam Định và các tỉnh phía Nam Hà Nội. Từ hôm ấy, hàng loạt doanh trại được tháo gỡ vội vàng, xe vận tải quân sự chở vật liệu nặng bắt đầu theo nhau từ Bùi Chu, Ninh Bình, Thái Bình đổ về Nam Định cùng các xe cộ từ Nam Định nối nhau đi Hà Nội. Kho đạn Nam Định cho phá hàng loạt đạn súng cối và đạn pháo binh ở vùng đất hoang phía tây thành phố.

Bộ Tư Lệnh Pháp và chính quyền Bảo Đại không hề lên tiếng về tình hình tại Bắc Việt. Bộ Chỉ Huy Pháp tại Nam Định vẫn tiếp tục công việc chuẩn bị cuộc diễn binh hùng hậu vào ngày quốc khánh Pháp, 14 tháng 7 năm 1954 mà họ đã loan báo trước. Vào lúc này, đã có tin đồn ông Ngô Đình Diệm sẽ về nước làm thủ tướng. Những truyền đơn đầu tiên ký tên Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia ủng hộ ông Diệm xuất hiện lác đác ở Nam Định.

Ba ngày cuối cùng phi cơ quân sự lên xuống liên tiếp. Khi đã chuyên chở gần hết vật dụng và người, trạm hàng không quân sự Nam Định bắt đầu cho mọi người tự do lên phi cơ C-47 còn trống nhiều chỗ để đi Hà Nội.

Nam Định bắt đầu hoảng hốt thực sự từ ngày 28 tháng 6 khi điện bị cắt. Thành phố tối mù. Nhiều người chen chúc mua vé xe hoặc thuê xe di tản về Hà Nội. Nam Định là nơi số doanh trại và binh lính dầy đặc nhất Việt Nam. Trước đó từ 9 giờ khuya là giờ giới nghiêm, thành phố vắng vẻ không một bóng người trên phố xá. Nay đột nhiên tất cả chìm trong không gian đen thui, nhưng lại cựa mình mạnh hơn trong bóng tối. Trên đường phố người ta đi lại đông đúc khác thường quá cả giờ giới nghiêm.

Gia đình tôi lúc ấy đang ở một căn cư xá công chức nơi mẹ tôi làm việc. Lúc 7 giờ sáng, một anh lính tống thư viên người Pháp vào sở đưa một giấy báo di chuyển, ghi đúng số người thuộc quyền sở này và gia đình nhân viên kể cả 4 gia đình ở cư xá. Tất cả mau lẹ tập trung đợi xe. Sau đó chừng 15 phút, một tiểu đội Bảo Chính Đoàn dẫn 4 xe vận tải trưng dụng của tư nhân đến nơi và cho biết đúng 8 giờ kém 15 mọi người phải có mặt đầy đủ trên xe.

Việc di tản có vẻ đã được chuẩn bị nhiều tuần lễ trước đó. Số người ngồi trên xe thoải mái rộng rãi vì không ai mang theo đồ đạc gì nhiều ngoài một vài chiếc valise và túi xách tay gọn nhẹ.

Lệnh di chuyển cho biết đoàn xe này phải qua trạm kiểm soát phía bắc hướng đi Phủ Lý-Hà Nội vào khoảng giờ nhất định mà tôi nhớ là sau 8 giờ và trước 8 giờ 10 phút. Lệnh này cũng cảnh cáo nếu xe nào đến sớm quá hay muộn quá theo giờ ấn định sẽ bị ủi ra khỏi mặt đường để tránh nhiễu loạn giao thông.

Hồi đó tôi còn là học trò. Vội vàng xếp quần áo, hình ảnh, giấy tờ cần thiết, cuống cuồng không biết phải mang theo gì và phải bỏ lại món nào. Lúc còn chừng 25 phút, tôi xin phép mẹ tôi chạy ra phố nói là để chào mấy thằng bạn. Cô ruột tôi, người nuôi nấng tôi từ nhỏ không chịu vì sợ tôi chậm trễ e sẽ kẹt lại. Nhưng mẹ tôi hiểu ý, mỉm cười can thiệp nói, “Chị cứ cho nó đi, nó không dám về muộn đâu.”

Mẹ tôi thừa biết tôi đi đâu. Tôi đạp xe với tốc độ không thua các tay đua vòng quanh Đông Dương, xẹt qua trước nhà cô bạn mà tôi thương vụng nhớ thầm từ năm 17 tuổi và chưa hề mở lời yêu đương.

Nàng đang ngồi chải tóc ở cửa sổ trên lầu. Không rõ nàng có nhìn thấy tôi hay không, nhưng tôi vội vàng đánh bạo thu hết can đảm hôn gió trên bàn tay phải ném về phía cửa sổ rồi lao xe như gió về nhà, trước giờ xe chạy khoảng 10 phút. Ở miền Bắc hồi ấy trai gái còn nhút nhát, phải can đảm lắm mới dám làm như thế vì tôi linh cảm chuyến đi này sẽ lâu lắm., có thể là cả đời. Sau này trong đời lính chưa bao giờ tôi phải vận dụng can đảm cao độ như vậy dù gặp nhiều tình thế rất khó khăn nguy hiểm.

Quân cảnh Pháp thi hành đúng giờ giấc như quy định. Tại trạm kiểm soát Cổng Hậu, từng đoàn xe gồm năm mười chiếc có lính hộ tống được cho khởi hành. Một vài xe đến muộn phải đậu một bên đường chờ giải quyết sau. Trên đường đi, tại mỗi cây cầu đều có một toán Công Binh đặt sẵn chất nổ. Một trung sĩ Công Binh Việt Nam cho biết họ phải phá nổ các cầu này khi đơn vị cuối cùng đi qua.

Buổi trưa đoàn xe chúng tôi đi đến Hà Nội. Gia đình tôi về ở nhà người thân. Đêm hôm ấy thị xã Phủ Lý bị một sư đoàn Việt Minh tấn công. Thành phố đã hư hại sẵn nay lại chịu tàn phá gần hết những gì còn lại.

Cuộc rút lui này tuy tiêu biểu cho việc Pháp thua trận nhưng lại là cuộc rút lui thành công. Dựa vào tài liệu của Pháp và thực tế quan sát thấy tại chỗ, cho thấy Đại Tá Vanuxem chỉ huy trưởng Phân Khu Nam đã điều động cuộc rút lui mau lẹ, có trật tự với tổn thất nhẹ không đáng kể. Đoàn quân rút lui vượt qua nút Phủ Lý trước khi bị địch đánh chận.

Kế hoạch tỉ mỉ do bộ tham mưu Pháp bí mật soạn thảo, trong đó chỉ có các sĩ quan từ đại úy mới được cho tham dự. Mọi việc đánh máy, chuyển nhận công điện, văn thư tài liệu đều do các cấp sĩ quan từ đại úy trở lên đích thân thi hành. Bí mật được giữ đến phút chót. Chỉ có một điều đáng tiếc là nhiều đội dân quân tự vệ ở nhiều làng mạc các tỉnh vùng này kể cả quanh những trung tâm chiến lược như Phát Diệm, Bùi Chu bị Pháp bỏ rơi. Nhiều dân quân chạy không kịp bị Việt Minh bắt và giết hại.

Hà Nội vốn yên tĩnh, lúc đó đang sống thanh bình không nghe tiếng súng. Những vũ trường, hàng quán sang trọng và độc đáo với những thắng cảnh nổi tiếng đầy bóng dáng người đẹp thướt tha. Cuộc di tản 4 tỉnh phía Nam làm cho đường phố Hà Nội đông người thêm nhưng vẫn không mất vẻ mỹ lệ của đất Thăng Long ngàn năm văn vật.

Lúc ấy hội nghị Geneve bắt đầu họp. Ai cũng thấy phe Cộng Sản đang nắm ưu thế. Những người có quan tâm đều lo ngại không biết sẽ đình chiến kiểu nào. Có thể là hai bên ngưng bắn xen kẽ mà sau này năm 1972-73 người ta gọi là “giải pháp da beo.” Cũng có thể là chia đôi đất nước thành hai miền Nam và Bắc. Người ta cũng bàn tán gay go về ranh giới đình chiến sẽ nằm ở vĩ tuyến nào ? Vĩ tuyến 13, 16 hay 19 ?

Đầu tháng 7, ông Diệm ra Hà Nội. Một số đông đảo dân chúng chào đón ông, và nhiều người hy vọng vị nhân sĩ này sẽ cứu vãn tình hình. Sau đó ngày 7 tháng 7 năm 1954 ông Diệm chính thức nhậm chức thủ tướng. Ông thành lập Ủy Ban Bảo Vệ Bắc Việt. Các đoàn thể, đảng phái chống Cộng đều ủng hộ đường lối này. Nhiều sĩ quan, binh sĩ cũng sẵn sàng tham gia việc phòng thủ lãnh thổ phe quốc gia đang nắm giữ. Một số đông đảo đặt niềm hy vọng lớn lao vào sự trợ giúp của Hoa Kỳ thay thế người Pháp.

Nhóm chúng tôi là đảng viên Đại Việt và Quốc Dân Đảng đều hăng hái tham gia tuyên truyền vận động ủng hộ chủ trương giữ Bắc Việt. Đêm đêm, chúng tôi đi ném truyền đơn ở khu Hồ Tây, Cổ Ngư, Ngọc Sơn và nhiều nơi khác kể cả những nơi có lính Pháp lui tới. Hà Nội bắt đầu có không khí căng thẳng và phảng phất mùi chiến tranh.

Đường phố Hà Nội về khuya lần đầu tiên có những bóng dáng cảnh sát võ trang súng trận Mas-36 và quân phục tác chiến đi tuần tiễu. Nhưng các cơ sở dân sự cơ yếu và doanh trại quan trọng của Quân Đội Quốc Gia đều thấy có lính Maroc hoặc da đen canh gác, rõ ràng là Pháp đang phòng ngừa chính biến chống lại họ.

Ngày 14 tháng 7, quân đội Pháp tổ chức diễn binh ờ Bờ Hồ phía Tòa Thị Chính. Thông cáo và bích chương của Pháp vẽ hình nắm đấm được thấy khắp nơi. Pháp giải thích rằng rút 4 tỉnh phía Nam là bàn tay trước kia xòe ra nay nắm lại để đánh mạnh hơn. Tất nhiên ít ai tin vào luận điệu này.

Đám học sinh chúng tôi từ Nam Định chạy về nhiều đứa tình nguyện vào Khóa 5 Sĩ Quan Trừ Bị và lục tục lên đường khoảng trước ngày 15 tháng 7 năm 1954. Phần còn lại thường tìm gặp nhau trao đổi tin tức và bàn luận về tình hình đất nước.

Chiều 21 tháng 7 năm 1954 khi bọn tôi đang tụ họp thì có tin trên đài Con Nhạn (Hirondelle) của quân đội Pháp vang lên lời loan báo “Hiệp Định Đình Chiến đã được ký kết.” Tờ báo của quân đội Pháp cũng đăng câu ấy trên trang nhất bằng chữ lớn. Mọi người bàng hoàng dù biết trước thế nào việc này cũng sẽ đến. Báo này cho hay đất nước phân chia ở sông Bến Hải, Vĩ Tuyến 17.

Tân Thủ Tướng Pháp Mendès-France nhậm chức ngày 17/6/54, đã tuyên bố rằng ông ta sẽ từ chức nếu không đạt được thỏa hiệp trước ngày 20 tháng 7 năm 1954. Vì thế hiệp định Geneve về Đông Dương được ký lúc sáng sớm ngày 21 nhưng nhà cầm quyền Pháp đã cho đồng hồ ngưng chạy từ đêm trước để làm như lúc ấy vẫn còn là ngày 20. Tại Việt Nam thời điểm này là trưa ngày 21.

Hà Nội liền thay đổi rõ rệt. Niềm hy vọng giữ Bắc Việt lịm tắt dần và dân chúng nóng lòng về tin tức sẽ có cuộc di cư. Một số bài trên báo chí đang từ thái độ chống cộng quay dần sang ủng hộ Việt Minh. Người các tỉnh đổ về Hà Nội đông đảo. Cán bộ Việt Minh cấp thấp ra vào Hà Nội dễ dàng. Đồ chơi trẻ em bày bán trước dịp Trung Thu có những chiếc máy bay, xe thiết giáp, xe chở lính, tàu thủy được sơn cờ đỏ sao vàng. Các cơ quan an ninh chẳng ai thèm để ý.

Một số cán bộ Việt Minh quen biết gia đình tôi đến thăm và khuyên gia đình tôi nên ở lại nhưng mẹ tôi và tôi đã dứt khoát ra đi. Sau đó 4 tháng, chúng tôi gặp lại vài người trong số cán bộ này ở Sài Gòn. Chính họ cũng đã mau chóng nhận rõ thực chất của Cộng Sản và kịp thời ra đi trước khi cảng Hải Phòng đóng cửa tháng 3 năm 1955.

Những gia đình chuẩn bị di cư đem đồ đạc bày bán dọc bờ hồ Thiền Quang làm thành một thứ chợ trời. Một buổi sáng sớm khi những người đầu tiên đang lục tục khuân đồ đạc đến chợ thì thấy có một lá cờ đỏ sao vàng treo trên tàng cây cao chừng ba bốn mét. Một thanh niên nổi nóng trèo lên giật lá cờ ném xuống đất.

Một trung tá người Pháp đi bộ ngang qua hung hăng can thiệp, lớn tiếng đại ý nói đó là quốc kỳ của một nhà nước, không được xúc phạm. Thế là xô xát xẩy ra, kết quả viên trung tá bị trọng thương vì gạch đá gậy gộc cho đến lúc xe quân cảnh Pháp cấp cứu.

Tin tức về di cư được loan báo chính thức vào đầu tháng 8. Nhiều nhà giầu đã đi vào Nam bằng phương tiện riêng. Đại đa số còn lại đợi ghi danh di cư bằng phi cơ và tàu biển. Trong nhóm chúng tôi từ Nam Định lên, phần đi Khóa 5 Thủ Đức, số còn lại một phần tham gia đoàn cán bộ xã hội được gửi vào Nam để phụ trách các trại tiếp cư do Bộ Xã Hội thiết lập. Tôi ở trong số này. Buổi chiều ngày 11 tháng 8 năm 1954 bốn đứa bọn tôi đi bộ thăm tất cả các di tích và thắng cảnh quanh Hà Nội lần cuối.

Sáng sớm 12 tháng 8 khi qua cửa kiểm soát phi trường Gia Lâm, một trung úy Nhảy Dù người Pháp hỏi chuyện chúng tôi vì thấy 25 đứa trong đoàn cán bộ xã hội toàn là thanh niên còn trẻ. Sau khi nghe chúng tôi nói rõ lập trường và mục đích ra đi, ông ta nắm tay chúng tôi giọng xúc động nói rằng, “Nước Pháp đã liên tiếp sai lầm để các bạn chịu hậu quả đau đớn hôm nay.” Nói xong không ai ngờ viên trung úy trẻ dưới 30 này bật khóc, nước mắt chảy dài trên má.

Chúng tôi cũng cảm động tuy nhiên vẫn còn cầm được nước mắt. Nhưng khi phi cơ lượn một vòng lấy cao độ, tất cả đều ngó xuống. Giữa tấm thảm mây mưa xám xịt che kín bên dưới phi cơ có một khoảng trống vuông vắn hiện ra Hồ Gươm và 36 phố phường. Cảnh tượng tuy tầm thường nhưng lại gây xúc động mạnh, khiến đứa nào cũng rưng rưng nước mắt. Đây là lần chúng tôi vĩnh biệt Hà Nội. Vĩnh biệt miền Bắc.

Sau những giờ bay dài phi cơ đến Tân Sơn Nhất, cảnh những con rạch đỏ ngầu giữa hai hàng dừa xanh làm chúng tôi tươi vui hơn. Được đưa về nhận việc tại trại Bệnh Viện Bình Dân dưới quyền Bộ Xã Hội, ngày hôm sau chúng tôi được phân phối đi các trại tiếp cư khắp Sài Gòn, Chợ Lớn và Gia Định. Đợt đầu tiên đồng bào di cư bằng cầu vận chuyển của chính phủ và các nước trợ giúp đã vào Sài Gòn từ đầu tháng 8 năm 1954.

Nhờ vào dịp hè, các trường học vùng Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định được trưng dụng để đón nhận người di cư đến bằng phi cơ quân và dân sự, các quân vận hạm Mỹ như Marine Serpent và Marine Addler, các mẫu hạm Anh và Pháp. Trại tiếp cư lớn nhất vùng Sài Gòn là trại Phú Thọ Lều (sát trường đua Phú Thọ, gồm hàng trăm lều vải lớn mỗi lều chứa bốn năm gia đình do quân đội Mỹ dựng. Gọi là Phú Thọ Lều để phân biệt với trại Học Sinh Di Cư Phú Thọ ở gần kế đó. Trại Phú Thọ Lều chứa trên 10 ngàn người.

Trợ cấp tiền mặt một ngày cho mỗi người lớn 12 đồng, trẻ em 6 đồng, dư để ăn ba bữa tươm tất. Lúc ấy một bát phở hay một tô hủ tiếu giá 3 đồng, một bữa cơm ở quán ăn xã hội hai món canh và mặn giá 5 đồng. Chai bia 3 đồng kể cả nước đá, một gói thuốc lá Ruby 8 đồng. Lương giáo viên tiểu học khoảng hơn 4,000 đồng, lương trung sĩ 2,200 đồng, lương cán bộ ngang lương thấp là 1,500 đồng. Một căn nhà gỗ lợp tôn 4×20 mét ở mặt đường khoảng chợ Hòa Hưng giá chừng 30,000 đồng.

Đời sống trong các trại tiếp cư rất đa dạng. Sống chật chội chung đụng và ồn ào, làm nảy sinh nhiều vui buồn, đụng chạm, kết bạn, rã bạn, tạo ra những mối tình ái lăng nhăng xấu tốt đủ cỡ đủ kiểu. Những cảnh âu yếm giao tình nặng nhẹ bên bờ bụi gần trại trong đêm khuya vắng vẻ của trai gái, vợ chồng đủ lứa tuổi, là những nét sinh hoạt rất sống động có đủ vui, buồn, yêu, giận, phát khóc và nực cười.

Từ tháng 8 năm 1954, mỗi ngày có trung bình hàng ngàn người từ Hà Nội và Hải Phòng vào Sài Gòn bằng đường hàng không và nhiều ngàn người mỗi tuần bằng tàu chiến. Công việc định cư được tiến hành song song và khẩn thiết. Phủ Tổng Ủy Di Cư lúc ấy đã thay thế bộ Xã Hội trong nhiệm vụ chuyên biệt này.

Thời gian tạm cư kéo dài đến cuối năm 1954 và các trường học được trả lại cho học sinh. Trại Phú Thọ Lều giải tán. Người di cư theo nhau đi định cư khắp nơi, ở nhà tư hoặc ở các trại định cư khắp các tỉnh. Tính đến chuyến tàu sau cùng tháng 3 năm 1955 có khoảng 950,000 người từ bắc Vĩ Tuyến 17 di cư vào Nam.

Nếu tính theo giấy tờ, con số này có thể lên tới hơn 1 triệu vì có sự gian lận sổ sách của một số viên chức cán bộ lợi dụng thủ tục khai và lãnh tiền trợ cấp dễ dàng. Và không phải 90% người di cư là tín đồ Công Giáo như nhiều người nhận định. Số đồng bào Công Giáo di cư có lẽ chỉ chiếm khoảng 70% tổng số.

Một điểm đáng ghi nhận là đáng lẽ số người di cư còn cao hơn nữa nhưng vì vụ tướng Nguyễn Văn Hinh chống ông Diệm và những cuộc giao tranh giữa quân chính phủ và lực lượng Bình Xuyên đầu năm 1955 ở Sài Gòn nên nhiều người Bắc không dám vào Nam. Tin tức về vụ này làm một số rất nhiều người đã định ra đi nhưng vì e ngại loạn lạc mà đổi ý.

Nói chung, sự xuất hiện của ông Ngô Đình Diệm và thái độ can dự của người Mỹ đã gây được tin tưởng trong một số đông đảo người miền Bắc khiến họ yên tâm vào Nam. Đại đa số thành phần trí thức, chuyên viên cao cấp như kỹ sư, bác sĩ, chuyên viên trung cấp, thợ giỏi, đã rời bỏ đất Bắc khiến chính quyền miền Bắc lúc ấy gặp khó khăn lớn trong mục tiêu xây dựng một đội ngũ chuyên viên kỹ thuật mà họ cho là xương sống của nền kinh tế và khoa học kỹ thuật XHCN.

Cuộc di cư năm 1954 tạo ra những thay đổi sâu rộng trong lịch sử Việt Nam. Xin ghi lại một vài sự kiện nổi bật xảy ra và những nét đặc biệt của cuộc di cư sau Hiệp Định Geneve 1954 điển hình tại vùng thủ đô Sài Gòn.

Trước hết phải nhìn nhận cuộc di cư đã giúp hàn gắn những chia cách đáng buồn giữa hai miền trong nước. Tình trạng chia rẽ do hậu quả của những năm dài dưới chế độ thuộc địa Pháp đã tiêu tan mau chóng. Những dị biệt về phong tục, ngôn ngữ vì ngăn cách, lâu ngày được san bằng gần hết. Những ngăn cách và hiểu lầm còn lại không gây hậu quả nào nghiêm trọng. Về mặt chính trị và xã hội, sau nhiều biến chuyển và chiến tranh, cuộc di cư vĩ đại năm 1954 đã góp phần thay đổi bộ mặt bề ngoài cũng như nếp sống của dân chúng đến chỗ tốt đẹp, phong phú hơn.

Trước tháng 10 năm 1954, chính quyền địa phương còn gần y nguyên như thời Pháp Thuộc. Văn thư, giấy tờ, tên công sở, phố xá còn dùng tiếng Pháp. Từ khi chính phủ Ngô Đình Diệm nắm toàn quyền sau những âm mưu đảo chánh bất thành, luật lệ được thi hành nghiêm chỉnh. Nhiều cải cách hành chánh đã làm giảm hẳn nạn giấy tờ nhiêu khê. Văn thư, giấy tờ đều bắt đầu dùng tiếng Việt. Xin Tư Pháp Lý Lịch bây giờ chỉ mất một tuần thay vì đợi 3 tháng. Xin chứng nhận bản sao đợi lấy ngay hay sau vài giờ thay vì một tuần lễ. Các cuộc cải tổ mạnh mẽ được tiến hành có kết quả tốt nhờ phần nào ở sự ủng hộ tích cực của đồng bào di cư đối với chính phủ.

Cuộc đổi tiền Đông Dương thành tiền Việt Nam năm 1955 trong 3 ngày không giới hạn số lượng là một đòn bất ngờ vô hiệu hóa hàng tỷ bạc Đông Dương mà chính quyền Hà Nội thu gom được ở miền Bắc vì họ không kịp chuyển vào Nam để đổi lấy tiền miền Nam mới. Đợt đổi tiền này cũng chấm dứt luôn thói quen tiêu dùng coi nửa tờ giấy bạc 1 đồng như 5 cắc (hào). Khi cần xài hay trả lại 5 cắc, chỉ cần xé đôi tờ giấy bạc một đồng. Đành rằng tập tục này không áp dụng cho những giấy bạc mệnh giá trên một đồng.

Lúc ấy ảnh hưởng tuyên truyền của Cộng Sản rất mạnh ở nam phần ngay tại Sài Gòn. Nhiều người mở đài Hà Nội công khai mà không ai bắt bớ. Nhiều người miền Nam ít hiểu biết về thực tế Cộng Sản đã thật thà hỏi mấy đồng bào di cư mới gặp gỡ rằng “Ngoài Bắc đã độc lập rồi, mấy thầy cô dô đây làm chi ?” Do đó đã xẩy ra một số đụng chạm nhỏ trong tháng đầu. Dần dần đồng bào miền Nam mới nhìn đồng bào di cư một cách có thiện cảm hơn.

Trong bối cảnh ấy, lực lượng học sinh di cư đã dẫn đầu cuộc biểu tình vào dịp 20 tháng 7 năm 1955 đòi tống xuất các đoàn đại biểu của quân đội Cộng Sản từ Hà Nội trú đóng tại hai khách sạn Majestic và Galliéni (đường Trần Hưng Đạo). Khi bị khiêu khích, cuộc biểu tình biến thành bạo động, gây thiệt hại nặng cho hai khách sạn nhưng không có thương vong quan trọng. Những hành vi cương quyết của quần chúng khiến bọn thân Cộng Sản không còn nhởn nhơ tuyên truyền bán công khai như trước.

Người di cư tiếp xúc, trao đổi với dân chúng địa phương mau chóng tạo ra những hiểu biết và thông cảm. Về kinh tế thương mại, người Bắc vào Nam đã mở mang thương trường, ra các cửa hàng nhất là hàng ăn. Năm 1954 hầu hết cửa tiệm ăn do người Hoa kinh doanh, và họ dành độc quyền ngành lúa gạo cũng như các sạp thịt ở mọi chợ. Đời sống dễ dàng ở miền Nam khiến người Việt ít muốn cạnh tranh, ngay như ngành công chức cũng không hấp dẫn nhiều người. Bà con lao động xích lô kiếm đủ tiền tiêu trong ngày nhiều khi đẩy xe lên lề dưới bóng cây làm một giấc, khách gọi mấy cũng từ chối. Cách biệt giầu nghèo ở Nam Việt lúc ấy rất ít.

Các tầng lớp dân di cư cần cù chịu đựng tham gia thị trường lao động đã làm cho đời sống kinh tế miền Nam lên cao nhưng lại buộc mọi người phải làm ăn chăm chỉ hơn. Một số người địa phương không hài lòng vì nếp sống thong thả lè phè cũ đã mất đi không còn trở lại.

Trang phục phụ nữ hai miền khác nhau, nổi rõ nhất là giới nữ sinh trung học tuổi đôi tám. Nữ sinh Hà Nội làm dáng sớm hơn, quần hẹp, áo dài nở vòng số một. Nữ sinh Sài Gòn vận quần trắng rộng, áo bà ba trắng nhiều hơn áo dài được may vòng số 1 tương đối phẳng phiu có lẽ vì đó là cách tỏ ra là con nhà nghiêm túc. Sau hơn một năm các cô hai miền tự nhiên hòa hợp cách ăn mặc, bọn thanh niên sinh viên học sinh chúng tôi không còn phân biệt được gốc gác các cô qua y phục nữa. Điều quan trọng và dễ thương hơn hết là những câu chuyện tình Bắc duyên Nam đã nhiều khi hóa giải rất nhiều cho những mâu thuẫn văn hóa chính trị.

Các trường phía Bắc di chuyển vào Sài Gòn giữ gần y nguyên ban giám hiệu và tổ chức riêng. Từ Hà Nội vào, Chu Văn An tiếp tục tại cơ sở cạnh Petrus Ký. Trưng Vương học chung cơ sở nhưng khác giờ với Gia Long… sau hai ba năm mới ra học ở các cơ sở riêng trước Thảo Cầm Viên. Mấy năm sau nữa thì học sinh gốc hai miền dần dần pha trộn.

Chuyện đáng nhớ là năm 1955 học sinh Bắc vào Nam và các bạn gốc miền Nam mở chiến dịch phá bỏ tên đường tiếng Pháp. Nhờ đó mà việc đặt tên đường mới, vốn là việc mất nhiều công sức, đã được Tòa Đô Chánh Sài Gòn thực hiện trong vòng khoảng một tháng.

Về mặt văn hóa và báo chí, các nhà văn, nhà thơ, nhà báo từ Bắc vào Nam đã hòa hợp với đồng nghiệp miền Nam tạo ra sinh khí mới, lối viết và văn phong, sắc thái trong sáng, có sức truyền đạt hơn. Sau một thời gian ngắn người đọc chỉ có thể nhận thấy một số khác biệt ít ỏi giữa bài vở sách báo do các tác giả gốc từ các miền khác nhau viết ra.

Đặc biệt là về tân nhạc, lớp nhạc sĩ và ca sĩ cũng như những người yêu nhạc từ miền Bắc vào Nam đã lôi cuốn được phong trào âm nhạc mới phát triển mạnh để tiến đến tới cao điểm nghệ thuật ca nhạc trong các thập niên sau. Và ngược lại số người Bắc di cư hâm mộ ca nhạc kịch cải lương cũng gia tăng nhiều.

Về mặt ăn chơi, sự thay đổi rõ rệt hơn. Sòng bạc Kim Chung, Đại Thế Giới, khu mại dâm Bình Khang bị đóng cửa đầu năm 1955. Giữa năm 1954 cả Sài Gòn hình như chỉ có 2 hay 3 tiệm phở Bắc. Chỉ sau vài tháng số tiệm phở tăng đến hàng chục. Các quán cà phê cũng lục tục ra đời cùng với các ngành buôn bán khác. Các xuất gọi là phụ diễn tân nhạc trước khi chiếu phim chính ra đời dần dần tiến đến những buổi trình diễn âm nhạc chuyên nghiệp gọi là “nhạc hội” giúp vào việc phổ biến âm nhạc sâu rộng hơn. Trước đó hoạt động âm nhạc chỉ được biết qua các chương trình ca nhạc và các cuộc thi hát, tuyển lựa ca sĩ của các đài phát thanh quốc gia, đài quân đội và đài Pháp Á cùng hai đài Huế và Hà Nội.

Ngôn ngữ hai miền sau cuộc di cư cũng thay đổi và pha trộn về từ ngữ tuy vẫn giữ những nét độc đáo của từng vùng mà không lai giọng. Điểm đáng lưu ý là sau nhiều năm gia đình gốc gác miền Bắc di cư có con cái đứa thì nói giọng địa phương (Nam hay Trung), đứa thì nói giọng Bắc, đứa thì nói cả hai ba giọng tùy theo môi trưởng xóm giềng và trường học. Nhưng không mấy ai nói lẫn lộn cùng một lúc các giọng khác nhau.

Về mặt đời sống xã hội, người di cư dần dần và chậm chạp chịu ảnh hưởng bởi lối sống phóng khoáng, chân thật, thẳng thắn của dân miền Nam. Sau một thế hệ, tính nết người Bắc di cư khác hẳn tính nết của đồng hương của họ còn ở lại quê nhà. Đến sau 30 tháng 4 năm 1975 người ta càng thấy điều này rõ rệt hơn khi gặp đợt Bắc Kỳ mới vào Nam.

Trong đời sống tinh thần, có hai sự kiện đáng nhớ trong thời gian ấy. Một là trước ngày Việt Minh tiếp thu Hà Nội thì chùa Một Cột, di tích quý báu nhất của Việt Nam bị kẻ vô danh phá bằng chất nổ. Rất may chùa chỉ hư hại một góc. Nghe tin ấy chúng tôi đều hết sức buồn phiền. Hai là giữa lúc nhịp độ di cư đang lên cao thì Hoàng Dương, em nhạc sĩ Hoàng Trọng cho ra đời ca khúc Hướng Về Hà Nội với lời ca tha thiết “Hà Nội ơi, hướng về thành phố xa xôi… mái trường phượng vĩ dâng hoa, dáng chiều ủ bóng tiên nga… biết đâu ngày ấy anh về.” Ca khúc này khiến lứa tuổi 18, 19 chúng tôi cảm thấy rõ điều mà các văn thi nhạc sĩ gọi là “tan nát cõi lòng.”

Dĩ nhiên trong ngót một triệu người Bắc di cư có đủ mọi thành phần tốt xấu kể cả đầu trộm đuôi cướp, quan lại tham nhũng, trọc phú bất lương, tay sai thực dân và nội tuyến Cộng Sản. Nhưng so với số các phần tử tinh hoa của xã hội, số người yêu nước, chuyên viên giỏi các loại, các nhân sĩ, trí thức, chiến sĩ quốc gia chân chính, thì những phần tử xấu xa nói trên chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ bé.

Tôi và các bạn cùng lứa tuổi di cư vào ở miền Nam gần 40 năm tính đến năm 1990 qua di trú sang Hoa Kỳ. Tuy sinh ra trên đất Bắc nhưng chỉ ở Bắc dưới 20 năm trong đó mới biết chuyện đời được dăm ba năm. Vì thế chúng tôi có hai miền quê quán. Quê quán thứ nhất ở miền Bắc còn ở trong tim nhiều hơn. Quê quán thứ hai ở miền Nam sau ngày di cư năm 1954 mới thực sự chứa đựng nhiều vui buồn, yêu thương, giận dỗi, vinh quang và tủi nhục vì trải qua quãng đường đời dài 40 năm với biết bao nhiêu là kỷ niệm.

Yên Huỳnh post (theo Lữ Tuấn)

 NHẠC PHẨM NGOẠI QUỐC CHỌN LỌC

Mời quý thân hữu thưởng thức 20 nhạc phẩm ngoại quốc tuyệt hay trong trang nhạc của người thường phê bình Bùi Phương.

http://www.youtube.com/playlist?list=PLuUrrk8zYVhMekQ8Wa5aWkVQ39WMbdJsW

Tran Nang Phung

CHIM LẠ

Exotic Birds of Paradise – tuyệt hảo ! Hy-Van – Mời Click vào đường dẫn :   1-Birds-Exotic Birds of Paradise-1

Xổ số

Một anh chàng tên Paul đến Texas mua một con lừa của một ông nông dân với giá 100 đôla. Ông nông dân đồng ý sẽ giao con vật vào ngày hôm sau. Sáng hôm sau, ông ta tới gặp Paul và nói :

– Tôi có tin xấu cho anh đây. Tối qua con lừa đã bị chết.

– Thế thì trả tiền lại cho tôi – Paul yêu cầu.

– Không thể được, tôi đã tiêu hết số tiền đó rồi.

– Vậy thì cứ để con lừa lại đây.

– Anh định làm gì với nó ?

– Tôi sẽ dùng nó làm phần thưởng xổ số.

– Không thể như thế được !!! – Ông nông dân thốt lên.

– Chắc chắn là được, ông cứ chờ xem, nhưng nhớ là đừng kể cho ai nghe là con lừa đã chết rồi nhé.

Một tháng sau ông nông dân gặp lại Paul :

– Chuyện thế nào rồi ?

– Tôi đã bán được 500 tờ vé số, mỗi tờ giá 2 đôla và kiếm lời được khoảng 900 đôla.

– Không ai phàn nàn gì à ?

– Chỉ duy nhất có gã đã trúng độc đắc, và tôi đã trả lại cho hắn 2 đôla !!!

Giá cả

Sáng sớm, chồng đưa vợ tiền đi chợ. Khi vợ đi chợ về chồng hỏi còn tiền dư đưa mua rượu uống. Vợ nói :

– Vật giá leo thang, cái gì cũng mắc, ông đưa có bấy nhiêu không đủ mua, lấy đâu mà dư ?

Chồng hỏi:

– Cái gì mà mắc ? Giá cả có chánh phủ kiểm soát, bọn gian thương sắp bị chém đầu rồi mà!

Vợ nói :

– Ông thử đi một lần sẽ biết. Món này hồi đó 10 nghìn, bây giờ 50 nghìn, món kia hồi đó 100 nghìn bây giờ 300 nghìn.

Chồng sừng sộ:

– Tại sao má mày không tìm cái món hồi đó mà mua có phải rẻ hơn món bây giờ không ?

Thả bồ câu

Trên chuyến xe lam, một anh chàng ngồi cạnh cô gái. Bỗng anh chàng đau bụng “Muốn” đánh rắm. Sợ quê, anh cắn răng nín. Nhưng, nó “đòi” dữ quá. Không biết làm sao, anh bật hát : Đôi bồ câu trắng bay về đâu ? Rồi nghiêng mông, phát ra hai tiếng “Chít, chít”. Chưa hết, nó còn “đòi” nữa. Bí quá anh lại hát tiếp : Đôi bồ câu trắng bay phương nào ? Rồi nhẹ nhàng nghiêng mông : “Chít, chít”.

Bỗng cô gái ngồi cạnh lên tiếng : Thả đại cả bầy luôn đi, thả từng đôi một đến bao giờ mới hết…

Yên Nhàn (tổng hợp)

TỪ PHAN RANG ĐẾN ĐÀ LẠT

ĐƯỜNG TỪ

PHAN RANG

ĐI ĐÀ LẠT

Bài này thấy hay, có những chỗ mình chưa đi tới như Hang Cọp, thung lũng Mimosa, và mấy ngôi chùa …. Khi nào trở lại, chắc chắn sẽ nhờ bạn bè đưa đi mấy chỗ này.

Đưa bài này lên cho đủ bộ sậu những tuyến đường đến Đà Lạt, nhưng nói thiệt là khuyên các bạn đừng đi đường này. Đẹp thì đẹp nhưng mà nhiều nguy hiểm, cộng thêm đường sá Việt Nam sửa lui sửa tới cũng hết ổ gà tới ổ trâu ổ voi. Vậy nếu như bạn không có một sức khỏe bền bỉ, một tinh thần hưng phấn, một  xe mạnh mẻ thì coi như đọc để … đọc cho vui thôi.

Đà Lạt – Phan Rang : Đây là con đường có từ trước 1975 đi từ Đà Lạt xuống Đơn Dương (đi theo Quốc lộ 20 qua đèo Dran làm từ thời Pháp hoặc đi qua đèo Prenn đến ngã ba Phi Nôm thì rẽ theo Quốc lộ 27 làm thời Mỹ để đi Đơn Dương), sau đó qua đèo Ngoạn Mục (còn gọi là đèo Sông Pha) để xuống Phan Rang (khoảng gần 120 Km).

Khởi đầu từ Phan Rang, Quốc lộ 1A, có bảng chỉ dẫn đường đi Đà Lạt, theo QL 27. Bắt đầu QL 27 chừng 5km tới ngã tư này (H1). Nhìn xa xa là thấy những tháp Chàm của Phan Rang (H2), 5km thì tới chùa, tên thường gọi Chùa Thiền Lâm (H3)

Chùa tọa lạc ở thôn Đắc Nhơn, xã Nhơn Sơn, huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận, nằm cạnh đường từ Phan Rang đi Đà Lạt, cách Phan Rang khoảng 10km. Chùa thuộc hệ phái Bắc tông.

Thiền sư Đức Tạng (quê ở Phú Yên) khai sơn chùa vào khoảng giữa thế kỷ XIX. Chùa được vua Bảo Đại ban tấm biển “Sắc tứ Thiền Lâm Tự”. Kiến trúc chùa hiện nay do Hòa thượng Thích Huyền Tân cho trùng kiến vào năm 1959. Ở điện Phật còn một số tượng cổ bằng đồng, đất nung.

Thêm 25 km tới Ninh Sơn có cái ngã ba quẹo phải đi Bác Ái ra lại QL 1A giáp ranh Ninh Thuận – Khánh hòa (giữa đường này lại có ngã ba quẹo lên núi đi thác Tà gụ, Tô hạp, huyện Khánh sơn, Khánh hòa, trổ xuống ngay Ba ngòi – Cam ranh)

Trên tuyến đường này, chúng ta phải vượt qua đèo Ngoạn Mục mà đỉnh cao của nó và cũng là ranh giới giữa 2 tỉnh Ninh Thuận – Lâm Đồng là giao điểm Eo Gió (H4).

Eo Gió trên đỉnh đèo Krôngpha chỉ là một khe núi rộng chừng 20m nhiều gió luồn qua mát lạnh, là mốc “ranh giới” đánh dấu chấm hết cho khí hậu nóng khô đồng bằng Phan Rang. Khí hậu dịu mát và khung cảnh đầy hoa vùng Đơn Dương (Lâm Đồng) vẽ nên bức tranh mùa xuân tuyệt diệu.

Đèo Ngoạn Mục hay còn gọi là đèo Krông Pha (một địa danh của người Chăm) người Việt đọc là Sông Pha, người Pháp gọi là Belle Vue (Ngoạn Mục) là một trong những đèo đẹp nhất Việt Nam thuộc huyện Ninh Sơn tỉnh Ninh Thuận, nối thung lũng Ninh Sơn với cao nguyên Lang Biang ,dài khoảng 18km.

Con đường quanh co gấp khúc liên tục có 4 đoạn cua khuỷu tay rất gấp, uốn lượn mềm mại qua những đồi núi, sườn đồi lớn nhỏ khác nhau tạo hình vòng sóng, tạo nên những tầng đường mà nếu có dịp dừng chân trên đỉnh nhìn xuống, dễ thấy vẻ quyến rũ lãng mạn lẫn hùng vĩ của nó (mà cũng dễ lạnh gáy lắm a). Từ trên đèo nhìn xuống thấy bờ vực dốc đứng, sâu thẳm, lấp ló qua những rặng thông là con đường ngoằn ngoèo khúc khuỷu với những chiếc ô tô nhỏ xíu chậm chạp đang bò lên hay xuống (H5).

Đèo dài 18,5 km, có độ dốc trung bình trên 9 độ. Do vậy đây cũng là đèo có độ dốc lớn nhất ở các tỉnh phía Nam. Đèo Ngoạn Mục là một trong những đường đèo hùng vĩ và đẹp nhất Việt Nam. Đúng như tên gọi, cảnh đèo Ngoạn Mục uốn lượn ngoằn ngoèo, nhiều khúc quanh co hiểm trở băng qua núi cao vực cả. Cảnh vật hoang sơ hùng vĩ mà đẹp như tranh vẽ, vừa thanh thoát lãng mạn, khiến lòng du khách không khỏi lâng lâng ngất ngây choáng ngợp.

Đèo Ngoạn Mục hấp dẫn du khách với cảnh sắc thay đổi liên tục theo thời gian và không gian. Lên Ngoạn Mục vào buổi sáng bằng xe gắn máy, du khách dễ bị choáng ngợp bởi những cụm mây mịt mù. Lên Ngoạn Mục những chiều đông, có thể đứng ở vực cao ngắm ra khoảng rừng những vách đồi trước mặt, thấy những mảng rừng đổi màu lá xanh, lá đỏ. Lên đèo Ngoạn Mục vào những đêm trăng sáng, dễ nhận ra một không gian ảo huyền giữa bao la núi rừng.

Với địa thế khá hiểm trở, Đèo Ngoạn Mục trở thành đoạn đường thú vị cho một tour bằng xe đạp, xe gắn máy trên đường từ phố núi Đà Lạt xuôi về duyên hải Phan Rang (H6).

Khu bảo tồn thiên nhiên Đèo Ngoạn Mục thuộc xã Lâm Sơn, huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận, nằm ở sườn dốc hướng về phía Đông, trong khu vực chuyển tiếp giữa đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ và cao nguyên Đà Lạt. Vào những ngày đẹp trời, từ nơi đây người ta có thể nhìn thấy biển Đông (H7).

Đường ống thủy điện Đa Nhim xa xa (H8). Xe chạy dưới đường ống (H9)

Cùng nằm trên con đường từ Phan Rang lên Đà Lạt, Một hồ nước trong xanh được hình thành từ công trình thủy điện Đa Nhim và một ngọn đèo uốn lượn nằm trong khu vực chuyển tiếp giữa đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ với cao nguyên Đà Lạt hòa quện, kết hợp hài hòa với nhau tạo thành một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp. Bức tranh đó có đủ các non, nước, mây, trời, cỏ, cây, hoa, lá.

Hồ Đa Nhim có diện tích khoảng 9,7km2, là một công trình độc đáo của Đông Nam Á do người Nhật thiết kế. Từ xa xa cách gần cả mấy cây số, nhìn về hồ du khách có thể nhìn thấy hai đường ống rất lớn chạy song song nhau, dài khoảng gần 2km để dẫn nước từ trên núi xuống nhà máy nằm dưới chân đèo. Con đập thẳng tắp ngăn đôi bình nguyên Đơn Dương nối hai sườn núi dài 1.460m, cao sừng sững 38m, đáy rộng 180m, đỉnh còn 6m, tích nước từ hai sông Đa Nhim và Kronglet hòa vào càng khiến cho khung cảnh thêm ngoạn mục. Dưới đáy hồ là một đường hầm thủy áp dài tới 5km, rộng 3,5km chạy xuyên qua lòng núi đá graint đưa nước sông Đa Nhim từ sườn đông về sườn tây đến đầu dốc Eo Gió (H10 &11).

Đến ngã ba Đơn dương

Ngã 3 này 1 nhánh rẽ phải vào đèo D’ran để tới Dalat, rẽ trái vào thị trấn Đơn Dương. Còn lại sẽ đi ra ngã ba Phinom để giáp với QL 20 về Đà Lạt (H12).

Tới đây tôi phân vân quá. Không biết nên viết về hướng nào. Vì cả 2 đều về Đà lạt, và cả 2 cùng đẹp hết hi hi. Đành phải viết cả 2, bắt đầu viết theo đường đèo Dran rồi sẽ tiếp tục đường Phinom

Đường Dran : Thác hang cọp. Trại mát, chùa Linh phước. ga Đà Lạt

1/. Thác Hang Cọp

Nằm hút sâu trong vùng Xuân Thọ hẻo lánh của huyện Đơn Dương – thành phố Đà Lạt, Thác Cọp từ lâu được xem là điểm đến du lịch hấp dẫn nhưng cũng rất nguy hiểm của vùng Nam Tây Nguyên (H13)

Con dốc ngày mưa khá trơn trượt, mức độ nguy hiểm đến rợn người. Thác Hang Cọp đón chào du khách trong tiếng thác ầm ầm vang vọng (H14).

Theo truyền thuyết kể lại, thác Hang Cọp xưa kia được coi là lãnh địa, là vùng đất của “chúa tể sơn lâm” và người Cill (người bản địa xưa kia – người K’ho) rất sợ vào vùng đất này. Thấy người dân trong buôn làng mình đã khổ, lại thêm nỗi sợ cọp mỗi khi đi rẫy, một chàng trai đã cầm nỏ theo dấu vết đi tìm cọp. Khi đến dòng thác, chàng bèn bắn mũi tên từ bên kia dòng thác vào chỗ cọp nằm, mũi tên trúng chân cọp, làm “chúa tể sơn lâm” sợ bỏ chạy vào rừng, không dám về buôn làng phá quấy bà con nữa. Dòng thác hùng mạnh từ đó có tên Thác Hang Cọp.

Sở dĩ nơi đây được mang tên là thác hang Cọp là bởi vì : từ trên đồi cao du khách có thể nhìn thấy bức tượng hình con cọp cao 5m, dài 10m trên một gò đất rộng. Ngoài tên gọi thác hang Cọp được sử dụng bây giờ, thì trước đây vùng đất này còn có những tên gọi khác là Ông Cọp, Ông Thuận, Đạ Sar, Thiên Thai, Long Nhân.

Tiếng rừng thông lao xao, rì rào; tiếng chim bay về núi táo tác giữa không gian hoang sơ, u tịch và nổi lên, gờn gợn trong bóng chiều cô quạnh là tiếng “cọp gầm” đều đặn phát ra từ phía ngọn thác huyền thoại, có lúc ta giật mình tưởng như thật (H15).

Đêm đến, khi ánh trăng nhô qua triền núi tỏa ánh sáng xanh trong huyền hoặc, sương mờ lãng đãng vấn vương trên ngàn cây ngọn cỏ…du khách đến đây có thể quây quần bên nhau trong ngôi nhà sàn đơn sơ với một vò rượu cần, thịt gà rừng luộc chấm muối ớt ăn kèm cùng măng chua. Cá lóc ở hồ, suối, thịt dẻ, ngon ngọt không thua cá ở đồng bằng… Một đêm trong rừng, bên thác Hang Cọp sẽ khiến cho du khách có nhiều cảm xúc lâng lâng trong giấc ngủ yên bình, sảng khoái với cái rét dìu dịu trên độ cao 1.500m. Nhưng mà cũng nói thiệt rằng, hiện nay thác hang Cọp quá chừng xuống cấp, cho nên bạn nào hào hứng với cảnh hoang sơ thì còn tạm chấp nhận được. Còn không thì … khỏi đi cho khỏe.

2/. Trại mát :

Trại Mát là một trong những vùng canh tác rau chính của Đà Lạt, tuy nhiên nơi này ít được biết đến vì không phải là điểm du lịch.

Không ồn ào như khu trung tâm của Đà Lạt, nhịp sống Trại Mát bình dị và mộc mạc. Ở đây, bạn sẽ dễ dàng bắt gặp hình ảnh những người nông dân cần mẫn trên các vườn rau trải dài khắp sườn đồi tựa như ruộng bậc thang ở vùng Tây Bắc xa xôi (H16), đó còn là hình ảnh những cô gái má đỏ, môi hồng đội nón lá, mặc áo len nhổ cỏ bên luống hoa, hình ảnh học sinh đến trường trong chiếc áo len ấm áp, hay hình ảnh của những ngôi nhà gỗ có những cánh cửa màu xanh lẩn khuất trong làn sương mờ ảo giữa cánh đồng rau…

Ở khu trung tâm phồn hoa nhất (chợ Trại Mát) cũng khá nhộn nhịp vào buổi sớm mai. Cảnh mua bán, trao đổi hàng hóa nông sản khá tấp nập, ở đó còn có nụ cười tỏa nắng của chị hàng hoa đèo những bó hoa hồng, hoa cúc khổng lồ bán cho khách… (H17)

3/- Chùa Linh Phước

Còn gọi là chùa ve chai, do Chùa được trang trí bằng những mảnh sứ nhiều màu, và đặc biệt có hình một con rồng lớn được gắn kết bằng nhiều chai lọ. (H18). Chùa có tháp 7 tầng (leo xong mệt thở khói lỗ tai luôn) (H19), nhìn từ ngoài vào chùa (H20)

Quang cảnh xung quanh Chùa (H21). Rồng miểng chai đây (H22). Mỗi người viết 1 tờ giấy cầu nguyện, dán vô cái chuông (nghe nói là to nhất Đà Lạt) sau đó dộng 3 tiếng chuông (H23).

Rẽ trái về Phinom-QL20= 25Km Không theo đèo Prenn về Đà Lạt, mà từ Khu du lịch thác Prenn, đi theo hướng tay phải để đến Thung lũng Mimosa, một con đường đèo thơ mộng để vào Đà Lạt (H24).

4/- Thung lũng Mimosa

Bắt đầu từ thác Prenn, con đường lượn xuống một vùng lũng thấp rồi uốn lượn, vắt mình qua những đồi thông xanh, chênh vênh men theo những vực cao ngập trong gió sương trước khi mở ngõ vào phố hoa Đà Lạt…Hai bên đường những hàng cây mimosa mới trồng đâm chồi xanh non mơn mởn.

Trên đường đi, du khách có thể nhận thấy một hình ảnh Đà Lạt đầy trong trẻo và ban sơ, những mái nhà thấp thoáng ẩn hiện trong rừng thông xanh, những khu vườn hai bên đường lặng lẽ cho hoa trái mùa đầu.

Giữa đèo, trơ vơ một quán gỗ bán rượu cần nằm như neo trên lưng cánh đồi nho nhỏ ven đường. Những nhà dân đơn sơ, gỗ mộc ở đây thường được trang điểm bởi những sân hoa cúc, hồng, mimosa và cả những loài hoa không tên khoe sắc quanh năm (H25).

So với đèo Prenn 1 thì Mimosa có nhiều điểm dừng chân để ngoạn cảnh. Mimosa ít có những đoạn cua hẹp và khúc khuỷu, đặc biệt, với thiết kế vòng ôm, lượn lờ băng qua những triền đồi điệp trùng, bậc thang, du khách có thể phóng tầm mắt xuống từng lòng thung lũng bao la lác đác những mái nhà ẩn chìm trong sương mù hay mơ màng khói lam chiều… (H26).

Chinh phục đèo Mimosa bằng xe đạp, xe gắn máy… trong lúc này, hẳn vẫn còn gợi cái cảm giác khám phá tuyệt vời – khám phá sự mới lạ của một cung đường lặng lẽ và thơ mộng là cửa ngõ thứ hai của thành phố hoa Đà Lạt. Và khi băng qua những đồi thông, nhìn xuống những dòng suối nhỏ hay nhà vườn trong thung sâu, có thể nghĩ đến những tour dã ngoại thú vị, du lịch vườn sinh thái đối với những ai muốn tìm về một Đà Lạt bình yên, không xi măng, nhà hộp và bụi khói xe cộ.

5/- Chùa Tàu (Thiên vương cổ sát, Chùa Phật trầm)

Chùa Thiên Vương Cổ Sát tọa lạc trên đồi Rồng, tại số 385 đường Khe Sanh, cách trung tâm thành phố Đà Lạt 5km về hướng đông bắc. Chùa theo hệ phái Phật giáo Huê Nghiêm của Trung Quốc (H27)

Chùa Tàu hay chùa Phật Trầm có tên gọi đầy đủ là chùa Thiên Vương Cổ Sát. Chùa được Hòa thượng Thọ Dã thuộc Hội quán Triều Châu xây dựng năm 1958 gồm 3 gian nhà bằng gỗ lợp tôle. Năm 1989, ông Lê Văn Cảnh đã đứng ra trùng tu xây dựng. Lúc này ngôi nhà giữa đã được tháo dỡ nhằm tạo không gian thông thoáng cho hai tòa nhà còn lại.

Ngay giữa Từ Tôn Bảo Điện có điện phật Di Lặc, cao chừng 2,5m , trên tay cầm 1 cái túi lớn màu đỏ. Khách thập phương có thói quen xoa tay vào túi lấy hên (H28).

Qua một khoảnh sân là đến Minh Quang Bảo Điện, tại đây thờ Tây Phương Tam Thánh gồm các tượng A Di Đà Phật ở giữa, Quan Thế Âm Bồ Tát bên trái và Đại Thế Chí Bồ Tát bên phải. Đây là những bức tượng quí được tạc từ gỗ trầm, cao 4m và nặng 1,5 tấn do Hòa thượng Thọ Dã thỉnh từ Hồng Kông năm 1958. (Sorry nếu như mình ghi tên các tượng không đúng, mình chỉ nghe nói thế vì mình đạo Chúa) (H29).

ho tượng Phật trầm tỏa ra mùi rất thơm, nên mọi người không ai thắp hương ở đây (thắp và cắm ở cái lư hương to thiệt to phía trước)

Phía sau chùa, nơi trước đây là cốc của nhà sư Thọ Giã, đã xây dựng Thích Ca Phật Đài cao chừng 10m thật đẹp giữa đồi thông lộng gió. Nơi đây rộng rãi thoáng mát, nhìn xuống thung lũng (không biết tên) (H30).

Nhưng mà xin lưu ý qúy khách coi chừng mấy con ngựa thả rông. Kẻ hèn này đã từng bị 1 con rượt chạy vòng vòng, sau cùng điên quá vác cây phang nó mới chịu bỏ đi. Hú vía.

Sẽ là thiếu sót nếu đến đây mà bỏ qua chiếc bàn xoay kỳ lạ. Nhìn bề ngoài, bàn xoay giống như những chiếc bàn cổ dùng uống nước gồm có chân kiềng, thân hình trụ có lỗ để mặt bàn khớp vào, cho phép người sử dụng bàn có thể xoay bàn dễ dàng. Mặt bàn khá dày, được ghép đơn giản từ những tấm gỗ bào nhẵn mặt trên và còn để thô mặt dưới. Một điểm đặc biệt, toàn bộ chiếc bàn không hề sử dụng vật liệu gì ngoài gỗ, không dùng đinh, ốc vít mà chỉ dùng mộng để ghép các phần lại với nhau (H31).

Nghe bảo là đặt hai tay lên mặt bàn, không nhúc nhích, trong đầu thầm nghĩ chiếc bàn hãy quay về bên phải và nếu thích, có thể nói ra miệng. Chỉ vài giây sau, chiếc bàn khẽ giật giật dưới tay và từ từ quay về bên phải, nếu yêu cầu bàn xoay nhanh hơn, chậm hơn hoặc đổi hướng, xoay về bên trái chiếc bàn cũng sẵn sàng chiều ý khách. Thậm chí, có thể nhiều người cùng quay một lúc hoặc quay một người một, kết quả cũng không khác nhau.

Vườn hoa Minh Tâm

Vườn hoa Minh Tâm tọa lạc tại 20A đường Khe Sanh, trong một khu vườn có diện tích khoảng 18 hecta đa số là rừng thông. Ban đầu, nơi đây là khu biệt thự của chủ nhân người Pháp tên David , được xây dựng từ năm 1938 .

 Sau nhiều lần đổi ngôi đổi chủ, Vườn hoa này đã từng nằm trong tay những người danh tiếng, (cả tiếng xấu và tiếng tốt). Một thời gian dài còn gọi là Vườn hoa Trần Lệ Xuân, rồi Mười Vân, rồi Vườn hoa Bộ nội vụ (H32).

Từ năm 1990 , khu biệt thự này được dùng để khai thác du lịch. Vườn hoa Minh Tâm có nhiều loại hoa quý đẹp khoe sắc như Cẩm Tú Cầu, Cẩm Chướng, Mimosa lá bạc, hoa chống muỗi đa sắc (pelargonium), Phù Dung, hoa xác pháo có màu đỏ rực, hoa hồng với nhiều màu sắc lai tạo… Đặc biệt, trong khu vực kinh doanh hoa của nhiều chủ nhân đang trưng bày nơi đây, có nhiều loài hoa quý tộc được giới thiệu để phục vụ du khách mang về trồng ở địa phương . Giữa khu vựờn hoa là khách sạn Minh Tâm được cải tạo lại từ ngôi biệt thự cũ để phục vụ du khách.

Du khách yêu thiên nhiên đến Đà Lạt thường lưu trú nơi đây để được mãn nhãn ngắm các loài hoa quý trong vườn, vừa có thể thả hồn mình hòa với rừng thông xanh trải dài xa tít dưới thung lũng.

Một số ngôi chùa ở Đà Lạt

1/- Chùa Linh Sơn : Linh Sơn được xây dựng vào năm 1938, ngày nay đây còn là trường đào tạo Phật học Cơ bản và nơi đặt văn phòng của Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Lâm Đồng (120 Nguyễn Văn Trỗi, thành phố Đà Lạt). Quy mô và kiến trúc của Linh Sơn khá khiêm tốn, giản dị, không bề thế, thơ mộng như Thiền viện Trúc Lâm, Thiền viện Vạn Hạnh; không có bề dày lịch sử như Tổ đình Linh Quang là những tự, viện nổi tiếng khác ở Đà Lạt (H33).

2/- Chùa Linh Quang : Chùa Linh Quang được xem là ngôi Tổ đình đầu tiên của thành phố Đà Lạt. do Hòa thượng Thích Nhơn Thứ tạo lập vào năm 1931. Chùa được vua Bảo Đại ban biển ngạch Sắc tứ vào năm 1938. Kế tiếp trụ trì là Hòa thượng Thích Quảng Nhuận. Hòa thượng viên tịch năm 1951 tại Tổ đình Từ Quang, Huế (H34).

Chùa được trùng tu vào năm 1958 và năm 1972 dưới thời Hòa thượng Thích Minh Cảnh trụ trì. Hòa thượng đã đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ quan trọng trong Tỉnh hội Phật giáo Lâm Đồng, như năm 1952, ngài là Tri sự trưởng Giáo hội Tăng già tỉnh Đồng Nai Thượng; năm 1982, ngài là Đệ nhất Phó Ban Trị sự kiêm Trưởng ban Tăng sự Tỉnh hội Phật giáo Lâm Đồng. Hòa thượng an nhiên thị tịch vào ngày 19 tháng 2 năm Bính Dần (1986), đúng vào ngày vía Bồ tát Quán Thế Âm, thọ 80 tuổi. Kế tiếp trụ trì là Hòa thượng Thích Đức Thiệu (H35).

3/- Thiền viện Vạn Hạnh : Thiền viện Vạn Hạnh là ngôi thiền viện tọa lạc tại địa chỉ :
39 Đường Phù Đổng Thiên Vương – Phường 8 – thành phố Đà Lạt. Đây là ngôi thiền viện thu hút tăng ni khắp nơi, vừa là điểm tham quan hấp dẫn của thành phố Đà Lạt (H36).

1952: Xây dựng Niệm Phật Đường Đông Thành. 1957: Đổi thành Khuôn Hội Vạn Hạnh. 1964: Đổi thành chùa Vạn Hạnh – Xây dựng chánh điện 9m6 vách gạch mái tôn. 1980: Giáo hội bổ nhiệm Đại Đức Thích Viên Thanh trú trì chùa Vạn Hạnh. 1983: Xây dựng tiền đường 4m x 20m mái ngói. 1991: Xây dựng cảnh Rồng thiêng Quán Thế Âm thị hiện. 1992: Đổi tên chùa Vạn Hạnh thành Thiền Viện Vạn Hạnh. 1994: Lễ đặt đá xây dựng Thiền Viện Vạn Hạnh (nhằm ngày 10/11/ Giáp Ngọ và ngày dương là ngày 12/12/1994). 2002: Ngày 2/2/ Nhâm Ngọ lễ đặt đá xây dựng Thích Ca Phật Đài. Khuôn tượng đúc bằng xi măng và bê tông cốt thép, cao 24 m, nặng trên 60 tấn. Dưới đài sen là một ngọn giả sơn, bên trong có hang động tôn trí hình tượng các vị tổ đang tham thiền nhập định. Công trình này do Thượng Tọa Thích Viên Thanh thiết kế và nghệ nhân Thùy Lam thực hiện với tổng kinh phí trên 1 tỷ 300 triệu đồng.

4/- Chùa Sư Nữ : Chùa Linh Phong tên đầy đủ Chùa sư nữ Linh Phong, là ngôi chùa nằm trên một đồi cao ở số 72C đường Hoàng Hoa Thám, cách trung tâm thành phố Đà Lạt 4km.

Chùa Linh Phong vốn là một nơi thờ Phật được dựng năm 1940, khi đó chỉ lợp tranh, vách bằng ván. Từ năm 1946, nơi thờ tự này được chuyển giao cho sư bà Thích Nữ Từ Hương. Dần từng bước, sư bà Thích Nữ Từ Hương xây dựng nên ngôi chùa như ngày nay (H37 & 38).

Yên Huỳnh post (theo Anchu 29/04/2012)

VUA ĐẦU BẾP MỸ

GỐC VIỆT

Vượt qua hơn 100 đầu bếp của nước Mỹ, cô gái khiếm thị gốc Việt Christine Hà đã giành chiến thắng trong cuộc thi Vua đầu bếp Mỹ lần thứ ba vừa diễn ra vào tối 10/9/2012

Christine Hà, 33 tuổi là cựu sinh viên trường đại học Houston, bang Mississippi, Mỹ. Christine Hà đã tham gia cuộc thi Vua đầu bếp Mỹ Master Chef cách đây vài tuần.

Vượt qua hơn 100 đầu bếp của nước Mỹ, Christine Hà lọt vào vòng chung kết và đối đầu với đầu bếp Josh Marks. Christine Hà khiến ba giám khảo ngạc nhiên bởi cô là thí sinh khiếm thị đầu tiên tham dự một cuộc thi lớn như vậy.

Sau hai giờ thi đấu, bàn tay khéo léo của Christine Hà đã thuyết phục Ban giám khảo với món Salad đu đủ Thái, cơm tấm, thịt om với cải xoăn giòn và nấm với một quả trứng chim cút và món kem lạnh với dừa và gừng…

Theo People, các món ăn của Christine Hà được Ban giám khảo đánh giá cao không chỉ về cách trình bày mà còn có hàm lượng dinh dưỡng cân đối.

Christine Hà đã bật khóc khi kết quả chung cuộc được tuyên bố. Giải thưởng mà Vua đầu bếp Mỹ Christine Hà nhận được là 250.000 USD, một hợp đồng viết sách dậy nấu ăn và chiếc cúp MasterChef.

“Tôi không thể tin được là mình đã giành giải quán quân cuộc thi này. Đây thực sự là một trải nghiệm tuyệt vời nhất trong cuộc đời của tôi. Ước mơ trở thành một đầu bếp của tôi giờ đây đã thành hiện thực” – Christine Hà xúc động chia sẻ sau khi giành được giải thưởng.

Christine Hà cho biết, thị giác của cô bắt đầu kém dần từ năm cô 19 tuổi, sau đó một mắt rồi hai mắt của cô không thể nhìn thấy mọi thứ xung quanh. Cô bắt đầu học cách lắng nghe và cảm nhận mọi việc. Trong 10 năm lại đây, Christine Hà bắt đầu tự mày mò nấu ăn mà không cần đến bất cứ sự giúp đỡ của ai.

“Nhiều lúc tôi cảm thấy việc xác định các loại thực phẩm rất khó vì mình chẳng nhìn thấy gì. Tôi phải tập ngửi hương vị của thực phẩm, từ đó ước lượng khối lượng nguyên liệu để chế biến món ăn. Tôi phải rất cẩn thận khi dùng dao. Thật may trong suốt thời gian qua, tôi chỉ bị đứt tay một lần” – Christine Hà cho biết thêm.

Hiện nay, Christine Hà đang sinh sống tại Houston, bang Mississippi của nước Mỹ. Christine Hà chia sẻ rằng cô muốn thực hiện ước mơ trở thành đầu bếp giỏi để chế biến các món ăn mang đậm hương vị quê hương Việt Nam.

Nguyễn Văn Danh post (theo Nguyễn Thủy)

NHỮNG PHƯƠNG THUỐC CỰC RẺ, 

GIÚP NÂNG CAO THỂ LỰC CHO BẠN

Đi bộ một tiếng mỗi ngày, mở cửa sổ nhà ít nhất nửa tiếng và bổ sung tỏi vào bữa ăn hàng ngày…, đó là những phương thuốc cực rẻ mà lại rất hữu ích giúp nâng cao thể lực cho bạn.

1/- Mở cửa sổ ít nhất nửa tiếng mỗi ngày để lưu thông không khí trong nhà

2/- Cọ lưng bằng khăn tắm để kích thích các dây thần kinh cơ thể

3/- Bữa ăn có tỏi để tăng đề kháng

4/- Sưởi nắng ít nhất 15 phút mỗi ngày để chống còi xương

5/- 4 cốc trà xanh mỗi ngày

6/- – Đi bộ một tiếng mỗi ngày

7/- Nhai kỹ khi ăn

8/ Ngủ ít nhất 7 tiếng mỗi ngày

9/- Ăn ít đường

10/- Uống rượu vang trong bữa ăn

Mai Trung Tin post