KHÔNG CỦA RIÊNG AI (33)

XÂM NHẬP THẾ GIỚI

ĐỒNG TÍNH NAM

Đĩ đực lên ngôi tại vũ trường Sài Gòn

Hàng đêm, theo tìm hiểu của chúng tôi, có không dưới 50 chàng trai, độ tuổi chỉ khoảng từ 17 đến 25 – hoặc đứng rải rác cạnh những gốc cây, hoặc ngồi trên những chiếc xe gắn máy dựng trên lề đường như người nhàn du, chờ “khách”.

Nếu như “tam giác vàng” là đất hành nghề của các cô gái mại dâm di động, thì mại dâm đồng tính nam (gọi tắt là gay) cũng có “thánh địa” riêng của nó. Đó là đoạn đường từ Thảo Cầm Viên (Sở thú) đến gần cầu vượt Nguyễn Hữu Cảnh, sài Gòn.

1/- Khác với “tam giác vàng”, nơi gái mại dâm hoạt động giữa ban ngày ban mặt, thì “thánh địa” của dân “gay” xem ra có phần kín đáo hơn. Từ khoảng 20h đến 24h, mọi “giao dịch” gần như trầm lắng. K., dân “gay” chính hiệu, hướng dẫn viên tình nguyện cho chúng tôi trong chuyến thực tế này, nói : “Những thằng “đi khách” vào giờ này hầu hết đều đã có hẹn trước”. Để chứng minh, K. chỉ cho chúng tôi một ông trung niên cưỡi trên chiếc Air Blade, và mặc dù đoạn đường này thẳng tắp, không một ngã rẽ nhưng ông ta vẫn bật “xi nhan” bên phải, chớp nháy liên tục. K. nói: “Tín hiệu đó”.

Quả thật, chỉ sau vài giây, một cậu trai đang ngồi vắt vẻo trên chiếc Wave Alpha đột ngột gạt chống chân lên rồi nổ máy. Theo lời K., bãi đáp của họ là một khách sạn có tên S.Y. thuộc quận 9, nơi mà chủ khách sạn coi việc hai gã đực rựa vào thuê phòng là chuyện bình thường.

1h sáng, “chợ người” nhộn nhịp hẳn lên mà thoạt nhìn vào, chúng tôi cứ ngỡ đó là buổi hẹn hò gặp mặt của những nhóm thanh niên rủ nhau đi chơi đêm. Hàng chục chiếc xe gắn máy đỗ lại, có những chiếc xe tay ga đắt tiền, chủ nhân của nó ăn mặc bảnh bao nhưng cũng chẳng thiếu những chiếc “xế cùi” và người cưỡi nó áo thun sờn rách, chân lết đôi dép lê.

Thỉnh thoảng, một chiếc ôtô du lịch trờ tới rồi một chàng “gay” nhanh chóng chui vào. Nghe nói chàng này là… sinh viên, đi “làm thêm” để kiếm tiền trang trải học phí. Do có thân hình đẹp, nên chàng “sinh viên” là hàng “sao” ở đây. K. nói tiếp : “Bình thường, giá đi khách là từ 200 đến 300 nghìn đồng, tiền thuê phòng khách trả. Còn với những thằng thuộc loại “sao”, đi bao nguyên đêm là 1 hoặc 1,5 triệu”.

Nếu như mới chỉ khoảng hai thập niên trước đây thôi, đồng tính bị xã hội nhìn bằng con mắt kỳ thị, ghẻ lạnh – thậm chí khinh bỉ thì bây giờ, cái nhìn ấy đã có phần cảm thông hơn, thậm chí còn được coi là chuyện bình thường.

Từ nửa thế kỷ qua, y học áp dụng nhiều biện pháp nhẹ nhàng hơn để điều trị đồng tính, chẳng hạn như cho dùng cocaine, bổ sung nội tiết tố estrogen, testosterone… liều cao, thậm chí dùng cả niềm tin tôn giáo và cả những phương thức tâm linh…, nhưng tất cả vẫn chẳng đem lại sự thành công nào. Vì thế hiện nay, khá nhiều nước trên thế giới đã công nhận chuyện đồng tính, và ra quyết định hợp thức hóa những cuộc hôn nhân của những người đồng tính.

Tại Việt Nam, vào thời điểm chúng tôi viết bài này, vẫn không có bất kỳ một quy định nào cấm hai người đồng giới yêu nhau, nhưng cũng không khuyến khích. Chả thế mà trên mạng Internet, đã xuất hiện những trang web dành cho dân “gay”, cụ thể như trang “Tình yêu trai Việt”, có số thành viên tham gia lên đến gần 3.000 người.

Trong trang web này, người ta có thể đọc thấy – hoặc là tâm sự của những “gay”, hoặc tìm bạn tình, hoặc cách phòng tránh bệnh tật khi quan hệ đồng giới… M., một thành viên của “Tình yêu trai Việt”, nói : “Chỉ khi vào đây, em mới thực sự thấy mình là… người (?!)”. Theo M., từ khi gia đình biết cậu ta là “gay”, thì cậu ta luôn phải chịu những sự dè bỉu, thậm chí chửi bới, đánh đập.

Dưới con mắt của những chuyên gia về y tế, thì đồng tính chỉ là sự lệch lạc về xu hướng tình dục, chứ không phải là bệnh. Xu hướng tình dục của mỗi con người được cấu tạo bởi 4 yếu tố. Một là yếu tố sinh học (con trai hay con gái), hai là bản chất (nam thích nữ và ngược lại), ba là vai trò (chinh phục, tán tỉnh), bốn là cảm xúc (khoái cảm khi quan hệ tình dục).

Chỉ cần một trong 4 yếu tố này thay đổi, thì người ta dễ rơi vào trường hợp đồng tính. Tuy nhiên, đồng tính là một chuyện, còn mại dâm đồng tính thì lại là chuyện khác.

Trở lại với các “chợ” mại dâm đồng tính, không chỉ ở đoạn đường Sở thú, Nguyễn Hữu Cảnh, đất làm ăn của mại dâm nam còn là những con đường quanh nhà máy bia Sài Gòn như Nguyễn Kim, Nguyễn Chí Thanh và gần đó là Lý Thường Kiệt, Hồng Bàng, thời gian hoạt động của họ thường là từ sau 21, 22h đến 1,2h sáng.

Cứ vài chục mét, lại có một hoặc hai, ba thanh niên đứng rải rác, mắt đảo như rang lạc mỗi khi nhìn thấy một chiếc xe gắn máy do… đàn ông cầm lái, đang đi bỗng dưng giảm tốc độ hoặc dừng lại. Lập tức, họ ùa ra : “Đi chơi không anh hai ?”.

K., tình nguyện viên hướng dẫn chúng tôi, cho biết : “Chợ tình lớn nhất của “dân gay” ở Sài Gòn là khu vực công viên Gia Định trên đường Hoàng Minh Giám, quận Phú Nhuận”. Tại đây, vào đêm Chủ nhật ngày 21/11, chúng tôi chứng kiến cả trăm “dân gay”, quần áo đủ màu đủ kiểu, bôi nước hoa thơm nhức mũi, nhộn nhịp chèo kéo người đi đường. K. nói tiếp : “Sang trọng hơn, còn có những điểm spa. Vào những nơi này thì hoàn toàn yên tâm” bởi lẽ sau khi mua xong chiếc vé mát-xa, khách có thể tự do “vui chơi” với người phục vụ – dĩ nhiên là nam giới – miễn là thỏa thuận xong giá cả.

2/- Cuối tuần vừa rồi, K. chủ động gọi điện thoại cho tôi. “Anh rảnh không ? Chiều sang nhà trọ chở em, em có chỗ cho anh đi chơi. Vui lắm”. Chỗ dân đồng tính thích đi chơi, nghĩa là chỗ chúng tôi đi… tác nghiệp.

Đúng hẹn, tôi sang khu nhà trọ của K. Dãy nhà trọ nằm gần đường Nguyễn Hữu Cảnh. K. diện khá bảnh, quần jeans xanh nước biển, áo thun màu hồng nhạt… Vừa nhìn thấy tôi, K. há hốc mồm bảo “Anh đi phỏng vấn hay sao mà ăn mặc như… công chức thế ?”.

Nói xong, K. kiên quyết bắt tôi phải thay đồ cấp tốc, cũng quần jeans, áo thun như K. “Vậy nó mới hợp thời”, K. cười. Tôi không hỏi K. rằng đi đâu, bởi áng chừng khi trời vẫn còn chưa tối hẳn, chắc chắn là đi đến một tiệm spa hay mát-xa nào đó dành cho dân đồng giới.

Tiệm mát-xa nằm trên con đường lớn ở quận 10, có cái tên chẳng ăn nhập gì với chuyện “mát xa” hay “mát gần” gì cả. K. dặn tôi rằng chốc nữa vào trong tiệm, tuyệt đối không được mang theo điện thoại di động và phải “mạnh dạn” lên cho giống dân đi tìm “bạn tình” thứ thiệt. Chứ không thì dễ rắc rối với mấy tay bảo vệ lắm.

Sau khi gửi xe, K. khoác vai tôi thân mật tiến vào phía bên trong tiệm mát-xa. Anh nhân viên phục vụ nhìn K. cười cầu tài : “Lâu quá mới thấy anh ghé chơi. Số 23 của anh có khách rồi, anh lựa số khác được không hay anh đợi ?”.

“Anh không quan trọng, lo cho ông anh của anh đi. Mới tập tành chơi, có đứa nào dễ thương chút không, cưng”, K. vừa nói vừa mở ví rút ra tờ 50 nghìn dúi vào tay anh nhân viên. “Có mà, anh đợi em chút”, gã cho tiền vào hộc tủ dưới bàn và nhanh chóng lục một ngăn tủ khác, chìa ra một cuốn catalo hình ảnh. “Anh lựa đi, toàn mấy em đẹp mà ngoan”, gã vừa đưa cho tôi vừa bảo.

Cầm cuốn catalo, tôi lùi ra ghế sa-lon dành cho khách để… lựa trai. K. tiến lại gần, nói nhỏ : “Ai vào đây cũng xài tên giả. Lát anh boa cho thằng làm cho anh 200 nghìn là được. Đừng boa hơn, phá giá của người ta. Mà anh có làm gì đâu, nên boa 100 cũng được”.

Tôi chọn một thanh niên nhìn đẹp như diễn viên Hàn Quốc sau khi đã phẫu thuật thẩm mỹ, số 17. “Có ngay, anh đợi một lát”, tay nhân viên phục vụ bảo. Tôi hỏi giá tiền cho mỗi tích-kê, gã gạt ngang, bảo : “Lát xong việc, anh trả một lần luôn”.

Cũng như những tiệm mát-xa khác, khu xông hơi khô và ướt ở nơi đây cũng nhộp nhịp nam giới. Có điều, ở mát-xa do nữ phục vụ chỉ toàn thấy thanh niên với ánh nhìn rất nam tính, còn ở đây, bất cứ ai nhìn chằm chằm vào cơ thể mình cũng khiến tôi sởn cả gai ốc.

Quấn độc một cái khăn tắm màu trắng đã cũ, xù lông lên người, tôi cùng K. bước vào phòng xông ướt. Ngồi quáng quàng một lúc, tôi bảo K.: “Hay anh lên phòng trước đây. Làm nhanh về nhanh. Đúng 30 phút nữa anh sẽ đợi em ngoài sa-lon”. K. đồng ý.

Ở phòng nghỉ, cậu thanh niên đưa nước và trái cây, nhìn tôi đầy ẩn ý xong lập tức… kéo ghế ngồi xà xuống ngay cạnh bên. “Anh mát-xa chân trước không. Mát-xa bằng dầu, kéo từ ngón chân lên đến hết đùi. Thoải mái lắm á. Anh thích boa nhiêu thì boa, em không có đòi đâu”, cậu gợi ý.

“Anh đang đợi số 17. Lát nữa anh muốn làm gì thì làm. Cưng làm cho người khác đi, nha”, tôi cố làm ra vẻ sành điệu. “Ứ, vậy thì thôi”, kèm theo tiếng nũng nịu là cái nguýt mắt rất dài.

Phục vụ gọi “Số 17 chờ khách ở phòng 15”. Tôi lò dò vào phòng, phòng cách biệt, nhỏ xíu. Có chiếc giường bé tẹo như băng ca được phủ lớp grap giường nhàu đỏ thẫm, ánh sáng vàng vọt từ cái đèn ngủ hắt xuống, tiếng nhạc dịu dịu…

Cậu phục vụ tôi cơ bắp săn chắc, rất nam tính. “Chào anh ! Em tên Thông. Quê ở Cần Thơ. Anh tên gì ? Đi chơi ở đây nhiều chưa ?” – cậu hỏi. Tôi ậm ừ vài câu, rồi bụp luôn : “Anh bận lắm, làm nhanh thôi, còn về nữa”.

Vài màn xoa bóp đầy tính chất… mời chào được thực hiện. “Anh nằm ngửa ra đi” – Thông bảo. “Hả ? Để làm gì ?”, tôi rất cảnh giác. “Thì để làm cho anh… thích”, Thông cười rất hỗn…

Hoảng quá, tôi nói đại : “Bạn anh bảo, em có tuyệt chiêu làm cho khỏe người, không có tuyệt chiêu làm cho… mệt người nên anh mới chọn em. Anh có vợ rồi, anh không thích bất cứ chuyện cơm phở chả nem gì khác”, tôi nói liên thanh.

Dứt lời, tôi chụp ngay cái phiếu đánh số thẻ giữ đồ và nhân viên phục vụ, điền nhanh vào phần “Khách thưởng thêm” 200 nghìn rồi… biến mất. Chắc hẳn, Thông đứng trong phòng nhìn theo với ánh mắt rất… ngơ ngác.

Ngồi ở ghế sa-lon đợi K., tay nhân viên tiếp tân hỏi : “Vui không anh ?”. “Ờ, vui vừa vừa”, tôi đáp. 5 phút sau, Thông đi ra, đưa phiếu phục vụ cho tiếp tân, vẫn nhìn tôi nửa như muốn hỏi nửa không. Vẫn đang sợ, tôi nhìn sang chỗ khác.

Phải rất lâu sau, K. xuất hiện. Đi với K. là cậu thanh niên đẹp trai cũng chẳng kém Thông là mấy. K. quay ngang người, hôn cậu ấy một cái đắm đuối, trước khi chia tay còn bẹo má quyến luyến thêm lần nữa. Hãi thế(!).

Tổng cộng cho buổi thực tế này của tôi là 2 tích-kê giá 240.000đ, tiền boa cho cả tôi và K. là 400.000đ. Tổng cộng, 640.000đ. K. có vẻ thỏa mãn lắm, nhìn tôi dò xét. Tôi nói khẽ : “Về thôi. Anh còn có việc bận. Nhanh, nhanh, nhanh !”.

3/- Ngồi cà phê với nhau, K. bảo rằng ở những quán mát-xa đồng giới như kiểu ấy đều có giá boa khá rõ ràng. Tùy chuyện chiều khách mà giá boa từ 100 đến 150.000đ đến 150.000đ, 200.000đ trở lên tùy theo khách thích hay không.

Còn nếu làm luôn chuyện Z tại phòng thì là 500.000đ. Thông thường, sau 20 giờ, các tiệm mát-xa hay spa dành cho dân đồng giới đều chật kín người. Khách có nhu cầu phải đợi hàng giờ liền mới tới lượt mình vào “mát cho… mệt người”. Và đa phần, các tiệm thư giãn này đều kèm theo chuyện kích dục cho khách hàng. Thậm chí, là làm luôn chuyện ấy ngay tại phòng mát-xa.

LẤY HOA HẬU

Bà Duyên buồn bực quá ! Có mỗi thằng con trai mà không chịu lấy vợ cho bà bế cháu nội. Nó cứ ủng oẳng thế nào ấy ! Giới thiệu con nào cũng chê. Ỷ làm lương cao mấy trăm ngàn một năm, nên cứ đòi lấy Hoa Hậu, chí ít cũng phải Á Hậu. Thôi thì đành chiều nó, cho về Việt Nam cưới vợ cho rồi. Thế là hai mẹ con lên đường về quê.

Ôi chao, không ngờ Việt Nam nhiều “Hậu” quá ! Nào Hoa Hậu Quận, Hậu Tỉnh, Hậu cả nước, Hậu Thành Phố, rồi Hậu Xí Nghiệp nữa. Cậu con trai của bà cứ hoa cả mắt lên. Em nào em nấy lại còn ngọt ngào như mía luộc ấy. Một điều “Dạ, thưa”, hai điều “vâng ạ !” làm hai mẹ con cứ rối rít không biết chọn Hậu nào. Cuối cùng cũng lựa được một Hậu Thành Phố, con nhà Công Giáo nữa.. Thế là nhất thiên hạ rồi !

Đám cưới tưng bừng làm bà Duyên nở mặt nở mày với họ hàng. Áo gấm mặc ba bốn cái, con dâu bà thay áo, bà cũng đổi tông, con dâu đội vương miện, bà cũng mũ Hoàng Hậu. Chu choa ! Bà con hai họ xầm xì “trai tài, gái sắc”.

Có mấy ông Cha làm lễ nữa. Hạnh phúc phải ba, bốn đời !

Thời gian qua. Bà Duyên đã bế được hai đứa cháu nội, mà bế một mình vì mẹ nó cứ đi về Sàigòn xoành xoạch. Bà lẩm bẩm :

– Quái ! Về làm gì mà về lắm thế ! Mới thăm mẹ lại thăm bố !

Cậu con trai bà thì cau có :

– Em ơi ! Sao em tiêu gì mà sang thế ? Lần nào cũng cả chục ngàn !

Cô con dâu chỉ “hứ” một cái rồi lẩm bẩm :

– Người gì mà bần chí tử ! Cho cha mẹ chứ cho ai ! Từ đầu năm tới giờ mới có hai chục ngàn !

Cậu con trai gầm lên :

– Mới có hai chục ngàn ! Bộ phải cả trăm ngàn một năm, cô mới cho là đủ chắc ?

Cô con dâu vùng vằng :

– Không cho thì thôi ! Mấy người tính sao thì tính ! Tôi cứ về !

Trời không chịu đất thì đất phải chịu trời ! Cậu con trai phải nghiến răng đưa thêm chục ngàn nữa cho cô vợ yêu quý về thăm nhà. Trong khi cô đi, cậu lén chuyển trương mục chung sang trương mục cá nhân, và lén tìm cách bán bớt một căn nhà đi, định đưa tiền cho mẹ cất.

Mới được chừng hai tuần, có điện thoại reo :

– Anh ơi! Gửi gấp về cho em ba chục ngàn nữa cho em sửa mộ ông bà !

– Cái gì ! Mới đưa cho em mấy tháng trước hơn một chục sửa mộ rồi, lại sửa nữa hả ? Bộ ông bà mới chết lần thứ hai hả ?

Giọng oanh vàng bỗng biến thành tiếng rít của diều hâu :

– Á à ! Dám nói hỗn láo thế à ? Đồ chết bầm, chết đâm, chết thúi !

– Ai chết thúi ! Có ông bà cô chết thúi ấy !

Cô Hoa Hậu ngoan đạo gầm lên :

– Đồ khốn nạn ! Chết cha mày đi ! Tao mà sang Mỹ, tao cho mày vào tù !

– Mày không cần sang ! Tao bay về bây giờ!

Thế là trên chuyến bay hoả tốc về Việt Nam hôm đó, có một anh chàng gầm gầm gừ gừ, mặt mũi đỏ phừng phừng, phóng xe Taxi về đến nhà vợ là hùng hùng hổ hổ :
– Mày đưa tiền cho thằng nào ? Con nào ?

Rồi “đốp”, “chát”.. nháng lửa. Có tiếng kêu thét lên : “Nó đánh chết tôi rồi!”

Như đã chờ sẵn đâu đó, vưà nghe tiếng đàn bà la lên, là hai anh Công An nhẩy vào nhanh như chớp.

– Anh Việt Kiều hành hung công dân hả ? Anh có quyền hạn gì mà đánh nguời ? Hả ? Làm biên bản!

– Ớ…Ớ… mấy ông… tôi đã đánh cái nào đâu ? Mới.. chỉ ném mấy món ly này thôi mà !

– Không nói lôi thôi ! Đánh nguời là tội hình sự ! Anh theo chúng tôi về Phuờng.

Anh chàng “chủ nhân” một “bi-di-nít” cỡ lớn ở Cali líu ríu theo mấy chiếc áo xanh vàng về Phuờng trong khi nguời bị “hành hung” vội phóng chiếc Dream cáo cạnh bay vào phòng khám bệnh cuả bác sĩ X.

Vài tuần sau, tại đất Mỹ, nguời chủ nhân trẻ tuổi ấy nhận đuợc thư tống đạt cuả Cảnh sát về tội hành hung vợ có thuơng tích, có chứng nhận cuả bác sĩ, cuả công an, cuả nhân chứng.. Ra toà, dù có luật sư cãi líu lo, anh vẫn phải ngồi tù một năm, trong khi đó, cô vợ trẻ đào bới xới lộn căn nhà tìm tiền, móc cho đến đồng cuối cùng trong “rê đít cà”, cuỗm luôn căn nhà, kéo mấy đưá con đi… Nguời trẻ đào hoa muốn lấy vợ Hoa Hậu đã trở thành anh “hôm lét”, hốc hác, mất dóp, thẫn thờ, đau cái bụng, tức cái đầu, giận cái thân, trở thành bệnh nhân tâm thần…

Vũ Thị Quế Phượng post

CHỒNG TÔI

Thực sự càng vào tuổi già chàng càng “ngớ ngẫn” và hay quên. Ngày xưa khi chàng còn trai trẻ thì có lẽ có “hạnh kiểm” hơn trong những ngày tháng muộn màng. Thưở ấy (dưới mắt chàng) tôi có một dáng dấp không đến nỗi tệ. Bây giờ chàng đã quên mất cô vợ ngày ấy; thay vào đó là những cái nhìn ngẩn, nhìn ngơ cho những cô gái chân dài bất tận, không liên hệ chi với chàng, mà còn khen rối rít “con nhỏ đó có cặp giò ngon dễ sợ !” hoặc “Cô ta có bộ ngực núi lửa”.

Đi ngoài đường thấy gái đẹp thì chàng quên bẳng là đang đi với vợ mà tưởng rằng tôi là thằng bạn nối khố của chàng, “ Trời ! Trời ! Ngó cái mông thiệt đã !” Có khi tôi đã thấy chàng nhìn chăm chăm mấy cô gái phô bày cặp ngực, khêu gợi, căng đầy nhựa sống; rồi chàng nhìn theo trong kính chiếu hậu tiếc ngẩn tiếc ngơ; tôi cũng đoán được chàng đang suy nghĩ gì !

Có phải ông cha ta đã nói : “Gìa thì phải nên nết”. Hình như đây chỉ là một giả thuyết ? “Cụ” nhà tôi bây giờ còn “tinh nghịch” hơn xưa. Cụ đã cùng với những cụ khác giấu giếm gởi cho nhau những tấm hình táo bạo, những khúc phim “đặc sắc” để chiêm ngưỡng, rồi cười đùa khoái trá như những cậu học sinh trung học ngỗ ngáo. Nếu bị phát giác thì cụ lại chối leo lẻo “No, I’m a good guy !” Mỗi lần có hình khỏa thân hấp dẫn hay phim “nghèo” là trong làng bằng hữu của chồng tôi thật nhộn nhịp, rộn ràng :

– Mày cho tao xin phim này đi. Mày upload lên megaupload thì rất thuận tiện vì tao có premium account với thằng này.

Ngay cả những anh thường hơi thẹn thùng trong chuyện đóng góp và tán dóc cũng trồi lên, “Thằng ……. trồi lên chỉ khi nào nó ngửi thấy mùi : dâm, vú…. Tôi còn nhớ khi cụ nhà tôi gởi tựa đề của cuốn sách 365 sex positions lên mail group của cụ thì gần như suốt một tuần các cụ đã tranh cãi và thảo luận sôi nổi về đề tài nầy còn hơn những bài luận văn chính trị cuối mùa văn hóa hồi các cụ còn mài đũng quần ở Đà lạt ! Chưa đủ, có cụ còn chôm nguyên cuốn sách trình làng với đầy đủ hình ảnh chi tiết. Có cụ còn muốn vớt vát cho cái lém lĩnh của mình bằng sự trấn an của khoa học : – Nói có sách, mách có chứng. Mỗi ngày chỉ cần 10 phút coi hình thiếu vải thì hạ huyết áp, tránh được bệnh tim. Bí quyết sống lâu đây rồi, mỗi ngày chỉ 10 phút thôi, không phải tin đồn bậy bạ mà có nghiên cứu đàng hoàng. Đã có gan coi hình tươi mát mà còn sợ “thượng mã phong !”

Đàn ông, theo y học chứng minh – đầu óc của họ lúc nào cũng đầy dẫy chuyện gió trăng và hơi hám đàn bà lúc nào cũng vương vấn trong những cuộc đối thoại. Không sai tí nào ! Khi chồng tôi dự định mua máy hình, anh hỏi loại máy hình gì tốt, đẹp và bền, thì ngay lập tức các đồng môn của anh xúm lại khuyên bảo :

– Nhu cầu của mỗi người khác nhau, vấn đề là mình phải biết nhu cầu của mình là gì thì mới chọn lựa được sản phẩm thích hợp. Có người thích em trắng, kẻ thích em đen, người chuộng da rám nắng, kẻ thích vú bự, người mê ăn quýt. Tùy theo khẩu vị mà chọn hàng. Nhưng nói gì thì nói họ vẫn thuộc làu câu ca dao tục ngữ gối đầu giường “Ta về ta tắm ao ta…” Rồi lại phụ đề thêm Việt Ngữ : Cái này là nói mấy em chân dài, nói phở thôi. Cơm nhà dù sao vẫn chắc bụng, no lâu. Phở dĩ nhiên, nấu vừa mất thời gian lại còn tốn kém nhưng anh nào cũng khoái “ăn vụng”. Điều nầy không phải không đáng sợ.

Trên bảo dưới không nghe.” Đây là điều đáng quan tâm nhất của các đấng mày râu khi họ đến tuổi về già. Tôi thấy đức lang quân của tôi thường nhận được những lời chia xẻ của bạn bè để làm thế nào mà “ trẻ mãi không già” Chưa đủ, họ còn truyền cho nhau những loại rượu, có khi luôn cả những thang thuốc truyền kỳ để cùng tìm hiểu bí quyết về huyền sử ái ân. Khi có dịp gặp nhau thì lại thì thầm, mách nước xem thử kết quả có ly kỳ như họ nghĩ hay không. Lạ lùng thay tôi chưa nghe anh nào thật sự thố lộ là những chung rượu thần kỳ và các liều thuốc nổi danh lịch sử đã làm cho họ cải lão hoàn đồng  Đức lang quân của tôi cũng đã dại khờ, liều mạng tu gần nửa chai rượu của một người bạn quý cho anh để đi tìm kết quả. Nhưng chàng đã quên mất rằng hai anh em, thằng lớn, thằng nhỏ, cùng một tuổi thì thuốc tiên, phép lạ cũng phải bó tay.

Chồng tôi có một đặc điểm là biết “vâng lời” vợ. Một phần là nhờ anh ở phương tây khá lâu nên không ít thì nhiều anh cũng có tiêm nhiễm về nếp sống văn minh nơi xứ người. Kỷ niệm ngày cưới, sinh nhật hoặc ngày của tình yêu mà quên là anh “lãnh nợ”. Để tránh khỏi mua quà tầm bậy anh thường cẩn thận hỏi trước (thà mất lòng trước được lòng sau !) , “Em thích qùa gì cho sinh nhật của em ?”. Tiền đâu anh mua hột xoàn, kim cương; tiền đâu anh mua xe hơi, nhà lầu hay những món quà đắt giá ! Nhưng dại gì mà nói, anh phải tự suy nghĩ để đem lại sự ngạc nhiên vui thích cho mình

– “Không cần đâu anh ! Em đâu thiếu gì !”

Ông chồng tôi thở phào nhẹ nhõm, cứ thế mà làm theo, chẳng quà cáp gì ráo. Tưởng vâng lời như thế thì được điểm tốt, nhưng chiến tranh lạnh đã xảy ra. Anh lại ngây thơ thăm hỏi, “Sao em lạnh lùng như băng giá ?”

Khi chiến tranh bùng nổ thì anh trả lời “ Em nói em không cần gì hết mà tại sao bây giờ không vui ! Em nói sao thì anh nghe vậy có gì mà hờn giận, trách móc………?.

Nếu cho rằng anh là một ông chồng “lý tưởng”- nghĩa là: đẹp trai, vạm vỡ, hào hoa, phong nhã, đa tình, lãng mạng thì có lẽ anh sẽ được chấm hạng dưới trung bình; cũng có thể gọi là hạng chót ! Nhưng anh là một người thật thà. Ngày xưa anh yêu tôi vì tôi có mái tóc thật dài, xõa ngang lưng, thơm mùi quyến rũ. Ngày hôm nay tôi càng cố gìn giữ bao nhiêu, thì hàng chục sợi tóc đáng thương cứ cuốn theo chiều gió mà bay mãi. Chải tóc cho tóc mượt thì chỉ thấy nền nhà phủ đầy những sợi tóc khô khan của tuổi đời. Anh bây giờ không còn vuốt tóc tôi như ngày xưa mà còn bảo: “ tóc em sao rụng quá cỡ vậy? Vài năm nữa không đội tóc giả thì cũng thành ni cô!Nghe mà nóng gà, muốn nổi tam bành lục tặc.

Một điểm đặc biệt và “đáng yêu” của chồng tôi là anh rất thẳng thắng phải nói rằng – “toạc móng heo”. Tôi có một cái tính là thích ăn mặt hơi hở hang, có lẽ cũng muốn níu kéo một tí gì trước khi xã hội xếp mình vào dĩ vãng. Nhưng khi mặc áo đầm, váy ngắn hoặc áo cổ rộng tròn phơi bày thì sẽ được anh thẳng thắn khuyên nhủ :

– “Em mặc như vậy có ngày trúng gió bất tử.”

Anh làm tôi cụt hứng-tưởng rằng ăn mặc mát mẻ sẽ làm anh gợi cảm và nhìn tôi như những đàn bà trẻ đẹp khác. Thiệt chán còn hơn ăn cơm nếp nát.

Về nghệ thuật, chồng tôi có một cái nhìn rất khác người. Khi đi mua sắm, tôi thường “mời” anh đi theo, trước thì để xách đồ, sau là làm “cố vấn thời trang”. Có lẽ là vì được nhờ nên anh đóng góp ý kiến rất nhiệt tình. Áo quần hơi có bông ba màu sắc thì anh bảo “sao không mua thêm vài cái lư hương lập miếu lên đồng cho đủ bộ”. Khi mua nịt da bản bự cho hợp thời trang thì anh đến bên tôi nói nhỏ “anh thấy tiệm kia bán nịt còn cho thêm cái khiên, cây kiếm và đôi sandal. Em mua để đóng phim Gladiators coi được lắm”. Còn mua quần nhiều túi thì anh chêm vào : “Được đó ! Mua cái quần này thì đi chợ khỏi cần trolley”. Tức muốn chết người.

Đủ thói hư tật xấu, mất nết thiếu hạnh kiểm nhưng tôi biết rằng anh chỉ vui rôm rả với bạn bè. Có lẽ nhờ vậy mà lúc nào tôi thấy anh và các bạn vẫn luôn luôn trẻ mãi. Dù sáu hay bảy bó, không là chuyện lớn. Ngày nào anh và các bạn còn nhìn được hình tươi mát; ngày nào mắt còn rõ để phân biệt được bầu, mướp cam, bưởi thì không thể gọi là già; ngày nào còn xách đồ được cho vợ, còn hơi để làm “cố vấn thời trang” là ngày đó còn hạnh phúc. Ra đường nhìn gái còn khen là đầu óc còn sáng suốt (khi nào nhìn đàn ông thành đàn bà thì tôi mới run).

Sự sống trên trái đất này sẽ không tồn tại nếu không có những người như chồng tôi và bạn bè của anh. (theo Dương Nguyệt Ánh)

Mỹ Nhàn post

Mua bao cao su

Một chàng trai trẻ bước vào hiệu thuốc và nói : “Cho tôi một cái bao cao su. Hôm nay tôi đi gặp bạn gái. À mà không, cho tôi 2 cái : nàng có em gái. Thôi, cho 3 cái luôn, mẹ cô ấy trông cũng rất xinh xắn”.

Mua xong, chàng đến nhà nàng. Cả gia đình mời chàng ngồi cùng mâm. Suốt bữa chàng không nói được lời nào, ngồi im thin thít, chẳng ăn uống được gì. Sau bữa ăn, nàng hỏi :

– Lúc ăn anh bị làm sao thế ? Anh không thích đồ ăn à ?

– Không, đồ ăn rất tuyệt… Nhưng anh không thể ngờ được bố em lại là người bán ở hiệu thuốc.

Lời khuyên khi vợ ngoại tình

Một người đàn ông hỏi bác sĩ : “Thưa bác sĩ, vợ tôi rất hay ngoại tình, nhưng lúc nào cũng vậy, mỗi khi tôi toan làm ầm lên thì cô ta lại nói : “Anh hãy uống một tách cà phê để bình tĩnh lại đã nào !”

– Tôi hiểu, nhưng ông cần tôi giúp gì mới được chứ ?

– À, tôi chỉ muốn hỏi, uống nhiều cà phê như thế có hại cho sức khoẻ lắm không ?

Bán trứng vì ngoại tình

Trong đám cưới vàng, chồng hỏi vợ : “Em yêu, mình đã chung sống với nhau ngần ấy năm, nhưng chưa bao giờ em cho anh xem cái gì ở trong chiếc hộp kia ?”.

Được vợ đồng ý, ông ta mở hộp ra. Trong đó có 3 quả trứng và 10.000 đôla.

– Cái gì thế này ?

– Mỗi lần ngoại tình em để vào hộp một quả trứng !

– Như vậy là sau từng ấy năm em chỉ ngoại tình có ba lần thôi sao ? Thôi cũng được, anh tha lỗi cho em. Thế còn tiền ?

– Thì cứ khi nào được chục quả, em lại mang ra chợ bán !

Chỗ chồng tôi sờ đêm qua

Ông chồng đi chơi khuya về quên tường nhà vừa mới sơn xong, nên để lại nhiều dấu tay trên vách. Sáng hôm sau, muốn sửa chữa, bà vợ cho gọi thợ sơn đến :

– Mời anh vào trong phòng này, tôi sẽ chỉ những chỗ mà chồng tôi sờ đêm qua cho anh xem !

Người thợ gãi tai, ngó quanh rồi ấp úng :

– Dạ ! Sợ ông nhà về bất thình lình…

Ăn thỊt 

Cha con bộ tộc ăn thịt người đi săn, đứa con trai bắt được 1 người ốm, ông cha nói :

– “Thả đi, ốm quá không có thịt !”

Ðứa con lại bắt được 1 người mập, ông bố nói :

– “Thả đi, mỡ nhiều ngán lắm !”.

Lát sau đứa con bắt được 1 cô gái đẹp, ông bố nói :

– “Ðem về nhà, tối nay làm thịt mẹ mày!”

Yên Nhàn post

Advertisements

KHÔNG CỦA RIÊNG AI (32)

NHỮNG «THÙNG BIA» BIẾT NÓI

DÂN NAM KỲ ĂN NHẬU

Những người không phải là người địa phương, tới Việt nam bất kỳ nơi nào, nhứt là tại những thành phố lớn như Sài gòn, Hà nội, Cần thơ, … đều có chung nhận xét, chắc chắn không sai, là dân việt nam thích ăn nhậu, lúc nào cũng có thể ăn nhậu được, mà số thanh niên thường chiếm đa số trong đó không thiếu bóng dáng phụ nữ .

Ăn nhậu, họ ngồi la liệt trên vỉa hè, bên lề đường . Những kẻ có tiền nhiều hơn thì vào trong hàng quán . Phần lớn, tức có tới 80 %, dân nhậu chọn la-de . Chai, hộp hoặc thùng năm mười lít . Uống hết bia, chai, hộp được chất đóng dưới gầm bàn hay bên cạnh chổ ngồi .

Sài gòn Nhậu

Vì dân nhậu chọn uống bia và uống mỗi người từ năm ba lít trở lên nên người ta có cảm tưởng thân thể của họ không khác gì “thùng bia” . Và khi nhậu, tức “rượu vào thì lời ra” nên họ biến thành những “thùng bia nói tiếng Việt”. Ở Việt Nam, người đi làm việc có tiền, ăn nhậu là phải. Mà cả người không đi làm vẫn ăn nhậu li bì từ sáng tới chiều mới là điều đáng lấy làm lạ. Nhưng ở Việt Nam, điều đó vẫn là bình thường. Ở Việt Nam ngày nay, mọi việc đều có thể trở thành bình thường một cách rất bình thường.

Người đi làm việc ăn nhậu sau lúc tan sở vào khoảng 5 giờ chiều. Họ không bao giờ chịu vể thẳng nhà, mà phải rẻ vào quán để ăn nhậu cho tới chín mười giờ mới chịu về. Họ bảo “đi làm ra mà về thẳng nhà là nhà quê, không có văn hóa”. Rời bàn nhậu càng chậm là người có văn hóa càng thâm hậu .

Ngày nay, có thêm một lóp người ăn nhậu theo một phong cách mới. Sang hơn, ngon lành hơn. Đó là những thanh niên làm cho hảng xưởng ngoại quốc, lương từ 1500 đô -la trở lên. Họ ăn mặc tươm tất, thắc cà-vạt, đôi khi mặc cả áo “vết “. Lẻ dĩ nhiên để bảo vệ thể diện của mình, họ vào nhà hàng sang trọng ăn nhậu. Hiện tượng mới này trở thành một trào lưu ăn nhậu mới ở Sài gòn thu hút không ít thanh niên có chút tiền chạy theo nhập cuộc.

Nhiều ngưòi nhận xét hiện tượng xã hội mới ở Việt Nam đều phải thừa nhận dân Sài Gòn lúc nào cũng đi trước để lãnh đạo dân Hà Nội ngàn năm văn vật về mặt ăn nhậu và nếp sống thời trang. Biết ăn nhậu là một thứ văn hóa thì dân Sài Gòn đúng là dân có văn hóa. Văn hóa ăn nhậu !

Còn dân sống trong thôn quê ? Cũng ăn nhậu tưng bừng. Họ cũng tới quán, tiệm vì ở Việt Nam, khắp hang cùn ngỏ hẻm nào cũng mộc lên những quán nhậu. Vài cái bàn nhỏ, vài cái ghế đẩu thắp bày ra trước nhà, đầu ngỏ, là có thể thành quán nhậu. Không có la-de, bà con ta trở về với quốc hồn quốc túy là rượu nếp trắng hoặc nếp than. Rượu nếp trắng được nhiều người ưa. Mà phải rượu do người địa phương rành nghề nấu. Một lít nếp chỉ lấy 4 xị rượu mà thôi.

Rượu công-xi, tức rượu kỷ nghệ, dân nhậu không thèm vì dở. Vừa lạt, vừa không có mùi thơm như rượu cất bằng nếp. Thứ nếp tốt được chọn lọc kỷ. Hột dài, màu trắng đục màu sửa, không có lẩn hột trắng trong vì đó là nếp có lộn gạo. Nếp xấu, không dùng.

Ngày xưa, rượu nếp do dân nhà quê nấu và bán bị nhà cầm quyền Tây cấm vì quyền lợi kinh tế của họ. Nên rượu nếp có tên “rượu đế” vì phải đem dấu trong bụi đế khi “tào cáo” (lính quan thuế tây) đi khám xét bắt phạt. Rượu đế còn gọi là rượu “quốc lủi”. Người bán rượu ôm những cái bong bóng đầy rượu (bong bóng heo phơi khô đựng rượu) chạy lủi đại vào bụi tran, bụi đế để trốn lính quan thuế Tây ruồng bắt, giống như những con quốc trông thấy người ta thì nhanh nhẹn lủi trốn vào bụi rậm.

Rượu nếp còn được dân nhậu gọi bằng những lời rất gợi cảm “nước mắt quê hương”. Người ta không uống rượu mà uống nước mắt quê hương nên nếu có say là vì quê hương rơi nước mắt làm cho lòng người nghiêng ngã, đảo điên mà thôi .

Cũng nói về ăn nhậu, có một giới người Việt Nam có tiền không uống Bia vì cho quá lạt, đúng hơn họ không thích vì cho đó là thứ của giới bình dân. Họ chuộng Cognac của Tây. Mà phải thứ VSOP (Verser Sans Oublier Personne = Rót đừng quên ai hết), hay XO, tức thứ lâu năm. Nhưng lại uống lúc ăn. Uống nguyên chất như vậy hay pha với nước suối Perrier. Nghệ thuật pha rượu Whiskhy hay Cognac ở Sài gòn ngày xưa – vì trời nóng nên người ta vừa uống rượu vừa giải khát – là lấy cái muổng như muổng cà-phê có cáng dài, cho vào ly, rót rượu ngập qua phần bầu dục (phần chứa đựng) của muổng, cho vào ly chỉ một cục nước đá, chờ vài phút cho rượu thắm vào cục nước đá rồi mới từ từ rót Perrier vào ly. Cách uống này gọi là “consommation ” .

Ở tại xứ Tây, vào Bar, gọi consommation, Tây không biết. Giải nghĩa cách làm như vậy, Tây cũng lắc đầu tuy chính Tây bày ra ở Sài gòn ngày trước. Dân “đại gia” hay dân làm ăn đải khách ở Việt Nam ngày nay mua vài chai Cognac, giá mỗi chai từ 200 đô-la, cho một bửa ăn là chuyện bình thường. Họ uống ừng ực như nông dân uống nước lạnh lúc ngồi nghỉ mệt trên bờ ruộng. Trong lúc đó, người Pháp, giới có tiền và ít nhiều phong cách thượng lưu, chỉ uống Cognac sau bửa ăn. Họ ngồi trong chiếc ghế bành, bên cạnh lò sưởi, tay cầm chiếc ly lớn bầu dục với 1/4 hay 1/5 rượu trong ly, tay kia cầm điếu xi-gà. Họ hớp từng ngụm nhỏ rượu để cho rượu loan tảng ra trong miệng, từ từ đưa vào cổ, lắng nghe tiếng rượu và hơi rượu loang nhẹ vào trong . Đưa điếu xi-gà lên, hít nhẹ một hơi ..

Người Việt ta ở hải ngoại ngày nay vẫn còn giữ tập quán uống Cognac thứ ngon, đắc tiền (VSOP, XO) như cách uống ừng ực. Có lẽ như vậy mới đả. Hay vì xứ chiến tranh triền miên mà bà con ta phải tranh thủ uống như vậy ? Vì uống chậm rải, sợ chết không kịp uống mà thành thói quen ?

Trong “tứ đổ tường”, dân nhậu vẫn còn là bạn tốt chơi được. Họ có một trái cốc, một trái me hay một trái khế, một xị rượu, vội tìm bạn tới ngồi với nhau, cùng chia sẻ cay đắng với nhau. Còn bạn hút, bạn cờ bạc, thì chỉ muốn chơi riêng.

“Bia” : phát minh vĩ đại nhứt của nhơn loại

Nói về “Bia”, phải nói Bia của Đức. Nhưng người Việt Nam trước đây chỉ biết có Tây (Pháp) là dân uống Bia nhiều. Như thấy một chiếc xe uống xăng nhiều người ta bảo xe gì mà uống xăng giống như “Tây uống la-de”. Sự so sánh này không đúng.

Pháp có làm “Bia” tại Pháp và cả ở Việt Nam  Trước đây, Việt nam có hảng BGI sản xuất Bia Con Cọp, Larue, với vài loại như Bia 33 (1/3 lít) . Bia chai lớn, dân nhậu gọi là “Bia 35” . Khi uống chai lớn, dân nhậu thường đòi chai có in hình trái thơm vì cho đó là loại đặc biệt, ngon hơn. Thật ra, trái thơm chỉ do một khuyết điểm kỷ thuật ngoài ý muốn, không thể cải thiện, được marketing biến thành một thứ hàng hiếm, phẩm chất cao. Ngày nay ở Việt Nam có lối 12 hiệu Bia nội địa. Bia nhập cảng khá nhiều chiếm một phần quan trọng của thị trường.

Bia có mặt ở khắp nơi trên thế giới trở thành thức uống giải khác ngày nay không thể thiếu vắng được trong nhiều sanh hoạt xã hội . Mỗi nước sản xuất Bia mang nhản hiệu riêng như đại diện cho nước mình .

Có dư luận cho rằng Huê kỳ là nơi có nhiều loại Bia hơn hết. Có hơn trăm loại Bia đang lưu hành trên thị trường. Về khả năng uống Bia, Huê kỳ đứng thứ 12, sau Cộng hòa Slovénie ở Âu châu và Venezuela ở Nam Mỹ. Hai nước đứng đầu về khối lượng Bia uống hàng năm là Cộng hòa Tiệp và Ái-nhỉ-lan. Nhưng dân Đức ở Tiểu bang Bavière không chịu thua. Họ vẫn giữ địa vị siêu đẳng : mỗi người tiêu thụ 161 lít Bia / năm.

Xin nói lại cho rõ ở Đức không phải có hằng trăm thứ Bia như ở Huê kỳ mà có hằng vạn thứ Bia nếu tính luôn những nhà sản xuất nhỏ địa phương.

Bia có mặt từ thời Trung cổ xa xưa. Từ nhiều thế kỷ qua, Bia là thành phần của nền văn hóa nước Đức. Và ở Đức, có hằng hà sa số “Lâu đài Bia”, “Vườn Bia”, nhà máy làm Bia, “Hầm Bia”, “Nhà Bia”, “Lều trại Bia”. Những nơi này sẽ được giới thiệu với 7 triệu khách thập phương nhơn dịp Lễ Hội Bia tổ chức hàng năm vào cuối tuần thứ ba tháng 9 kéo dài qua đầu tháng 10. Trong vòng 17 ngày.

Lễ Hội Bia ở Munich (Munhchen) 2012

Lễ hội Bia đầu tiên ra đời vào tháng 10 năm 1810. Đó là Lễ Hội đại chúng nhứt của người Đức. Lễ Hội tiêu thụ hằng năm 30 % khối lượng Bia hiệu lớn của Munich sản xuất .

Năm nay 2012, Lễ Hội Bia khai diển với lễ diển hành kèn trống ngày 22 tháng 9, kéo dài tới ngày mùng 7 tháng 10 bế mạc .

Oktoberfest Munich

Lễ Hội Bia được gọi là Oktoberfest theo tiếng Đức, nhưng trên thực tế lại bắt đầu vào cuối tháng 9 và kết thúc vào tuần lễ đầu của tháng 10 .

Trong hai ngày đầu khai mạc, có lối 8000 dân Bavière diển hành với y phục cổ truyền, nhạc cụ và xe cộ của thời xưa được trang trí lộng lẫy. Trên 7 km diển hành, du khách có dịp nhìn lại những bộ y phục cổ truyền, những đồng phục xưa, những mô hình nhà sản xuất Bia thủ công của Munich,… Những biểu ngữ, vòng hoa nhắc lại mùa gặt, những nông cụ cổ thời,… Tất cả làm cho Lễ Hội vô cùng long trọng và vui nhộn khác thường .

Người muốn tham dự Lễ Bia phải lo giữ chổ từ năm trước vì khách sạn, lều trại đều không còn chổ vào ngày mở hội. Năm nay, số người tham dự, đông nhứt là dân ngoại quốc, phải lên tới 7 triệu người .

Vài điều ở Lễ Hội Bia hằng năm làm cho người mới tới lần đầu phải chú ý. Trước tiên, các cô đầm đức chiêu đải ăn mặc y phục màu sắc địa phương xưa, hai tay cầm 10 ly bia lớn (tiếng đức là maas), mỗi ly đựng 1 lít bia đem tới hầu khách. Dân uống bia đúng điệu, tức đúng theo văn hóa truyền thống uống bia, phải uống một mạch cạn ly bia mới được phép để ly bia xuống bàn. Dỉ nhiên ở đây có bán đồ nhấm cho khách. Đức là xứ nổi tiếng thịt nguội .

Nhưng điều làm cho người mới tới phải bắt gặp ngay không phải mấy cô đầm chiêu đải, không phải cách uống bia đúng điệu kia mà là cái mùi tỏa lên ngộp trời khi vừa nghe tiếng ồn ào của Lễ Hội, chớ chưa kịp thấy người. Tức còn cách xa hằng trăm thước. Đó là thứ mùi khó phân biệt : mùi bia hay mùi bia chảy ra giữa hai chân khách uống bia ? Vì người tới đây, chiếm được chỗ ngồi, không muốn đứng dậy sợ bị mất chỗ nên cứ ngồi đó uống và đi tiểu luôn ngay tại chỗ. Dưới chân họ, nước tràn ngập lai láng. Họ ngồi như vậy cho tới khi gục xuống bàn hay ngã lăn ra đất. Như vậy mới thật sự đúng mức dân chơi .

Nhắc lại chút chuyện xưa

Lễ Hội Bia xuất hiện lần đầu tiên vào ngày 17 tháng 10 năm 1810 nhơn lễ cưới của Hoàng tử Louis, sau này là vua Louis 1, với Công chúa Thérèse Charlotte Louise de Saxe-Hildburghausen. Lúc đầu, lễ bia chỉ là lễ mừng một cuộc đua ngựa. Năm sau, tổ chức lại vì sự thành công của năm trước. Nơi tổ chức lễ Bia ngày xưa xa thành phố, nay tọa lạc tại trung tâm thành phố, được đặt tên “Theresienwiese”, rút ngắn lại là “Wiesn” để tưởng nhớ Công chúa Thérèse Charlotte .

Ngay ở lễ đầu tiên cũng có gian hàng rượu để mọi người uống rượu. Theo thời gian, Lễ Hội trở thành quen thuộc cho cả thế giới. Lễ Hội Bia năm nay là lần thứ 200. Suốt chiều dài lịch sử Hội Bia, có 24 năm không tổ chức lễ vì bịnh thiên thời hay chiến tranh.

Lễ Hội Bia do Thành phố Munich và Cục Du lịch tổ chức. Hằng năm, có cả ngàn đơn xin của các thành phố khác mở hội tương tợ nhưng không có mấy đơn xin được Chánh quyền thỏa mản.

Khi không khí lễ hội căng tới cao điểm, các cô đầm chiêu đải bèn nhảy lên bàn, vén váy cao lên và nhảy múa trước khách vổ tay rầm rộ. Nhiều người đã đả quá muốn cùng nhảy với các cô đầm, chưa kịp đứng lên, đã ngã quị xuống đất.

Tới 22 giờ 30, các vòi bia đóng lại. Ban tổ chức xịt nước rửa để sáng hôm sau, 10 giờ mở cửa lại.

Bà con ai muốn tham dự Lễ Hội Bia năm tới, Cỏ May sẽ giới thiệu chỗ ở miển phí, lối mươi chỗ, ngay tại trung tâm Munich. Hẹn gặp nhau Oktoberfest năm tới.(theo Nguyễn thị Cỏ May)

CÂY 3 GỐC 1 NGỌN

BIẾT ‘GIẢI HẠN’

Người dân ở tỉnh Đồng Nai tin rằng đó là cây thiêng của núi, ai có hạn xui thì đến làm lễ cúng bái, nhờ cây giải hạn. Xung quanh “cây thiêng” còn có những câu chuyện đồn thổi kỳ bí.

Cây 3 gốc 1 ngọn kì dị

Núi Chứa Chan như hòn non bộ khổng lồ nằm giữa một vùng đồng bằng ở cuối đất huyện Xuân Lộc, Đồng Nai. Trời phú cho ngọn núi này cảnh quan tuyệt đẹp. Tên núi mang trong mình khá nhiều giai thoại. Có người bảo Chứa Chan là tên nói ngược “chán chưa”, tức ý nói núi cao, cảnh đẹp khiến người lên thưởng ngoạn mãi không muốn về. Vậy nên cái tên “Chứa Chan” đọc lái ngược lại như nhắc nhở khách thưởng ngoạn rằng đã chán chưa, mau xuống núi.

Cũng có người lý giải theo hướng khác là một câu chuyện khá cảm động của tình yêu đôi trai gái. Núi xưa có tên Gia Lào. Ở một làng nọ dưới chân núi, có một đôi trai gái yêu nhau, do khác địa vị nên bị cha mẹ ngăn cách, cả hai liền bỏ lên ngọn núi, sống một cuộc sống chỉ có tình yêu với thiên nhiên trời đất. Tình yêu viên mãn đó không còn bị ngăn cách. Từ đó dân gian gọi núi Gia Lào với một cái tên khác là núi Chứa Chan.

Dù là giai thoại gì, nhưng chung quy lại có ngụ ý chỉ cảnh đẹp. Cho đến nay núi vẫn mang trong mình cảnh đẹp chứa chan lòng người mà tạo hóa ban tặng. Núi như một điểm son tô lên bức tranh thủy mặc của đồng bằng vùng Xuân Lộc (Đồng Nai) ngày nay.

Đường lên đỉnh núi uốn lượn. Một điều khá thú vị mà ít nơi nào có, là đường lên núi thông suốt qua những căn nhà, được bố trí dằng dặc nối tiếp nhau. Từ chân núi lên đỉnh, du khách có thể dừng chân bất cứ đâu, nắng không tới mặt, mưa không tới đầu.

Người ta kể, trước kia, núi Chứa Chan là chốn lam sơn, chướng khí, chỉ có cây rừng và muôn thú, cây cổ thụ ken nhau mọc kín. Tuy nhiên, qua thời gian vô chủ, dân nghèo đói đã lên núi đốn sạch cây, duy chỉ để lại hai cây đặc biệt, có hình thù kỳ quái. Một là cây 1 gốc 3 ngọn, còn một cây khác ngược lại là 1 ngọn 3 gốc.

Những câu chuyện rất ma mị về 2 cây được người ta kể lại như sau : Thấy cây có hình thù khác lạ, phần lớn không ai dám đốn hạ. Một bữa nọ có một tên lâm tặc đến, tỏ thái độ khinh thị, hắn có ý định “thịt” cây. Không ngờ khi bổ lưỡi búa vào thân cây thì thì búa dội ra, ít lâu sau hắn bị tai nạn mà chết ?! Người ta cho rằng, hai cây kì dị là nơi trú ngụ của thần núi, xâm phạm cây là xâm phạm thần núi.

Từ đó người dân ùn ùn kéo đến khấn vái, thắp hương suốt ngày đêm. Lửa nóng, khói nhang ngày qua ngày như hun, cây 3 ngọn 1 gốc lăn ra chết khô, chỉ còn cây 3 gốc 1 ngọn sống đến tận ngày nay. Nếu người dân cho rằng núi Chứa Chan có chùa Gia Lào linh thiêng, thì cũng có cây “thiêng” 3 gốc 1 ngọn ở lưng chừng núi.

Khi “mộc thần” giải hạn

Chúng tôi vượt hàng ngàn bậc thang, mới đến nơi “ngự” của cây “thiêng”. Gốc cây kì dị hiện ra trước mắt như thần trụ trời. Đúng như lời đồn cây có “3 trụ nâng 1 ngọn” vững chãi.

Điều lạ là 3 “chi” thẳng tắp, lớn gần như đều nhau, phần ngọn trên cùng tỏa tán lá sum suê. Bên dưới gốc người ta xây hẳn 1 khuôn bao bọc hết cả 3 gốc cây để ngăn ai đó bén mảng đến gốc.

Trên cái khuôn đó là vô số dấu sáp nến, người ta đến làm lễ, bị đốt chảy nhèm nhẹp tạo thành tầng tầng lớp lớp. Dưới nền đất là vô số nhang, vàng, lược, gương soi, gạo, những loại kẹo cúng nhuộm phẩm xanh, đỏ, tím vàng trông khá diêm dúa.Vòng ngoài nữa là Miếu Sơn Thần, cùng mấy cái miếu nhỏ, và khu vực hóa (đốt) đồ cúng vẫn còn khói hương nghi ngút.

Đang lân la chiêm bái cây, thì một chị trạc tuổi 32, trên tay cầm chiếc giỏ đầy lễ vật (giấy, vàng mã, nhang, nến) đến dò hỏi, mồi chài làm lễ giải hạn, giải bệnh gì đó. Chị ta cho biết, cây này có khả năng đuổi vận hạn cho con người. Nếu ai có bệnh tật, vận nghiệp gì xấu, cứ đến làm một lễ cúng “gửi” vào cây “thần” này là tất cả sẽ đâu vào đó.

Chị này còn dẫn chứng rằng, người nào bệnh hiểm nghèo, đều tìm đến cây, mua lễ vật như chiếc lược “chải” bệnh, gương “soi” tà ma, đèn cầy “gọi hồn” và hương khói đầy đủ thì tất chóng khỏi bệnh.

Không biết cây có thể trừ được bệnh tật hay không, thế nhưng đồ cúng người ta phải hóa hết lớp này đến lớp khác, gương lược đốt không biết bao nhiêu mà kể.

Vào những ngày lễ lạt người ta ken đặc gốc cây, chen nhau lạy lục, khấn vái như đi biểu tình. Chính quyền sở tại cũng tuyên truyền rất nhiều, thế nhưng lòng tin của những người có “vận hạn” không hề giảm. Ấy vậy mới có chuyện một ông già lụ khụ quê mãi tận Rạch Gía (Kiên Giang) mắc bệnh ung thư, chân ướt chân ráo leo ngàn bậc thang tìm lên cây để được giải bệnh. Lại có một giám đốc công ty làm ăn không may mắn, đứng trên bờ vực phá sản, tìm đến cây nhờ “giải hạn”. Có nhiều người không tin nên cho rằng người ta dựng chuyện lừa bịp, quyết không đến lần thứ 2, người tin thì quay  lại hậu tạ như tìm thấy “bảo bối” tinh thần.

Cứ như thế, câu chuyện về cây truyền từ người này qua người khác, năm này qua năm khác, bất tận như không có hồi kết. Một cây bình thường bỗng có khả năng thần thánh, khiến người người phải cung phụng.

Giang hồ dừng bước nhờ cây thiêng ?

Người dân trên núi Chứa Chan vẫn kể câu chuyện đậm chất huyền hoặc nhưng có thật. Chuyện kể rằng, ông là Tư Thuận (Nguyễn Văn Thuận (SN 1944, ngụ ở Sài Gòn). Ông là đại ca của tay giang hồ Điền Khắc Kim. Trong khi đệ tử vào tù ra tội, gây những tội ác đi vào huyền thoại, thì Tư Thuận biết dừng bước, quay đầu đúng lúc.

Năm 1982, Tư Thuận được thoát khỏi kiếp gông cùm sau những tháng ngày ngồi gỡ lịch ở khám Chí Hòa. Ông ta sực tỉnh tìm về viếng chùa Gia Lào trên núi Chứa Chan. Trên đường đi gặp cây thiêng 3 gốc 1 ngọn, ông thấy hình thù kì lạ của cây, lại ngự nơi thế núi không thể đẹp hơn, Tư Thuận khấn vái nguyện cầu. Như duyên đặng, không hiểu sao một thời gian ông tự cảm hóa và quyết đoạn tuyệt quá khứ tội lỗi.

Tư Thuận xuống núi cải tên, ăn chay, niệm Phật, mặc áo lam, làm việc thiện, quyết định ở tại chân núi, ngay đường lên chùa Gia Lào. Ngày đó dân cư thưa thớt, rừng núi hoang vu, chỉ có Tư Thuận là người dám lên xuống thường xuyên để thăm cây. Thấy vậy, người dân cắt cử ông trông coi cái cây lạ, để không cho ai xâm phạm.

Cây “thiêng” cùng cuộc đời giang hồ hoàn lương của Tư Thuận trở thành một câu chuyện duyên nợ đi vào huyền thoại. Chúng tôi tìm đến nhà Tư Thuận, ngay dưới chân núi, thật buồn, người nhà cho biết ông đã về cõi thiên thu. Nhưng họ kể, phần hoàn lương của đoạn cuối cuộc đời của Tư Thuận gắn liền với bao kỷ niệm cùng núi chứa chan, cùng cây thiêng 3 gốc 1 ngọn.(theo Nguyên Dương – Giang Uyên – Infonet)

HUYỆN CÓ HÀNG NGHÌN

NGƯỜI MÙ VÌ… CỦ HÀNH

Một người bình thường khi nhìn thấy dăm bảy người mù quờ quạng, lầm lũi trong bóng đêm số phận đã choáng, nói chi cái cảnh trực diện với hàng chục, hàng trăm con người không nhìn thấy ánh sáng ngồi xếp lớp với bao âu lo, thảm sầu hằn rõ trên từng khuôn mặt nhợt nhạt, khắc khổ.

Đa phần họ không phải mù bẩm sinh.

Họ đã từng là người bình thường, từng sáng mắt nhưng vì số phận, vì cảnh nghèo, vì sự thiếu hiểu biết mà tự đẩy mình vào bóng đen vĩnh viễn. Gọi Vĩnh Châu là “vương quốc bóng tối”, hẳn rằng điều ấy sẽ khiến không ít cư dân địa phương, nhất là các vị lãnh đạo phật lòng. Nhưng một huyện (nay là thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng) mà có hơn 1.000 người bị mù, dân tình gọi “vương quốc” hẳn cũng có cái lý của họ !

Những tâm sự đắng lòng…

Tìm về thủ phủ hành tím Vĩnh Châu, mới biết được rằng nghề trồng hành đã mang đến cho vùng đất này những con số ấn tượng :

Vĩnh Châu có hơn 5.000 ha hành, hơn 5.000 hộ trồng hành và khoảng 2.000 hộ chuyên sinh sống nhờ vào việc làm thuê cho các chủ trang trại hành vào vụ. Mỗi năm Vĩnh Châu cung ứng trên dưới 50.000 tấn hành cho thị trường trong nước và xuất khẩu sang nhiều quốc gia, chủ yếu Indonesia và Nhật.

Với những con số ấn tượng ấy, Vĩnh Châu được xem là “thủ phủ” hành tím của không chỉ phạm vi đồng bằng sông Cửu Long mà còn là của cả nước.

Vì là “vương quốc hành” nên khi cận tết, khi vào mùa hành, đến Vĩnh Châu sẽ thấy làng làng trồng hành, nhà nhà trồng hành. Không khí tươi vui, tất bật.

Vĩnh Châu là địa phương chiếm kỷ lục cả nước về số lượng người mù Cây hành đã mang đến cuộc sống cơm áo cho người dân Vĩnh Châu, giúp nhiều người làm giàu, mang lại công ăn việc làm cho biết bao người nghèo khó, điều ấy ai cũng rõ. Nhưng bên cạnh niềm vui, cây hành cũng để lại rất nhiều nỗi buồn khi mang đến sóng gió cho nhiều gia đình, tước đi của không ít hộ dân thứ được gọi là hạnh phúc và ánh sáng.

Trong bóng tối dày đặc, như nhiều người mù khác ở ấp Cà Lăng A Biển (xã Vĩnh Châu, nay là phường 2, thị xã Vĩnh Châu), bà Thạch Thị Bé, 54 tuổi, thổ lộ rằng ánh sáng mà bà và nhiều người khác bị cây hành tước đoạt là ánh sáng của cuộc đời, ánh sáng của đôi mắt.

Xuyên suốt Vĩnh Châu, nhói lòng khi bắt gặp rất nhiều người sống trong cảnh mù lòa như bà Bé, nhiều người hãy còn rất trẻ, chưa đến 30 tuổi đã trở thành phế nhân.

Cái sự nhói lòng ấy càng trĩu nặng khi chúng tôi theo chân nhóm thiện nguyện Vô Thường đến từ Sài Gòn ghé Tịnh xá Ngọc Châu Như ở xã Vĩnh Châu do ni sư Như Huệ làm trụ trì. Trong khuôn viên chùa có hàng trăm người mù đang chờ đợi đoàn từ thiện phát tặng quà. Họ gồm đủ độ tuổi, họ ngồi xếp lớp, quờ quạng với nỗi đau số phận chẳng biết đến bao giờ mới chấm dứt.

Bước vào khuôn viên chốn thiền của vị nữ tu dành cả đời tuyên chiến với bóng tối, luôn nặng lòng với những phận người mù, thấy dưới tán cây bồ đề có cô gái gương mặt rất sáng, đeo kính đen ngồi thẫn thờ, hỏi chuyện mới biết đó là Châu Thị The, 27 tuổi, bị mù từ 5 năm trước.

The cho biết cô gắn bó với nghề trồng hành từ năm 15 tuổi và đã nhiều lần cay xốn mắt do tác hại của phấn hành :

“Đến năm 20 tuổi thì “em đau nặng, chữa hoài hổng hết, lúc được một Mạnh Thường Quân biết chuyện đưa lên Sài Gòn chữa trị thì bác sĩ lắc đầu báo hung tin “sẹo giác mạc, vô phương cứu chữa” – The kể lại sự việc trong đau đớn.

Có cảnh sống nào thê thảm hơn cái cảnh một người phải vùi cuộc đời tươi trẻ trong bóng đêm dằng dặc hết năm này sang năm khác, cho đến hết cuộc đời tuổi trẻ, đến lúc nhắm mắt xuôi tay.

Hỏi The ước mơ điều gì nhất, cô gái nhìn đời qua bóng tối, nở nụ cười buồn : “Em chỉ ước mình được nhìn thấy chính mình, thế thôi anh”. Người ta ước mong được nhà cao cửa rộng, được thăng quan tiến chức, riêng The chỉ mong ước nhỏ nhoi như thế.

Ở Vĩnh Châu, câu chuyện thân phận đời người buồn như The, sầu thảm như The, đau đớn như The… kể sao cho hết.

Theo tâm sự của ông Lý Diên, từ một số thông tin, ông được biết toàn huyện có trên dưới 1.000 người mù, trong đó có hơn 300 người bị mù vĩnh viễn. “Có gia đình 5 người nhưng chỉ có 3 con mắt, mà trong 3 con mắt đó có con chỉ thấy lờ mờ, chẳng biết mai này có mù hẳn”

Đề cập đâu là “hung thủ”

Đích thực gây nên thảm cảnh khiến hàng bao con người lâm cảnh mù lòa ở Vĩnh Châu, không ít người khẳng định đó chính là phấn hành. Phấn hành xộc vào mắt, gây các chứng tổn thương về mắt khiến biết bao chàng trai cô gái tràn đầy sức sống trở thành phế nhân. Và biết bao đứa trẻ đang tuổi ăn tuổi lớn bỗng dưng chịu cảnh đắng cay, phía trước là bầu trời tăm tối.

Ni sư Như Huệ năm nay ngoài 60 tuổi. Sinh ra và lớn lên trên vùng đất Vĩnh Châu nên hơn ai hết bà hiểu rất rõ cội nguồn dẫn đến vấn nạn mù ở địa phương mình. Ni sư khẳng định nếu đổ lỗi mọi sự do phấn hành là không chuẩn xác : “Mùa thu hoạch hành là thời điểm mà Vĩnh Châu có nhiều người bị các chứng bệnh về mắt nhất. Sẽ chẳng có quá nhiều người bị mù lòa nếu như khi bị phấn hành, hóa chất xộc vào mắt được chữa trị kịp thời, đúng cách” – ni sư, bộc bạch : “Do ít kiến thức, ý thức kém mà bà con làm khổ cho chính mình và người thân. Mắt ngứa, mắt đau, vậy là họ tự chữa. Họ tìm hái một số loại cây lá theo mách bảo truyền miệng, giã nát rồi dùng chiếc khăn mà mình hay quấn đầu, lau mồ hôi vắt lên mắt, để lá cây thuốc dập nhỏ lên trên. Đang bị tổn thương, nay bị đắp thuốc với chiếc khăn mất vệ sinh nên mắt chóng lành đâu không thấy, chỉ thấy biến chứng càng thêm nguy kịch và hậu quả dẫn đến cảnh mù”.

Khi vào phấn hành, họ chẳng dùng bất kỳ biện pháp phòng tránh nào. Hành được vào phấn rồi, vậy là người ta chất đầy trong nhà, cùng ăn cùng ở với hóa chất độc hại. (Theo An Ninh Thế Giới)

Yên Huỳnh post

Nhỏ quá

Một bà vợ đến văn phòng bác sĩ và than phiền rằng ông chồng hay nói lảm nhảm trong giấc ngủ. Bác sĩ bảo :

– Nếu vì lý do này thì tôi có thể cho thuốc uống hầu giúp ông nhà không nói nữa trong mơ !

– Ồ không ! Tôi chỉ muốn bác sĩ kê cho tôi loại thuốc nào khiến cho chồng tôi nói rõ hơn một chút !

Con rể tương lai

Bố vợ hỏi con rể tương lai :

– Anh làm nghề gì ?

– Dạ thưa bác, cháu hành nghề bác sĩ.

– Tốt quá, nói dại miệng chứ trong nhà có ai ốm đau gì, mong anh giúp đở. Vậy anh là bác sĩ ngành gì, trị nội khoa hay ngoại khoa ?

– Dạ, thưa bác, cháu làm trong phòng xác, chuyên khám nghiệm tử thi.

– !!!

Chân dài, chân ngắn

Hai cô gái cùng nộp đơn dự thi làm thư ký. Một cô mập, chân ngắn còn cô kia thon thả, chân dài. Khi được mời vào vấn đáp, cô mập trả lời trôi chảy tất cả mọi câu hỏi còn cô kia ấp úng, trả lời câu được, câu không và không đúng câu nào.

Tuần sau, bảng niêm yết danh sách, và cô chân dài được tuyển. Cô mập rất thắc mắc nên vào phòng nhân sự hỏi lý do :

– Tại sao tôi có nhiều kiến thức hơn cô kia mà lại không được tuyển ?

– Vì kiến thức thì có thể sẽ học thêm, còn chân ngắn thì khó mà có thể kéo dài ra được.

Yên Nhàn post

KHÔNG CỦA RIÊNG AI (24)

CHUYỆN XÔI SÀI GÒN

Tối ăn sang, sáng ăn xôi. Mời quí vị thưởng thức :

Người Sài Gòn rất chuộng xôi. Xôi sớm, xôi chiều, xôi tối lúc nào cũng có người ăn. Đất Sài thành có một phố chuyên bán xôi và còn rất nhiều món xôi “đặc sản” khó tìm nơi khác.
Xôi Sài Gòn có thể chia làm hai loại là xôi ngọt và xôi mặn. Xôi ngọt phổ biến nhất vẫn là xôi gấc, xôi cẩm (hay còn gọi là xôi tím), xôi nếp than, xôi đậu, xôi sầu riêng, xôi vò.
Mỗi loại xôi lại có cách thêm hành phi, mỡ hành, dừa bào hay đường riêng.

Người Sài Gòn cũng rất thích xôi gấc. Xôi sầu riêng có hương vị rất đặc biệt. Ví như ăn xôi đậu bao giờ cũng phết thêm một miếng đậu xanh nhuyễn vàng ươm, thêm một ít sợi dừa bào nhỏ, sau cùng là rắc lên một ít đường cát trắng phau.

Xôi cẩm là loại xôi có màu tím thủy chung. Ăn xôi tím phải có thêm mỡ hành và hành phi mới đúng vị. Người ta vẫn thường rưới mỡ hành và hành phi khi ăn các món mặn, nhưng riêng với một số món xôi ngọt như xôi cẩm lại phải kèm theo hai vị này mới ngon. Cách ăn này quả thực chỉ phổ biến ở Sài Gòn vì người Sài Gòn ăn món ăn nào mà không có nước dường như đều phải có thêm ít mỡ hành beo béo mới đã.

Các món xôi có nguồn gốc từ phía bắc như xôi cốm, xôi gấc cũng chễnh chệ nằm trên các quầy hàng khắp các nẻo đường Sài Gòn. Vào đến trong Nam, hương vị của các món xôi này ít nhiều đã thay đổi. Vẫn là xôi với gạo nếp thơm lừng, khác chăng là hương vị ngọt hơn theo khẩu vị của người Nam.

Xôi ngọt thuần túy miền Nam thì phải kể đến xôi bắp. Bắp phải là bắp nếp, hầm với nước dừa, tạo thành món ăn nửa xôi nửa cháo. Hạt bắp hầm xong nở bung thật mềm, thậm chí hơi nhão, có màu trắng tươi, rắc thêm đậu xanh đánh cho tơi mịn, rồi lại thêm ít dừa nạo, muối mè.  Ăn vào vừa ngọt vừa béo nhưng không ngấy lại ngon tuyệt.

Xôi ngọt Sài Gòn, đúng như tên gọi của nó, vị ngọt quyện với cái dẻo thơm của nếp, beo béo của dừa, đậu xanh xoay nhuyễn và mỡ hành, lại thêm ít hành phi thơm thơm giòn giòn tạo nên một hương vị riêng mà quen thuộc.

Ngoài ra còn có một món xôi ngọt khá đặc sắc nhưng không phổ biến bằng các món xôi ngọt như đã kể ở trên là món xôi xiêm. Xôi xiêm có nguồn gốc từ Thái Lan. Xôi Xiêm là sự tổng hợp từ các nguyên liệu từ gạo nếp Thái Lan, nước cốt dừa, sầu riêng, đường thốt nốt…

Việc chế biến Xôi xiêm không phức tạp nhưng lại cần có kinh nghiệm và sự khéo léo. Xôi hấp phải chín tới, dẻo, không nhão mà cũng không cứng, nước xốt có vị ngọt, ngậy mà không béo, thơm mát. Ở Sài Gòn xôi xiêm thường được bán ở khu người Hoa (quận 5).

Xôi mặn thì phải kể đến xôi gà, xôi lạp xưởng, trứng cút, xá xíu, xôi chả, pa tê… Thường người ta sẽ để xôi gà sang một bên, còn xôi với lạp xưởng, chả, trứng cút, pa tê sẽ gộp chung gọi là xôi mặn. Xôi gà luộc – một món rất riêng. Các món trên đều có thành phần chung là xôi nếp nấu dẻo thơm, mỡ hành beo béo với cọng hành xắt nhỏ còn nguyên màu xanh ươm dù đã qua lớp dầu nóng, thêm ít hành phi cho giòn thơm. Tùy theo nhu cầu và khẩu vị mà chọn các món ăn kèm như tôm khô, tôm chiên bột, lạp xưởng, trứng cút…

Riêng với xôi gà thì cũng có nhiều cách để thưởng thức. Phổ biến nhất vẫn là xôi gà xé,

vừa tiện lợi lại ngon, đó là đáp ứng cái nhu cầu nhanh, tiện lợi của người thành phố. Nơi mà sự bận rộn khiến người ta thích được làm sẵn. Từng miếng gà được xé thành xợi nhỏ, khi ăn không phải động tay xé gà, chỉ việc thưởng thức vị ngon thức ăn đem lại. Gà xé có thể là gà luộc kỹ cho nước ngọt vào trong từng thớ thịt, cũng có thể là gà chiên giòn, có nơi lại chọn cách là dùng gà nướng.

Xôi Sài Gòn thường bán vào sáng hoặc chiều tối. Sáng thì các hàng xôi thường tụ tập trước cổng trường học, hoặc bán bên lề đường. Trước trường nào cũng có ít nhất một gánh hàng xôi mà trên vỉa hè các con đường lớn nhỏ cũng không thể thiếu gánh xôi. Xôi chiều thì phải kể đến đoạn đường Cao Thắng từ đầu đường đến ngã tư Điện Biên Phủ.

Xe nào xe nấy đều được đầu tư kỹ lưỡng, để ba bốn xửng xôi cao, khói bốc nghi ngút. Chủ yếu là xôi ngọt với đủ màu sắc bắt mắt. Chỉ cần chạy xe ngang qua, nghe mùi thơm tản mác trong không khí thì khó có thể kìm lòng mà đi tiếp. Mỗi gói xôi ở đây có giá từ 5.000đ đến 10.000đ.

Góc đường Sương Nguyệt Anh giao với Cách Mạng Tháng Tám cũng  có một gánh hàng xôi gà, xôi bắp rất ngon chỉ bán buổi chiều. Gánh hàng xôi đã xấp xỉ hai mươi năm. Trải qua bao thăng trầm cùng thời gian, cái son sắc một thời của cô bán hàng cũng vơi đi ít nhiều, nhưng hương vị gói xôi vẫn ngon như thuở nào. Xôi ở đây chỉ 7.000 đồng  một gói, lại được gói trong lá chuối chứ không phải gói bằng giấy bóng như các nơi khác.

Sài Gòn cũng có một quán xôi nức tiếng từ xưa đến nay nằm ở đường Bùi Thị Xuân. Đây được mệnh danh là quán xôi ngon nhất Sài Gòn với món xôi gà chiên, xôi lòng gà và xôi gấc nổi danh. Xôi ở đây có độ nở vừa phải, lại dẻo thơm. Xôi gấc có vị ngọt thanh mát tự nhiên lại thơm lừng. Người đến đây ăn một lần chắc chắn sẽ có lần thứ hai, thứ ba. Quán tuy nhỏ nhưng có đội ngũ nhân viên đông đảo, lại nhiệt tình, dù đến ăn hay mang về đều không phải đợi lâu.

Văn hoá xôi ở Sài Gòn đa dạng vậy đó. Xôi luôn là món ăn vừa ngon, vừa no vừa tiện lợi chẳng kém bánh mì. Người Sài Gòn phóng khoáng, dễ tiếp nhận và xởi lởi. Gánh hàng xôi cũng theo đó mà trở nên phong phú, đa dạng hơn nhiều. Từ một món xôi dân dã bé nhỏ cũng phần nào đã khắc họa nên nét văn hóa riêng biệt của người dân chốn Sài Thành.

Phú Lê post

THỢ MASSAGE KHIẾM THỊ

CHỐNG QUẤY RỐI TÌNH DỤC

Mò mẫm bước vào phòng massage trong khi vị khách nam đã nằm lên giường chuẩn bị sẵn sàng, chị Mai bắt đầu công việc với cảm giác lo lắng bởi nhận ra người đàn ông có hơi men. Xoa bóp đến phần vai, chị giật mình khi bị ông ta bắt ngờ nắm lấy tay và bắt đầu sờ soạng.

Cố bình tĩnh nhớ lại lời chủ cơ sở dặn, chị Mai nhẹ nhàng gỡ tay khách ra khỏi tay mình và dỗ ngọt : “Anh để yên cho em làm nào, không thì không khỏe được đâu”. Mặc kệ cô nhân viên liên tục thuyết phục, vị khách lè nhè vẫn tiếp tục có những hành động sàm sỡ. Chị đành bất lực bỏ ra ngoài và báo với chủ.

Chuyện này xảy ra vào buổi tối cuối tuần vừa rồi, khi chị Nguyễn Thị Tuyết Mai làm việc tại một cơ sở massage tại quận Gò Vấp, được chủ giao phục vụ cho một khách nam. Chị Mai là người khiếm thị theo nghề massage được hơn một năm nay. Đây chỉ là một trong số rất nhiều tình huống khó xử mà chị từng gặp.

“Thường phải thuyết phục khách thôi hành vi thiếu đứng đắn để tôi tiếp tục làm việc, nhưng khách đã có rượu vào thì đáng sợ lắm. Bỏ dở việc ra ngoài chỉ là giải pháp cuối cùng khi tôi đã bất lực, vì nó rất dễ khiến khách bực bội rồi gây sự”, người phụ nữ cho biết.

Thợ bị khách quấy rối khi hành nghề massage đã đành, với thợ khiếm thị, tình trạng này như “chuyện thường ngày ở huyện”.

Một quản lý cơ sở massage ở quận Gò Vấp không ngại ngần chia sẻ về những rủi ro khi kinh doanh dịch vụ này. “Khách đàng hoàng thì ít, mà những người say xỉn vào yêu cầu bậy bạ thì nhiều. Khổ nhất là mấy nhân viên nữ, đang làm việc thì bị “đòi hỏi”, thuyết phục không được đành phải bỏ chạy ra ngoài. Nhiều khách bỏ về, nhưng cũng có người nổi giận đến quầy đập bàn đòi trả lại tiền vé”.

“Một số cơ sở massage khiếm thị là do người sáng mắt mở ra và tuyển người mù vào làm thợ. Trong số này có cả những ông bà chủ ép người mù đáp ứng đòi hỏi sai trái của khách để làm lợi cho mình”,

Massage là phương pháp chữa bệnh bằng y học cổ truyền gồm xoa bóp, bấm huyệt, xông hơi… Nhiều năm nay công việc này được cho là phù hợp nhất với người khiếm thị. Tất cả thợ massage khiếm thị đều phải trải qua những khóa học bài bản để được nhận chứng chỉ hành nghề do Viện Y Dược học dân tộc cấp. Thế nhưng, nếu bỏ qua tình trạng quấy rối thợ, nhiều khách có tâm lý e ngại khi thư giãn dưới bàn tay của người mù.

Bà Việt Ngà, giáo viên massage thuộc Viện Y Dược học dân tộc ở Sài Gòn, nói rằng người mù khi xoa bóp hoàn toàn tập trung vào từng động tác tay từ đầu đến cuối nên sẽ tạo hiệu quả thậm chí cao hơn người sáng mắt. “Điều này được chính những chuyên gia công nhận”.

Trong suy nghĩ của nhiều người mù, nghề massage là một công việc mưu sinh thực sự đã thay đổi cuộc đời họ. Chị Nguyễn Duy Linh (Bến Tre) là một trường hợp như thế. Đang là một cô thợ may lành nghề, năm 24 tuổi, chị bất ngờ trở nên mù lòa vì biến chứng của bệnh viêm ­­­xoang. “Tôi rơi vào khủng hoảng, quanh quẩn trong nhà như một cái bóng suốt một năm sau đó. Chỉ khi quyết định tham gia vào Hội người mù tại địa phương và được giới thiệu học nghề massage, tôi mới thôi cảm giác mình là người vô dụng”. Chị Linh bây giờ là nhân viên của một cơ sở massage cùng với 7 nhân viên khác cũng đều là người khiếm thị. Một ngày, chị kiếm được trung bình 60.000 đồng từ công việc xoa bóp – bấm huyệt – xông hơi này.

Nguyễn Văn Danh post

BẢO TƯỢNG PHẬT NGỌC

LỚN NHẤT THẾ GIỚI

Ngày 8/4/2012, thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên (Tam Đảo, Vĩnh Phúc) đã khánh thành Bảo tượng Phật ngọc bằng đá sapphire nặng 31 tấn (cả bệ), đặt trong một tòa bảo tháp uy nghiêm. Đây là pho tượng Phật ngọc bằng đá quý lớn nhất thế giới tính đến thời điểm hiện tại.

Với một vùng núi non hùng vĩ, rừng già nguyên sơ trải dài tới 80km, nằm giữa 3 tỉnh (Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Tuyên Quang), Tam Đảo có 3 ngọn núi cao ngất tạo nên 3 đỉnh “linh địa” là Thạch Bàn, Phù Nghĩa, Thiên Thi.

Thiền viện Tây Thiên tọa lạc ở lưng chừng ngọn Thạch Bàn với khuôn viên gần 5ha giữa khu rừng ngoại vi rộng 50 ha, được xây dựng quy mô trong những năm gần đây, trở thành một trong ba thiền viện lớn nhất của cả nước (gồm thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt, thiền viện Trúc Lâm Yên Tử, thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên).

Ngôi Đại hùng bửu điện cao 17m, diện tích 673,2m2, không gian của tòa chính điện này vô cùng bề thế, đủ chỗ ngồi cho 600 Phật tử, du khách viếng chùa vào những ngày lễ hội.

Bên trái Đại hùng bửu điện là Nhà trưng bày các hiện vật có niên hiệu Lý, Trần, Lê, Nguyễn… Tất cả các hạng mục công trình ở đây từ chính điện, nhà tổ, nhà khách, nhà trưng bày, cổng tam quan, lầu chuông, lầu trống… đến khu nội viện gồm Tăng đường, thiền đường, trai đường và các thất chuyên tu đều được xây dựng rất kỳ công và độc đáo mang đậm dấu ấn của kiến trúc Á Đông.

Những năm gần đây, thiền viện Tây Thiên đã trở thành địa điểm du lịch hấp dẫn, mỗi năm thu hút hàng chục vạn lượt khách trong và ngoài nước về hành hương, tham quan. Để đáp ứng nhu cầu của du khách, thiền viện dành khoảng 40 phòng để du khách ở xa đến có chỗ nghỉ lại.

Đứng dưới chân núi nhìn lên, thiền viện thấp thoáng trong mây. Đường lên khúc khuỷu, quanh co, bốn bề mây bay, thông reo, gió thổi, thoáng rộng và thanh sạch. Nơi đây đã hút hồn du khách bởi những cảnh quan thiên nhiên hoang sơ kỳ thú.

Núi cao vút tận trời được phủ lên một lớp rừng già xanh thẫm với nhiều cây cổ thụ, những con suối khi tỏa ra khi thu lại, chảy quanh co. Hòa trong cảnh sắc hùng vĩ, núi non cẩm tú, thiền viện trở thành điểm nhấn cho vùng danh lam thắng cảnh Vườn quốc gia Tam Đảo, tạo nên một khu du lịch văn hóa tâm linh.

Từ mùa Phật đản năm 2012 trở đi, du ngoạn lên thiền viện Tây Thiên, du khách sẽ được chiêm bái bảo tượng Phật Thích Ca bằng đá sapphire tuyệt bích.

Tôn tượng vừa mới được khánh thành vào ngày 8/4/2012, cùng với tượng đài Quan Âm bằng đá trắng, và lễ đặt đá khởi công xây móng đại tượng Phật cao 49m bằng đá hoa cương có tên Việt Nam Hộ Quốc Phật Đài.

Khi chúng tôi tìm lên Tây Thiên thì lễ an vị bảo tượng đã diễn ra 2 ngày trước đó. Đại đức Thích Huệ Tịnh, một vị Tăng tu hành tại thiền viện đưa tôi chiêm bái Phật ngọc.

Bảo tượng được đặt trong tòa bảo tháp khang trang và uy nghiêm, xây dựng trên diện tích 200m². Toàn bộ tác phẩm điêu khắc đá quý có chiều cao 3,45 m với khối lượng 31 tấn, tạo tác Đức Phật Tổ Như Lai đang ngồi kiết già theo tư thế thuở xưa Ngài nhập định 49 ngày dưới cây bồ-đề.

Nhưng ở đây không có cây bồ-đề, mà sau lưng Ngài tựa vào vách đá tạc hình hài lá bồ-đề. Gương mặt tượng mang hình nét thuần hậu mềm mại của người Việt. Thế mới biết Phật ở đâu thì sẽ mang hình hài văn hóa dân tộc nơi đó, chẳng thế mà trong kinh Phật có câu “ngàn muôn ức hóa thân Phật” .

Chính vì thế Ngài hóa thân ở đất nước nào thì sẽ được người dân nước đó thổi hồn riêng qua góc nhìn của họ. Toàn bộ tượng ánh lên màu đen bóng long lanh của ngọc, bề mặt mịn đến mức không một tì vết.

Theo thầy Thích Huệ Tịnh, chưa tạc thì khối đá có màu nâu xám, nhưng tạc xong, càng đánh thì càng lên màu đen bóng. Bệ tượng vẫn là nguyên khối đá tự nhiên xù xì. Chiêm ngưỡng bảo tượng, ta khâm phục sự kỳ công của những nghệ nhân Việt Nam tài hoa chế tác, đây thực sự là một kiệt tác nghệ thuật có tầm vóc, tôn vinh vai trò vị thế và tinh thần Phật giáo tại Việt Nam.

Thầy Thích Huệ Tịnh cho biết, ý tưởng chế tác bảo tượng được nung nấu trong lòng Tăng Ni Phật tử từ năm 2009, khi người dân cả nước từng nô nức chiêm bái pho tượng Phật ngọc Hòa bình thế giới được rước triển lãm qua nhiều nước (trong đó có Việt Nam), hiện nay an vị tại nước Úc.

Những thành viên của Hội Đá quý Hà Nội dự cảm với câu hỏi: Việt Nam có rất nhiều đá, nghệ nhân nước ta cũng không phải kém cỏi gì, lẽ nào chúng ta lại không có một pho tượng bằng đá quý như người Úc ?

Khát khao có được một công trình thật ý nghĩa tôn vinh được vị thế và vai trò của đạo Phật trong đời sống người dân đất Việt, Hội Đá quý Hà Nội đã bàn bạc thống nhất cùng thầy trụ trì thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên, Đại đức Thích Kiến Nguyệt về ý tưởng đi tìm đá quý tại Việt Nam để chế tác tượng Phật ngọc cho nước Việt.

Những người có tâm huyết bắt đầu hành trình đi tìm đá. Từ tháng 8 năm 2009, ròng rã trong nhiều tháng trời, đại diện Hội Đá cảnh Việt Nam cùng các chuyên gia thẩm định đá quý đã tỏa đi khắp các “vựa” đá quý trên mọi miền  đất nước để săn tìm đá. Đi Yên Bái thấy vùng Văn Chấn có rất nhiều loại đá quý, có những khối đá lớn tương đối đẹp, nhưng họ vẫn chưa ưng ý.

Sau 2 năm miệt mài tìm kiếm, vào cuối năm 2010, đoàn đến xã Châu Thành, Quỳ Hợp, Nghệ An, đoàn đã tìm được mỏ đá quý Corindon (quý chỉ sau kim cương), phát hiện được 6 khối đá đặc biệt hiếm. Ở lòng suối, nước chảy miên man suốt hàng triệu triệu năm, bởi vậy mọi loài đá cuội đều có hình tròn, bầu dục do nước chảy làm chúng mòn vẹt.

Thế nhưng kỳ lạ thay, 6 khối đá vẫn không có một chỗ nào có biểu hiện của sự mài mòn, mà vẫn nguyên mọi cạnh sắc. Ước tính tổng khối lượng của 6 phiến đá khoảng 200 tấn. Theo nghệ nhân Ngọc Châu, Phó Chủ tịch Hội Đá quý Hà Nội, các nhà khoa học địa chất đã kiểm nghiệm và kết luận : cả 6 khối đá đều thuộc loại corindon, chứa 80-90% là sapphire với độ cứng đạt tới 9, trong khi đó độ cứng lớn nhất là 10 thuộc về kim cương. Các vị phấn khởi quá bảo nhau: Phật ở đây rồi!

Tìm được ngọc rồi, nhưng quá trình vận chuyển đá về Tây Thiên mới là kỳ công. Ban đầu, người ta đưa máy cẩu, máy xúc đến để cẩu các khối đá lên, nhưng các khối đá cứ trơ trơ dưới suối, không lay chuyển được. Họ mới điện thoại cho thầy Kiến Nguyệt khuyên:

“Đất có thổ công, sông có hà bá. Các vị hãy thắp hương và xin thần hộ pháp, thổ địa ở đấy để cho đem các cục đá này về tạc một pho tượng Thích Ca Mâu Ni, như thế có thể cẩu được lên”. Những người săn đá làm theo, mang hương hoa ra thắp hương khấn long thần thổ địa, quả nhiên đưa được đá lên xe ô tô tải.

Chưa hết, khi biết người ở nơi khác đến lấy đá quý dưới suối, người dân bản địa tiếc của kéo nhau ra giữ lại, không cho đưa đi. Nghệ nhân Ngọc Châu kể: Chúng tôi đã bị một số người dân địa phương cản trở, dùng xe công nông chắn đường, mặc dù chúng tôi đã làm việc với các cơ quan chức năng và được phép tiến hành việc này.

Thậm chí, có một cô gái còn nằm chắn ngang đường không cho lấy đá. Khi được giải thích rằng chúng tôi lấy đá về là để tạc tượng Phật, sẽ đặt ở Tây Thiên để người dân khắp nơi đến chiêm bái, thì cô gái và dân làng mới chấp nhận cho đi.

Vượt bao khó khăn trở ngại, 80 tấn đá quý đã được đem về thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên, hành trình từ Quỳ Hợp về đến Tây Thiên mất tới một tháng. Dẫn tôi đến chỗ hai khối đá lớn đặt ở sân trước tòa bảo tháp Phật Ngọc, Đại đức Huệ Tịnh cho biết, 2 khối đá lớn đã được sử dụng.

Một khối tạc tượng Phật ngọc ban đầu nặng hơn 20 tấn, sau khi tượng hoàn thành nặng 13 tấn. Một khối 18 tấn để nguyên làm bệ tượng. Còn 2 khối ngoài sân này để dành sau này tạc tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông và tạc một pho Di Lặc.

Kể về quá trình tạc tượng cũng muôn vàn công phu. Rất nhiều nhóm nghệ nhân được mời đến để chế tác tượng nhưng họ đã bỏ cuộc, vì đá quá rắn. Bao nhiêu mũi dùi, máy cắt, máy mài đá khi chạm lên khối đá đều bị mẻ lưỡi hết, mà đá vẫn trơ trơ. Không có một mũi dao nào tạc, khắc, làm mài mòn được loại đá này, bởi vì sapphire là một thứ vũ khí để phá vật liệu khác chứ vật liệu khác không thể phá được nó.

Phải đến khi các nghệ nhân Phạm Ngọc Châu, Hoàng Nam Hải, Vương Ngọc Tiến nhận thực hiện cùng với một nhóm nghệ nhân khác hỗ trợ, họ lắp toàn bộ các mũi dùi, lưỡi cưa bằng kim cương vào các máy mài, máy cắt đá thì mới thực hiện được. Công việc chế tác tượng Phật ngọc tiến triển vô cùng chậm chạp.

Hai nhóm nghệ nhân của Hà Nội tạc bằng máy để định hình dáng, đường nét thô, sau đó một tốp nghệ nhân ở Đà Nẵng ra để chạm khắc chi tiết, chỉnh lại cho đẹp đẽ và mài bóng pho tượng.  Sau gần 2 năm kỳ công mài dũa tạo tác, pho tượng Phật ngọc bằng đá sapphire, cao 3,45m, nặng 31 tấn đã được hoàn thành, trong sự ngỡ ngàng khâm phục của rất nhiều người.

Thầy Thích Kiến Nguyệt nhận định: Đây là một pho tượng Phật làm từ đá Việt, do bàn tay người Việt tác thành thì tự thân đã là bảo vật quốc gia. Pho tượng mang linh khí Việt Nam, nghệ thuật và tâm hồn người Việt Nam, gần gũi với thiên nhiên, bình dị như con người Việt Nam, bởi bản thân tượng còn mang phần đá nguyên sơ từ đất mẹ.

So với pho tượng Phật ngọc Hòa bình thế giới nặng 4,5 tấn, thì bảo tượng Thích Ca Tây Thiên nặng tới 13 tấn (không kể bệ) nặng hơn rất nhiều. Trên thế giới có rất nhiều pho tượng khổng lồ được tạc vào núi đá, nhiều đại tượng được đúc bằng đồng hoặc xây bằng xi-măng lớn hơn nhiều.

Tuy nhiên, chưa thấy một thông tin  về pho tượng bằng đá sapphire nào khác trên thế giới to lớn đến như thế. Vì vậy, Phật ngọc Tây Thiên là pho tượng Đức Phật bằng đá quý lớn nhất thế giới tính đến thời điểm hiện tại. Đây cũng được xem là pho tượng Phật Ngọc mang “quốc hồn quốc túy” Việt Nam, thể hiện đầy đủ tinh thần Phật giáo, từ bi hỷ xả, yêu chuộng hòa bình, cứu nhân độ thế, pháp tuệ vô biên.

Cùng với lễ khánh thành Phật ngọc, Trúc Lâm Tây Thiên còn khánh thành tượng đài Quan Âm hai mặt, tay cầm cam lộ, tay cầm nhành liễu, mặt xoay về phía trước, lưng xoay vào chùa, thể hiện tinh thần hạnh nguyện của hạnh Bồ-tát thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sinh.

Đồng thời, làm lễ khởi công xây dựng Việt Nam Hộ Quốc Phật Đài. Đây sẽ là đại tượng Phật Thích Ca khổng lồ cao tới 49m, bằng đá chất liệu đá hoa cương với trọng lượng hơn 20 nghìn tấn, ngự ở độ cao hơn 300m so với mực nước biển, trên ngọn đồi Hữu Bạch Hổ, bên phải chính điện thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên.

Đại tượng cũng dựng lại hình ảnh Như Lai kiết-già dưới cây bồ-đề, con số 49 là lấy theo ngày Đức Phật ngồi thiền định trong suốt 49 ngày đêm. Bên trong tượng Phật được thiết kế rỗng gồm 10 tầng. Tổng số vốn đầu tư dự định cho tượng Phật khổng lồ nhất Đông Nam Á này là hơn 199 tỷ đồng, dự kiến 2-3 năm nữa sẽ hoàn thành.

Theo Đại đức Huệ Tịnh, hiện đã tìm được mỏ đá hoa cương ở Suối Giàng, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái để làm nguyên liệu tạo tác đại tượng. Thiền viện đã xin cấp giấy phép được khai thác mỏ đá hoa cương này, đang chờ ý kiến của Thủ tướng để UBND tỉnh Yên Bái phê duyệt. (theo Chu Minh Khôi)

Yên Huỳnh post

Nhè nhẹ thôi anh

(Chuyện vui ở miền Bắc VN)

– Em làm giấy tờ cho anh để về thanh toán với cơ quan.

– Dạ vâng. Thế tên anh “nà” gì nào ?

– Lê Đức Lâm.

– Nê Đức Nâm.

– Anh tên là Lâm. Không phải Nâm.

– Nê… Nâm… Thế tên anh viết bằng “nờ” dài hay “nờ” ngắn ạ ?

Cái nhà cô này thật là ỡm ờ.. “Nờ” của anh dài. Vừa ý chưa ?

Cô gái cười giòn tan :

– Tưởng là chỉ có dê trên (d), dê dưới (g), I dài (y), i ngắn (i), bây giờ lại có cả “nờ ” dài (l), nờ ngắn (n).

– Còn em, tên là gì ? Có trên dưới, ngắn dài gì không ?

– Dạ, em “nà” Xuân.

– Tên hay nhỉ, nhưng phải sờ mạnh (s) hay sờ nhẹ (x) Xuân mới chịu ?

Cô Xuân đỏ mặt, cười duyên :

– Nhè nhẹ thôi anh.

Đúng là nó !

Điệp viên OO Thấy thuộc tổ  ninh chuyên trách về tình báo phản gián tại Saigon nhận lệnh công tác :

“Phải tìm cho được một điệp viên người nước ngoài của địch mới gửi vào đang âm thầm hoạt động trong thành phố của chúng ta. Nhận dạng tên điệp viên lạ – Người thuộc một trong các sắc tộc Á châu, nhìn bề ngoài y như VN, nói tiếng Việt như người Việt vậy… Chấm hết…”

Điệp viên OO Thấy nhận chỉ thị than trời. Mẹ nó, thằng dog này nó nhìn y như VN nói tiếng Việt như ngươi Việt đang hòa lẫn trong 8 triệu dân Saigon thi làm sao mà phân biệt để bắt nó đây ? Tuy vậy với khả năng “nghiệp vụ cao” OO Thấy cũng cố gắng theo dõi và sàng lọc. Một bữa OO Thấy tất tả chạy tộc vào xin lệnh sếp :

– “Thủ trưởng, cho lệnh bắt nó ngay, em tìm được rồi !”

Thủ trưởng hỏi : – “Làm sao cậu biết là nó ?”

OO Thấy trả lời : – “Thưa thủ trưởng, mấy hôm nay em theo dõi thấy thằng này lạ lắm. Nó đi Honda trên phố mà cứ hễ thấy đèn đỏ, dù là chỗ đó chẳng có công an mẹ gì hết, nó cũng cứ dừng lại đợi cho đến đèn xanh mới chạy… Mẹ nó, dân thành phố mình có thằng nào “hâm” thế đâu ? Không công an thì cứ “bùng” chứ mắc gì mà đỗ xe lại với đèn đỏ…”

Thủ trưởng vẫn chưa tin lắm, nói : – “Thì cũng có người này người kia, biết đâu anh đấy chỉ vì muốn lưu thông nghiêm luật mà thôi…”

OO Thấy nói tiếp : – “Chưa hết thủ trưởng, khi vào quán nó gọi thức ăn ngươi ta đem ra cho no là nó cứ luôn mồm cám ơn… Ơn với iếc cái con mẹ gì. Mua thì bán chứ gì mà cám ơn. Đã vậy khi bước ra khỏi quán có đứa bé chạy đâm sầm vào nó, nó chẳng những không kiểm tra xem có bị thằng bé móc túi hay không mà còn đỡ đứa bé lên rồi mồm xin lỗi… hỏi thăm thằng bé có sao hay không ? Vậy mà không lạ sao được, cánh VN mình thời bây giờ thì mấy tiếng cám ơn hay xin lỗi nó đã thuộc từ “đồ cổ” đâu còn ai xài nữa đâu”

Thủ trưởng vẫn chưa bị thuyết phục lắm… “Thì đời sống văn minh, cũng phải có người thực hiện nếp sống văn hóa cao chứ…”

OO Thấy nói tiếp… “Còn chuyện này em kể nốt sếp nghe.. Em theo nó mấy hôm nay, em thấy nó muốn làm cái gì thì làm, chuyện lớn chuyện nhỏ gì nó cũng tự quyết định và chịu trách nhiệm chứ chẳng chờ… ý kiến lãnh đạo như… chúng ta…”

Thủ trưởng chưa nghe dứt đã quát lên…”Thôi thôi ! đúng nó rồi… nó không trốn trách nhiệm, chẳng chờ ý kiến lãnh đạo… thì thằng này không thể nào là…. mình được…”

Yên Nhàn (tổng hợp)

NGÀY CỦA MẸ (2)

MOTHER’S DAY

MẸ VIỆT

Chưa đầy 6 tuổi, tôi đã không còn Mẹ. Đó chính là điều bất hạnh nhất đối với bất cứ đứa trẻ nào trên đời.

Sau này, khi lập gia đình và sanh con. Nhiều lúc “… Ngồi thật lâu để nhìn con say đắm, để lẩm bẩm những lời vô nghĩa, ngọng nghịu trò chuyện cùng con”. Phải rồi, chỉ với một tình yêu thiêng liêng đắm đuối chết ngộp như thế nào đó thì người ta mới có thể trở nên ngọng nghịu, lẩm bẩm những lời vô nghĩa với nhau thôi. Dễ gì có được !

Từ lâu người ta biết tình mẫu tử không sẵn có mà chỉ sẽ dâng lên từ từ cùng sữa mẹ. Sữa mẹ là thân xác, là những tế bào của mẹ vỡ ra mà thành. Cho nên tình mẫu tử là một thứ tình ngọng nghịu, cuống cuồng như thế. Ta hiểu vì sao con gà hiền lành ngây thơ kia khi có bầy con thì trở nên hung dữ nhường nào để ấp ủ bảo vệ con khỏi nanh vuốt của những diều hâu ! Ta hiểu vì sao khi bắt voi, người ta chỉ cần lùa voi con vào chuồng thì voi mẹ riu ríu đi theo! có biết bao bà mẹ có “nỗi đau cao hơn sự vĩ đại, lớn hơn sự hy sinh”. Lấy gì bù đắp ? Hỏi mà không cần phải trả lời*.

Vì con, hầu như tôi không có một ngày rảnh rang. Nhưng lại là những năm tháng vui sướng mỹ mãn và hãnh diện nhất trong cuộc đời.

Mấy mươi năm trôi qua, những đứa bé ngày nào giờ đã vụt lớn, nhưng tôi vẫn thấy sung sướng, hạnh phúc khi ủi từng chiếc quần chiếc áo cho con, làm giường sắp đặt thật phẳng phiu và dọn dẹp như lau như ly từng nơi riêng của chúng nó. Vẫn còn cảm giác nôn nao khi dọn những món ăn ra bàn – chờ đợi chúng gắp miếng đầu tiên – hồi hộp và thoả lòng muốn khóc khi thấy chúng nó gật đầu thích thú.

Khi con đủ lông cánh và bay. Người mẹ lặng thầm theo dấu để biết con vui buồn ấm lạnh mà kịp bươn tới đỡ đần.

Người làm cha/mẹ thật sung sướng khi đã vắt kiệt hết tất cả sức lực cho những đứa con của mình, mặc dù đã tiên liệu rồi một ngày…

TRONG MỘT NHÀ GIỮ LÃO Ở MONTRÉAL

Họ ngồi đó, bên nhau. Đàn ông, đàn bà. Không nhìn. Không nói.

Họ ngồi đó. Gục đầu, nín lặng. Ngửa cổ. Giật nhẹ tay chân.

Có người, trên chiếc xe lăn, chạy vòng vòng. Có người, trên chiếc xe lăn, bất động. Họ ngồi đó. Hói đầu. Bạc trắng. Móm sọm. Nhăn nheo.

Mới hôm qua thôi. Nào Vương. Nào Tướng. Nào Tài Tử. Nào Giai Nhân. Ngựa xe. Võng lọng.

Mới hôm qua thôi. Nào lọc lừa. Nào thủ đoạn. Khoác lác. Huênh hoang.

Mới hôm qua thôi. Nào galant. Nào quý phái. Nói nói. Cười cười. Ghen tuông. Hờn giận.

Họ ngồi đó. Không nói năng. Không nghe ngóng. Gục đầu. Ngửa cổ. Móm sọm. Nhăn nheo.

Ngoài kia. Tuyết bay. Trắng xóa.

Ngoài kia. Dòng sông. Mênh mông. Mênh mông…

thụyvi (Montréal, 1993)

* Thơ Nghê Lữ * Tranh Nguyễn văn Ba * Tranh Phạm Lực

* Hình tác giả đang vào độ tuổi ” hườm hườm” đi vào thăm người già “rục” trong nhà giữ lão

LỊCH SỬ NGÀY CỦA MẸ

The Mother’s Day

Ngày Của Mẹ đã được thế giới công nhận từ năm 1914.

Cách đây hàng chục thế kỷ, người ta đã thờ Mẹ của các vị Thần. Chẳng hạn, cổ Hy Lạp có thờ Rhea, mẹ của vị các Thần. Cổ La Mã thờ Cybele, vị nữ thần của tạo vật. Ngày lễ kéo dài ba ngày từ 15/3 đến 18/3. Tuy nhiên ngày lễ đó không mang ý nghĩa giống với ý nghĩa như Ngày Của Mẹ hiện nay. Chỉ có ngày “Mothering Sunday” (Ngày Mẹ Sanh) hay “Mid-Lent-Sunday”, cử hành vào ngày Chủ Nhật thứ tư ở Anh Quốc là có ý nghĩa khá tương tự như Ngày Của Mẹ hiện nay.

Ở Hoa Kỳ, hàng năm cứ đến ngày Chủ Nhật của tuần lễ thứ nhì trong Tháng Năm, (năm nay 2012 ngày Lễ Mẹ là ngày chủ nhật 13/05) toàn quốc cử hành lễ Ngày Của Mẹ – Mother’s Day để vinh danh Ðời Làm Mẹ (Motherhood), một cuộc đời biểu hiện của lòng hy sinh và tận tụy suốt đời người mẹ cho con. Thi sĩ Hoa Kỳ Edgar Allan Poe (1809- 1849) viết cho mẹ ông bốn câu thơ như sau :

Kính Mẹ :

Con đang cảm thấy Cõi Trên

Thiên thần thầm kiếm dâng lên nhiều từ

Yêu nào nồng cháy vô tư

Suốt đời tận tụy bằng từ Mẹ đây

Ai đã đứng ra đấu tranh cho ngày Của Mẹ được công nhận ?

Câu chuyện về một vị hiền mẫu sắp tóm trình đây không phải là một huyền thoại. Bà tên là Ann Reeves Jarvis sinh năm 1833 và mất năm 1905, thọ 72 tuổi. Bà Jarvis lúc 12 tuổi theo cha định cư tại West Virginia. Cha bà là Linh Mục Josiah W. Reeves.

Năm 17 tuổi, bà lập gia đình với ông Granville E. Jarvis và họ có với nhau 11 người con, nhưng chỉ còn sống được 4 cháu. Có lẽ nỗi đau khổ quá lớn lao vì mất mát 7 người con khiến bà quyết tâm lăn xả vào công tác từ thiện xã hội nhằm giúp nâng cao điều kiện vệ sinh lúc đó còn quá thấp kém đã khiến cho số tử vong ở trẻ thơ tăng rất cao.

Tới 26 tuổi, bà bắt đầu kêu gọi tất cả các bà mẹ ở Webster, Philippi, Pruntytown, Fetterman, và Grafton hội tại các nhà thờ địa phương để tổ chức thành những câu lạc bộ lấy tên là Câu Lạc Bộ Nhật Hành của Các Bà Mẹ (Mothers Day Work Clubs). Bà kêu gọi anh của bà là Bác Sĩ James Edmund Reeves và B.S. Amos Payne ở Pruntytown làm cố vấn và thuyết trình viên cho các câu lạc bộ của bà. Câu Lạc Bộ hướng dẫn các bà mẹ cách chăm sóc những gia đình mắc bịnh lao phổi; cung cấp thuốc men cho người nghèo, và sữa cho trẻ em đã được khám bịnh.

Năm 1861, e rằng Cuộc Nội Chiến Mỹ (1861- 1865) bùng nổ sẽ làm tê liệt các hoạt động của Câu Lạc Bộ Nhật Hành, bà Jarvis kêu gọi một cuộc họp khẩn cấp để các hội viên cùng thỏa thuận rằng dù chính kiến là Nam hay Bắc, họ vẫn duy trì tình hữu nghị (và thiện chí với nhau trong và sau cuộc chiến.

Khi bịnh sốt thương hàn và bịnh đậu mùa lan tràn trong quân lính, bà Jarvis và các Câu Lạc Bộ của bà được kêu gọi giúp đỡ, bà trả lời : “Quý vị sẽ có sự giúp đỡ. Các hội viên chúng tôi sẽ không có sự đối sử sai trái nào. Chúng tôi bao gồm cả sắc phục Xanh (Bắc) và sắc phục Xám (Nam)”. Do đó, các Câu Lạc Bộ Nhật Hành đã nhận được những tưởng lục cao quý nhất của các hai phe Nam và Bắc.

Sau Cuộc Nội Chiến Hoa Kỳ (1861 – 1865) để làm nhẹ những nỗi va chạm hậu chiến, một lần nữa, bà Jarvis lại được chính quyền kêu gọi giúp đỡ. Bà tập họp những hội viên tại Tòa Án Pruntytown, và đặt kế hoạch tổ chức Ngày “Mothers Friendship Day” tức Ngày Hữu Nghị Của Các Bà Mẹ tại Pruntytown có mời tất cả binh sĩ Quân Phục Xám hay Xanh và gia đình tới dự.

Một khối lượng người rất lớn đã tới tham dự. Khi chương trình bắt đầu, bà Jarvis xuất hiện trong y phục xám với một bà khác trong y phục xanh. Hai em bé gái trong tuổi mười cùng với ban nhạc trổi lên kêu gọi mọi người tập họp. Bà Jarvis trình bày mục đích của Ngày Hữu Nghị Các Bà Mẹ và yêu cầu ban nhạc hướng dẫn tất cả cùng ca bài “Way Down South in Dixies ” (bài dân ca nhạc Jaz rất được ưa chuộng thời đó). Bà mặc y phục Xanh (tượng trưng Miền Bắc) kế đó yêu cầu ban nhạc hướng dẫn bà và khán giả hát bản quốc ca “The Star-Spangled Banner”. Tiếp đó là tiếng hoan hô và tiếng cười. Hai em bé gái cầm tay của bà Jarvis và của bà y phục Xanh yêu cầu họ bắt tay và ôm hôn nhau. Rồi hai bà kêu gọi mọi người cùng làm như vậy trong khi ban nhạc chơi bản “Should Auld Acquaintance Be Forgot”. Xin Hãy Quên Ði Chuyện Ngày Xửa Ngày Xưa – được lược dịch như sau :

Ngày xưa quên đi hãy nên, ngày xưa, hãy cùng đồng lòng quên hết

Hãy nên quên đi ngày xưa để tâm trí mình hoàn toàn thảnh thơi

Có nên quên đi ngày xưa ?  Ngày xưa có nên đồng lòng quên hết ?

Hãy nên quên đi ngày xưa hàm bao nỗi buồn ngày xửa, ngày xưa

Bài này đã được biết tới tại nước ta từ trước 1945 với bài ca có tên là “Au Revoir” tức là “Tạm Biệt” thường được các em hướng đạo hát. Lời của bài “Tạm Biệt” ngày trước không còn nhớ trọn vẹn. Bây giờ xin đặt lời mới như sau :

Giờ đây anh em chúng ta cùng nhau giã từ, lòng càng lưu luyến

Nắm tay ta hãy cùng nhau hòa ca hát bài tạm biệt từ đây

Trước khi chia tay rời xa, cầm tay chúc nhau mọi điều như ý.

Chúc nhau gia quyến bình an và mong có ngày lại được gặp nhau

Vào lúc bài “Xin Hãy Quên Ði Chuyện Ngày Xửa Ngày Xưa” kết thúc, hầu như mọi người đều khóc và bắt tay nhau.

Ngoài công việc với Câu Lạc Bộ Nhật Hành, bà Jarvis còn hoạt động tích cực cho nhà thờ. Trong hơn một phần tư thế kỷ, bà dạy các trẻ em học và đã nhìn thấy chúng trưởng thành và lại tiếp tục đem các con của họ đến lớp học của bà. Bà không những là một giáo chức ngoại hạng mà còn là diễn giả tài ba. Nhiều lần bà giảng thuyết trong các nhà thờ có thính giả rất đông về các đề tài như “Giá Trị của Văn Học là Nguồn Gốc của Văn Hóa và Tinh Hoa” (The Value of Literature as a Source of Culture and Refinement), “Sự Quan Trọng của Những Trung Tâm Giải Trí có Giám Sát cho Học Trò Nam và Nữ” (Importance of Supervised Recreational Centres for Boys and Girls), và “Những Bà Mẹ Vĩ Ðại của Kinh Thánh” (The Great Mothers of The Bible).

Bà Jarvis qua đời vào ngày 9 Tháng 5, 1905, thọ 72 tuổi, và được chôn cất tại West Laurel Hill Cemetery ở Philadelphia Hoa Kỳ. Vào ngày bà an nghĩ, chuông của Andrews Methodist Episcopal Church ở Grafton đổ 72 hồi để tưởng niệm bà.

Năm 1907, vào ngày giỗ mẹ lần thứ nhì, cô con gái của bà Jarvis là Anna Jarvis thuyết phục nhà thờ của mẹ cô cử hành Ngày Của Mẹ vào Chủ Nhật thứ nhì của Tháng Năm và cô khởi sự vận động cho Ngày Của Mẹ được nhìn nhận trên toàn quốc. Sáu năm sau, năm 1914, Tổng Thống Woodrow Wilson tuyên bố Chủ Nhật tuần thứ nhì trong Tháng hàng năm là Ngày Của Mẹ trên toàn nước Mỹ.

Ngày nay, trên thế giới nhiều nước nhìn nhận ngày Của Mẹ như Anh, Pháp, Thụy Ðiển, Ðan Mạch, Ấn Ðộ, Trung Hoa , và Mexico, ngày lễ kéo dài tới hai ngày. Hoa biểu tượng cho Ngày Của Mẹ là hoa cẩm chướng (carnation): cẩm chướng màu hồng dành cho người nếu mẹ còn sống; cẩm chướng màu trắng dành cho người con nếu mẹ đã qua đời. Nhiều người Việt ngày nay cũng ăn mừng Ngày Của Mẹ. Con cái mua quà tặng Mẹ và đưa mẹ đi ăn tiệm.

Từ Mẹ Phát Sinh Từ Ðâu

Khởi đầu cũng mẫu tự “mờ” (M) tạo nên

Công đức của bà Javis thật xứng đáng được ca ngợi. Nỗ lực của con gái của bà tranh đấu cho Ngày Của Mẹ được toàn quốc nhìn nhận là một nỗ lực đầy ý nghĩa. Lòng thương con thể hiện tình thương của Thượng Ðế đối với con người. Bởi vậy từ “mẹ” rất là thiêng liêng tạo một cảm giác hạnh phúc kỳ diệu nơi con người được xưng là “mẹ” và nơi con người cất tiếng gọi “mẹ”. Song, từ “Mẹ” thiêng liêng ấy đã phát sinh từ đâu ? Xin nghe bài thơ sau đây diễn tả một ý niệm về từ “Mẹ” :

Một ngày kia …Trời, đất đã hoàn thành

Muôn cỏ cây Hoa lá lộng trời xanh …

Ðại dương mênh mông Bình nguyên hiền hòa Mẹ sinh ra …

Từ những ý niệm thăng hoa Mẹ sinh ra …

Hiện thân của Lộng Lẫy,

Bao La Mẹ sinh ra Của tận tụy, hiền từ

Mẹ sinh ra Thiên thần mở hoan ca

Mẹ sinh con

Sứ mạng của Trời ban

Mẹ sinh con

Bích ngọc ý thiên đàng

Và cũng từ những bụi đục trần gian …

Con lớn lên trong tiếng ru của mẹ

Trong vòng tay che chở của cha

Con vươn lên trong sóng gió của đời

Con có thể quên

Con quên tất cả

Nhưng không thể

Không nhớ mãi những lời …

Mẹ ru con ạ ời ơi …

Mẹ đã yêu con suốt cuộc đời

Con thương, con nhớ mãi, Mẹ ơi !

(Hải Bằng.HDB)

Bà Mẹ Việt đầu tiên trong lịch sử Việt là ai ?

Lịch sử nhân loại bắt nguồn từ những truyền thuyết. Truyền thuyết thường chứa những huyền thoại có tính triết lý. Ngưới Nhật tự cho mình là con cháu của Thái Dương Thần Nữ. Người Mẹ của giống nòi Việt là Mẹ Âu Cơ xuất phát từ triết thuyết của Vòng Thái Cực âm dương giải thích sự xuất hiện của giống nòi Lạc Hồng: Mẹ thuộc dòng Tiên tên là Âu Cơ và Cha thuộc dòng Rồng tên là Lạc Long Quân. Tiên là biểu tượng của Vẻ Ðẹp tuyệt trần, Nhân Ái vô cùng, và Dịu Hiền hết sức. Rồng là biểu tượng của Uy Dũng vô song, Tự Do vô hạn, và Sáng Tạo không ngừng.

Mẹ Việt Âu Cơ sinh được 100 con trai. Một nửa theo cha xuống biển. Một nửa theo mẹ lên núi. Cả hai cùng hẹn ước với nhau rằng: hễ khi nào có nguy cơ thì báo cho nhau biết để cứu ứng. Từ đó nẩy nở dòng giống gọi là Bách Việt.

Từ thời đại các Vua Hùng dựng nước cách đây trên 4000 năm, có không biết bao nhiêu bà mẹ Việt đã sản sinh những vị hào kiệt, anh hùng, liệt nữ như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Ký Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi, Nguyển Huệ, Bùi Thị Xuân, Ðoàn Thị Ðiểm, Bà Tú Xương, Nguyễn Thị Giang, Nguyễn Thị Bắc, Công Chúa Huyền Trân, v.v.

Thừa hưởng những đặc điểm “Tiên” của Mẹ Âu Cơ, nói chung lớn các bà mẹ Việt có nét đẹp, tính hiền, và tình yêu rất thánh thiện không thể tả hết được. Tuy nhiên, tâm phải có tu tập, thì sự thánh thiện mới sáng tỏ.

Người mẹ mang nặng, để đau, tận tụy chăm sóc con từ lúc mới lọt lòng và lo lắng cho con cho tới khi nhắm mắt. Xã hội có những nhân vật tài giỏi phần lớn cũng là nhờ có các bà mẹ hiền. Những ai có hạnh phúc sống bên mẹ hay đã làm mẹ sẽ thấy nhạc sĩ Y Vân nói về một số những công lao của mẹ qua bài “Lòng Mẹ” (nhạc phẩm của Y Vân) thật là tuyệt vời như sau đây :

Lòng Mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào

Tình mẹ tha thiết như dòng suối hiền ngọt ngào

Lời ru êm ái như đồng lúa chiều rì rào

Tiếng ru bên thềm trăng tà soi bóng mẹ yêu

Lòng mẹ thương con như vầng trăng tròn mùa thu

Tình mẹ âu yếm như làn gió đùa mặt hồ

Lời ru man mác êm như sáo diều dật dờ

Nắng mưa sớm chiều vui cùng tiếng hát trẻ thơ

Thương con thao thức bao đêm trường

Con đà yên giấc, mẹ hiền vui sướng xiết bao

Thương con khuya sớm bao tháng ngày

Lặn lội gieo neo, nuôi con đến ngày lớn khôn

Dù cho mưa gió không quản tháng ngày… mẹ hiền 

Một sương, hai nắng cho bạc mái đầu buồn phiền 

Ngày đêm sớm tối vui cùng con nhỏ một niềm

Tiếng ru êm đềm, mẹ hiền năm tháng triền miên

– Một lòng nuôi nấng vỗ về những ngày còn thơ

Một tình thương mến như là tiếng đàn, lời ca

Ngày đêm, sớm, tối, khuyên nhủ bao lời mặn mà

Khắc ghi bên lòng con trẻ muôn bước đường xa

Thương con mẹ hát câu êm đềm

Ru lòng thơ ấu, quản gì khi thức trắng đêm

Bao năm nước mắt như suối nguồn

Chảy vào tim con, mái tóc trót đành đẫm sương

Dù cho ai vắng trên đường sớm chiều về đâu 

Dù khi mưa gió tháng ngày trong đời bể dâu

Dù cho phai nắng nhưng lòng thương chẳng lạt mà

Vẫn mong quay về vui vầy dưới bóng mẹ yêu

Mời các bạn nghe nhạc phẩm “Lòng Mẹ” của nhạc sĩ Y Vân qua tiếng hát của Hương Lan :

http://youtu.be/aTPvzlO-8dQ

Hình ảnh của các bà mẹ Việt hôm nay thế nào ?

Hình ảnh của các bà mẹ Việt hôm nay, không còn là “một nắng hai sương”, không còn là “áo rách sờn vai”, và có lẽ cũng không còn có “những tiếng ru êm đềm” nữa. Người mẹ hôm nay văn minh hơn, đời sống vật chất đầy đủ hơn nhiều, nhưng ít có đủ thì giờ để chăm chút cho con, do đó tình cảm giữa mẹ con cũng không còn đậm đà như thuở trước tuy lòng thương con vẫn không  hề  phai giảm. Chính điều này làm cho lòng nhiều người mẹ kém an vui. Ðây là một trong những hình ảnh của các bà mẹ thời nay trong bài “Người Mẹ Hôm Nay”:

Mẹ dậy khi con còn ngủ say

Trăng đêm chênh chếch có ai hay ?

Mẹ thầm sửa soạn: khi con dậy

Có sẵn cơm ngon đủ suốt ngày

Rồi mẹ rời nhà trời chửa sáng

Ðường xa, xe phóng lướt như bay

Sương đêm đọng giọt mờ khung kiếng?

Mẹ tưởng lệ nhòa, mắt mẹ cay

Bao năm quên sống nuôi con dại

Cho được nên người không kém ai 

Muốn con đầy đủ, con ăn học 

Ðời con là đời mẹ nối dài

Thôi hãy ngủ ngoan và mộng đẹp

Ước đời con sự học đi lên

Làm tia sáng rọi đường cho mẹ

Mát lòng nghe người nói con hiền

Nhưng do đâu, các bà mẹ Việt có được tấm lòng tận tụy cho con như vây ?

Có hai nguyên do căn bản. Trước hết là do từ ý Trời dành cho người nữ thiên chức làm mẹ : Trời đã gài đặt trong tâm hồn người nữ tấm lòng thương yêu tuyệt đối dành cho con còn hơn cả cho chồng nữa. Hầu như không có một người nữ nào không cảm thấy tràn ngập hạnh phúc khi thấy mình trở thành người mẹ. Thật vậy:

Con ra đời từ Nguồn Yêu của mẹ 

Con chào đời nối Mạch Sống của cha

Nụ hôn đầu, cha nhẹ hôn trán bé

Vòng tay bồng, khóe mắt mẹ long lanh

Phút thiêng liêng: Sự Sống đã hoàn thành

Con tiếp nối cuộc tồn sanh bất diệt

Kế đến là do từ ý của con người: người mẹ phải tu tâm và thực hành những giá trị đạo đức làm người đặt trên nền tảng của chữ Thiện như thương người (ấy là Nhân), biết ơn (ấy là Nghĩa), tôn trọng (ấy là Lễ), biết phân biệt phải trái (ấy là Trí), và giữ lời hứa (ấy là Tín).  Ðó chính là ý nghĩa của câu :

Thiện căn ở tại lòng ta

Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài

Các bà mẹ Việt đều ít nhiều thấm nhuần lẽ Phúc Họa của Ðạo Trời, đạo của người Việt từ ngàn xưa :

Sư rằng phúc họa Ðạo Trời

Cội nguồn cũng ở lòng người mà ra

Thêm vào là đạo tu thân của Khổng Giáo và đạo tu tâm của Phật Giáo nên lòng thương con hết sức thâm sâu. Bà mẹ nào cũng sẵn sàng hy sinh hết mình cho sự sống của con như trường hợp của bà Nguyễn Thị Nga ở Tân An Hội, Củ Chi, sau 1975 : bà ta đã, trong 8 năm liền, lên thành phố Saigòn bán máu mỗi tháng 2 l ần để có tiền mua thuốc cho con và tất nhiên chính bà ta cuối cùng cũng ngã bịnh. Nhưng ước muốn chung của các bà mẹ vẫn là con cái được đến trường học cho có tương lai sán lạn hơn bởi vì các bà mẹ nhận chân rằng “để của lại cho con không bằng để lại chữ nghĩa.”  Ở Việt Nam hiện nay, số học sinh bỏ học ngày một gia tăng gấp bội khiến rất nhiều bà mẹ hết sức đau lòng.

Quan niệm của người xưa đối xử với mẹ như thế nào ?

Mạnh Tử ( Trung Hoa ) viết :

Người con có hiếu thờ cha mẹ : lúc ở thì tôn kính rất mực; khi nuôi thì vui vẻ hết mực; khi bịnh thì lo lắng hết mực; khi mệt thì xót thương hết mực; khi tế thì nghiêm trang hết mực. Cho nên không yêu cha mẹ mà yêu người ngoài là trái đức; không kính cha mẹ mà kính người ngoài là trái lẽ.

Thiên Khúc Lễ có viết :

Hễ làm con thì khi đi phải cho cha mẹ biết; lúc về phải cho cha mẹ hay; chơi phải có chỗ; tập phải có nghiệp; nói năng chớ bảo mình già.

Ðức Khổng Tử nói :

Tuổi của cha mẹ không thể không biết. Biết để mà mừng; biết để còn lo.

Tăng Tử nói :

Cha mẹ yêu thì mừng mà không quên ơn; cha mẹ ghét thì buồn mà không oán; cha mẹ có sai trái thì can mà không làm phật ý.

Thái Công nói :

Mình hiếu với cha mẹ, con mình sẽ hiếu với mình. Còn mình không hiếu, hỏi sao con hiếu được? Hiếu thuận lại sinh con hiếu thuận; ngỗ nghịch lại sinh con ngỗ nghịch. Chẳng tin, hãy xem nước mái nhà: giọt trước nhỏ sao, giọt sau nhỏ vậy.

Ca dao :

Có nuôi con mới biết lòng cha mẹ.

Yên Huỳnh post

KHÔNG CỦA RIÊNG AI (9)

MỘT THIẾU NIÊN

ĐẠP XÍCH LÔ Ở VIỆT NAM

TRỞ THÀNH KHOA HỌC GIA

NGUYÊN TỬ Ở MỸ

Tuần rồi, trên Tạp chí Thanh Niên, chúng ta có dịp làm quen với gương thành công đáng nể của một cậu bé bán thuốc lá dạo ở Việt Nam trở thành một nhà khoa học tài danh ở Mỹ, Giáo sư-Tiến sĩ Trương Nguyện Thành. Trong buổi tái ngộ hôm nay, Trà Mi hân hạnh kể cho quý vị và các bạn nghe một cuộc lột xác đổi đời kỳ diệu khác, từ một thiếu niên đạp xích lô ở Việt Nam biến thành một khoa học gia nghiên cứu vật lý nguyên tử ở Mỹ, Tiến sĩ Võ Tá Đức.

Tiến sĩ Đức hiện công tác tại Phòng thí nghiệm Quốc gia Los Alamos, một trong hai phòng thí nghiệm của Mỹ chuyên nghiên cứu chế tạo các loại võ khí nguyên tử và là một trong các viện nghiên cứu đa ngành lớn nhất thế giới. Cậu bé đạp xích lô ở Việt Nam ngày nào giờ đây đã góp công nghiên cứu sáng chế ra những máy móc, thiết bị dò tìm nguyên tử đang được ứng dụng để ngăn ngừa các hình thức vận chuyển nguyên tử bất hợp pháp vào biên giới Hoa Kỳ.

Là con trưởng trong gia đình 11 anh chị em, năm lên 14 tuổi, cậu bé Võ Tá Đức đã trở thành lao động chính trong nhà vì gia cảnh khó khăn. Ba cậu làm thợ nề, nhưng do bệnh tật nên bị mất sức lao động. Mẹ Đức tảo tần buôn bán lặt vặt chạy bữa qua ngày. Hằng ngày, sau giờ tan học, Đức ăn vội cơm trưa rồi cuốc chiếc xe xích lô rong ruổi khắp mọi góc phố ở Tuy Hòa để kiếm tiền phụ cha mẹ nuôi 14 miệng ăn trong gia đình.

Tiến sĩ Đức nhớ lại :

‘Sau biến cố năm 1975, lúc đó tôi còn rất nhỏ đang học trung học, nhưng vì nhà nghèo quá, nên cũng phải phụ giúp gia đình. Sáng đi học, trưa về ăn cơm xong liền xách xích lô chạy. Đạp xích lô tới chiều tối. Ăn cơm tối xong lại lên xe đi tiếp. Tôi chỉ học buổi sáng, đạp xích lô từ trưa tới sáng hôm sau luôn. Tối đến tôi đậu xích lô ở bến xe ngủ. Hễ nghe tiếng xe đò tới thì tôi tỉnh dậy, chạy về nhà tắm rửa, thay quần áo đi học. Lúc đó tôi đâu có thời giờ học đâu, thỉnh thoảng khi rãnh, tôi ngồi trên xe xích lô lấy bài vở ra làm chút chút vậy thôi. Thời đó, tôi học rất dở vì không có giờ học.’

5 năm trời dầm mưa dãi nắng còng lưng trên chiếc xích lô đạp, việc học hành của Đức hoàn toàn sa sút, nên cậu đã không thi đại học. Tới năm 1981, ba Đức cố xoay sở tìm cách cho cậu theo một người bà con trong Nam đi vượt biên, và cũng từ đó, cuộc đời cậu bé đạp xích lô bước sang một ngã rẽ mới. Thời gian trong trại tị nạn chờ được một nước thứ ba cho đi định cư chính là giai đoạn bước ngoặt đối với Đức, khi chàng thanh niên lam lũ, cơ hàn quyết chí phải đổi đời, phải phấn đấu tiến thân bằng con đường học vấn.

Tiến sĩ Đức cho biết :

“Vượt biên qua tới trại tị nạn, tôi cảm thấy như vậy là từ đây mình có cơ hội đi học, phát triển. Ngay từ lúc đó, tôi đã quyết định phải cố gắng học hành cho thành tài. Còn hồi trước ở Việt Nam, tôi không dám có ước mơ đó vì đi đạp xích lô cả ngày, học hành sao được mà có ước mơ học cho thành công?”

Sau thời gian ở trại tị nạn, anh tới Mỹ và được một gia đình ở bang Iowa nhận làm con nuôi. Thành tích học tập của chàng trai nghèo từ Việt Nam bắt đầu tỏa sáng sau 1 năm rưỡi ở trường trung học Mỹ.

Thông thường sinh viên ở Mỹ khi vào đại học phải trả học phí. Ngoài một số ít sinh viên xuất sắc nhận được học bổng, đa số phải vay từ các nguồn quỹ hỗ trợ của chính phủ dành cho sinh viên. Thế nhưng, cậu bé đạp xích lô ở Tuy Hòa suốt thời gian đại học và cao học ở Mỹ không phải trả bất kỳ khoản tiền học phí nào, nhờ vào thành tích lao động trí óc cần cù. Năm học lớp 12, Đức đoạt giải nhất một kỳ thi khoa học cấp tiểu bang, mang lại cho cậu học trò nghèo học bổng toàn phần cho suốt 4 năm học ở khoa vật lý trường đại học Bắc Iowa. Tốt nghiệp đại học, anh đi thẳng vào chương trình tiến sĩ chuyên ngành vật lý nguyên tử, và trong suốt thời gian cao học, anh liên tục nhận được các nguồn học bổng dành cho nghiên cứu sinh. Còn các khoản sinh hoạt phí khác anh trang trải từ thu nhập làm trợ giảng cho các vị giáo sư.

Tiến sĩ Đức cho biết những điều kiện học tập có được ở Mỹ đã khuyến khích ông thêm say mê học tập, nên ông đã không dừng lại ở tấm bằng đại học như dự định ban đầu :

‘Mình đi học ráng học cho lẹ, lấy thiệt nhiều lớp để mau ra trường lấy bằng đi làm kiếm tiền gửi về Việt Nam phụ gia đình. Nhưng tới lúc học gần xong đại học, tôi lại thấy sức mình vẫn còn đi học tiếp được. Cho nên năm cuối đại học, tôi lại nộp đơn xin vào cao học. Tôi thấy vấn đề học hành không khó lắm. Nếu mình chịu khó thì chuyện gì cũng vượt qua được hết. Mỹ là một nước tự do và có cơ hội để mọi người, ai có chí, thì có thể làm nên. Tôi nghĩ nếu không qua Mỹ mà còn ở Việt Nam thì giờ này chắc tôi cũng còn đạp xích lô, không có cơ hội để phát triển thành tài. Nghĩa là phải có cơ hội nào đó đưa đến cho người ta có dịp để phát triển tài năng. Đối với tôi, cơ hội đưa đến là được qua Mỹ để rồi được phát triển đầu óc. Ở Mỹ này tôi thấy nếu mình chịu khó học sẽ có cơ hội đưa cuộc sống mình đi lên. Còn ở Việt Nam, dù cũng có, nhưng cơ hội không đồng đều.’

Ai có ngờ một nhà khoa học đang làm việc cho một phòng thí nghiệm nguyên tử nổi tiếng ở Mỹ xuất thân là một người đạp xích lô ở bến xe Tuy Hòa. Điều kỳ diệu ấy đã xảy ra đối với Tiến sĩ Võ Tá Đức thì cũng có thể xảy ra với các bạn, nhất là các bạn trẻ nghèo khó tại Việt Nam, nếu các bạn quyết tâm phấn đấu, cần cù chịu khó học tập để thay đổi số phận của mình.

Tiến sĩ Đức : ‘Một thông điệp tôi muốn nói với các bạn trẻ ở Việt Nam, nhất là các bạn nghèo, rằng nếu có ý chí sẽ vượt qua được những khó khăn. Nếu các bạn chịu khó đặt một mục đích nào đó cho tương lai, cho cuộc sống của mình và ráng sống theo mục đích đó, thì sẽ thành công.’

Cùng với thông điệp của tiến sĩ Đức, Tạp chí Thanh Niên xin chúc các bạn thành công và luôn sẵn sàng giới thiệu câu chuyện thành công của các bạn với quý thính giả của đài VOA ở khắp nơi trên thế giới. Qúy thính giả muốn chia sẻ những câu chuyện thành công, xin email số phone vềvietnamese@voanews.com.

Trà Mi mong được ghi nhận thêm nhiều gương vượt khó vươn lên khác nữa của người Việt bốn phương để gửi tới các bạn trẻ Việt Nam.

Tạp chí Thanh Niên mong được đón tiếp quý vị và các bạn trên làn sóng phát thanh của đài VOA trong chương trình 10 giờ tối thứ sáu và chủ nhật hằng tuần cũng như trên trang web voatiengviet.com, trong phần Chuyên mục đặc biệt ngay trang chính.

MẶT TRỜI TRONG CHAI

Dự án Chai mặt trời trở thành tâm điểm thu hút sự chú ý của cộng đồng mạng trong thời gian vừa qua.

Đó là khi đoạn phim Chai mặt trời 2012

(http://www.youtube.com/watch?v=VjlV3Oe2GsA)

được đăng tải trên YouTube, hướng dẫn chi tiết cách thực hiện Chai mặt trời, tức làm đèn ánh sáng mặt trời trong… chai nước, cũng như cách lắp đặt nó lên mái nhà. Kể từ đó, đoạn phim này được tải về và giới thiệu rộng rãi trên khắp các diễn đàn về môi trường và mạng xã hội như Yume, Facebook…

Chai mặt trời (The Solar Bottle Bulb) là một dự án cộng đồng có mục tiêu đưa giải pháp về ánh sáng cho cộng đồng thu nhập thấp, được xây dựng từ mô hình Ánh sáng từ chai nước phát kiến lần đầu tiên năm 2008 tại Brazil và ngay trong những năm tiếp theo đã được nhân rộng tại Phillipines. Việt Nam là quốc gia thứ ba tiếp nhận sáng kiến này.

Đồng thời, đây còn là một dự án nằm trong chiến dịch Một giờ trái đất khác biệt diễn ra từ ngày 15/2 đến 31/3, với hàng loạt các hoạt động trên toàn quốc nhấn mạnh vào mục tiêu mang lại giải pháp thực tế cho vấn đề về năng lượng và nguyên liệu bền vững, góp phần giảm phát thải CO2 và nâng cao nhận thức người dân để đóng góp vào việc giảm thiểu biến đổi khí hậu.

Thực hiện Chai mặt trời

Chai mặt trời dựa trên nguyên lý rất đơn giản, dùng vỏ chai nước đã qua sử dụng, làm sạch và đổ đầy nước. Thêm vào một lượng Chlorine theo tỷ lệ nhất định (thường khoảng 10 ml Chlorine), sau đó đem lắp đặt ở mái tôn sao cho một phần của nó tiếp xúc với ánh sáng mặt trời, phần còn lại tiếp xúc với không gian sống. Sử dụng thêm hỗn hợp keo và xi măng làm chất kết dính để dán kín vào mái nhà. Khi đó, Chai mặt trời sẽ phát sáng với độ quang phổ tương đương một bóng đèn 55-60W. Chỉ cần thay nước cho Chai mặt trời mỗi năm một lần là đã có thể có một thiết bị chiếu sáng thân thiện với môi trường và không cần dùng điện.

Tại Sài Gòn, sáng 18/3 hệ thống đèn ánh sáng mặt trời trong chai nước thuộc dự án Chai mặt trời được lắp đặt thử nghiệm tại các hộ dân thuộc tổ 22, KP.3, P.5 ở quận 4. Bà Tuyết Anh, chủ hộ được lắp đặt Chai mặt trời đầu tiên ở đây, vui mừng cho biết : “Với cách làm này, từ nay không còn phải lo lắng về giá điện nữa. Thật bất ngờ vì không tưởng tượng được những chai nước lại có thể mang ánh sáng cho cả căn nhà mà không cần dùng điện”.

Yên Huỳnh post

NHỮNG BỨC TRANH LỘNG LẪY

VỀ CÁC LOẠI CHIM

Dưới bàn tay tài hoa của nghệ sĩ, các loài chim hóa thân vào các bức vẽ một cách rực rỡ, sống động y như thật.

1/- vẻ kiêu hảnh của chim thiên đường (Rird – of – Paradise). 2/- Chim rẻ quạt “hoàng gia” (Yoyal Flycatcher) và một con Manakin mũ đỏ. 3/- Chim Tanager ở Trung Mỹ, Nam Mỹ. 4/- Chim vàng anh (Oriole) ở Trung Mỹ, Nam Mỹ. 5/- Chim Cuckoo sóc (Squirrel Cuckoo)

6/- Chim Motmot Mexico. 7/- Đại bàng đầu hối rượt chim ưng biển. 8/- Một tổ chim Anhinga và những con cò. 9/- Những con diệc đầu đen và đầu vàng. 10/- Diệc bạch lớn

11/- Diệc bạch lông tuyết. 12/- Bồ nông. 13/- Chim thiên đường xanh. 14/- Chim Sicklebill. 25/- Ngỗng Canada

(Theo Đỗ Quyên)

ĐẢO LÝ SƠN

VỚI ĐẶC SẢN HOÀNG SA…

Một ngày đẹp trời đi ra đảo Lý Sơn thuộc tỉnh Quảng Ngãi nằm trong vùng biển Hoàng Sa của Việt Nam, để thăm người bạn chiến đấu đang canh giữ vùng trời vùng biển nơi đây. Người bạn đã đưa đi thăm các nơi và sau đó chiêu đãi những món ăn đặc sản của vùng biển này.

Đảo Lý Sơn hay còn gọi là cù lao Ré, cách đất liền khoảng 25 cây số. Đảo Lý Sơn gồm hai hòn đảo gọi là đảo Lớn và đảo Bé, cách nhau chừng 2 hải lý với tổng diện tích 9,97 ki lô mét vuông,

Chùa Đục

Chùa Đục được xây dựng trong một hang đá trên núi, bên ngoài cửa hang là tượng Phật Quan Âm cao 27 mét, với nét mặt hiền từ hướng ra biển như ban ơn cho những ngư dân trên bước đường mưu sinh.

Giếng vua

Cách Nhà trưng bày Hải đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải khoảng 200m, men theo con đường nhỏ, cạnh cánh đồng tỏi sẽ đến giếng nước độc đáo này. Chỉ cách mép nước biển vài mét, sâu khoảng 5m, Giếng Vua là nguồn nước ngọt độc nhất vô nhị trên hòn đảo bởi dù có bị gió bão, sóng biển tràn vào nhưng nguồn nước vẫn rất trong lành và không giếng nào ở đảo có vị ngọt như ở giếng này.

Người dân nơi đây tương truyền rằng : khi Nguyễn Ánh (sau này là Vua Gia Long) bị quân Tây Sơn truy đuổi, ông chạy dạt ra Lý Sơn. Đang mùa nắng hạn, lương thảo và nguồn nước ngọt bị cạn kiệt, ông cho quân sĩ đào giếng khắp đảo nhưng không có nước. Trong lúc sinh mệnh như ngàn cân treo sợi tóc thì đêm đó ông nằm mộng thấy có người mách cho nơi đào giếng. Đúng như điềm báo, chỉ đào sâu chừng hơn một mét là đã thấy nước ngọt.

Lễ hội đua thuyền truyền thống

Hội đua thuyền ở huyện đảo Lý Sơn là lễ hội phát huy bản sắc thuần phong mỹ tục của tổ tiên bao đời ở Lý Sơn truyền lại. Hằng năm cứ đến ngày mùng 4 Tết và dịp tổ chức lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa, nhân dân Lý Sơn lại tưng bừng tổ chức lễ hội đua thuyền tại đình làng An Vĩnh và An Hải để tri ân các vị “Tiền hiền khai khẩn, hậu hiền khai cư” đối với đảo Lý Sơn…

Lễ hội đua thuyền ở Lý Sơn là một lễ hội lớn tuy nhiên ít người biết đến vì xa cách đất liền. Lễ hội được tổ chức linh đình, chu đáo và tôn nghiêm mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Trước khi đua thuyền, tại các đình làng tổ chức lễ cúng bái các vị tổ tiên tiền hiền.

Đặc sản Lý Sơn

1/- Cá kìm tươi rói vừa mang dưới biển lên. Giãy đành đạch như muốn xuống lại biển. Hàng này, chỉ có ở Lý Sơn – Quảng Ngãi. 2/- Muốn ăn thì phải lăn vào bếp : để nguyên cá kìm và kẹp vỉ nướng ngay tức thì. 3/- Mẻ lưới này có dính ít cua, ốc nên cũng tiện củi làm 1 nồi to luôn. Đầu tiên là cua biển luộc đỏ au, chắc nình nịch nhìn phát them.

4/- Ốc gõ này, gõ 2 con vào nhau, thân ra thân vỏ ra vỏ luôn. 5/- Cá kìm… khỏa thân sau khi nướng. 6/- Ra Lý Sơn, không thể thiếu món tỏi tươi luộc với hành lá. Thứ này ăn vô là nổi sung thiên.

7/- Ốc Hoàng Sa xịn, vừa được ăn vừa có vỏ mang về làm kỷ niệm. 8/- Cá nhám : Thịt trắng, xương xanh. 9/- Cá mú, nấu cháo ăn thôi hết biết đường về đất liền.

10/- Rau tóc tiên, chỉ duy nhất có ngoài Đảo Bé và sống trên đá. 11/- Vắt chanh, trộn lạc, ớt, rau thơm và ăn sống. Giòn sần sật, ngọt lịm. 12/- Cá cơm, cá kìm  phơi khô, đến chỗ nào trên đảo cũng thấy.

Hoàng Nguyễn post

NGƯỜI AMISH VÀ LỀ THÓI CỔ XƯA

NGAY GIỮA LÒNG NƯỚC MỸ

Ở nước Mỹ hiện đại với xe hơi, nhà cao tầng và lối sống đầy tiện nghi, công việc đồng áng được cơ giới hóa tối đa, ấy vậy mà có những cộng đồng của người Amish sinh sống ở đây lại nhất định không theo lối sống văn minh hiện đại, cương quyết giữ lấy lề thói cũ, tự túc, tự cường, dùng sức lao động trong công việc đồng áng và họ được tự do phát triển ở một nước Mỹ đa dạng về sắc tộc, có những tiến bộ về khoa học, kỹ thuật, công nghệ được coi như hàng đầu của thế giới.

Câu Chuyện Nước Mỹ hôm nay mời quí vị nghe tường thuật về lối sống an bình của người Amish qua báo chí Mỹ và qua cuộc phỏng vấn một cư dân người Mỹ sống gần cộng đồng của những người này tại phía bắc bang New York. (Lan Phương)

Người Amish

Người Amish sinh sống trong các cộng đồng khá biệt lập của riêng họ tại các bang Pennsylvania, Ohio, New York, Indiana và một số nơi khác ở nước Mỹ cũng như Canada. Về dân số tại Bắc Mỹ, các cộng đồng này giờ đây gồm khoảng 250 ngàn người. Đây là nhóm người thuộc giáo phái Ki-tô cổ từ thế kỷ thứ 16 tại châu Âu. Nhóm Amish đông đầu tiên từ châu Âu đến Hoa Kỳ định cư năm 1730 gần quận Lancaster, bang Pennsylvania.

Người Amish không thích sử dụng bất cứ những phương tiện hiện đại nào mà họ cho là làm suy yếu nền tảng gia đình. Những tiện nghi mà hầu hết người Mỹ coi là đương nhiên phải có và đương nhiên phải sử dụng như điện, điện thoại, truyền hình, xe hơi, máy cày, người Amish hầu như không dùng vì chúng bị coi là những thứ quyến rũ có thể khiến con người chạy theo những xa hoa phù phiếm, gây bất bình đẳng giữa người với người hay sẽ lôi cuốn người Amish xa rời cộng đồng chặt chẽ của họ, vì thế việc sử dụng những phương tiện đó không được khuyến khích hay chấp nhận trong hầu hết các giáo khu của họ. Về cách ăn mặc, người Amish hết sức giản dị. Biểu tượng cho niềm tin tôn giáo, lối trang phục của người Amish khuyến khích đức khiêm tốn, chỉ một màu trơn, thường là màu tối không kiểu cọ sặc sỡ.

Đàn ông không thắt cà vạt, trước khi lập gia đình họ cạo râu nhưng sau khi cưới vợ họ để râu dài. Phụ nữ vận áo tay dài, váy dài, không cắt tóc. Tóc họ để dài thắt bím hoặc búi tó. Trẻ em đi học trong những trường riêng của cộng đồng và thường đến lớp 8 rồi thôi, để học cách sống và sinh hoạt trong gia đình theo lề lối cổ xưa và theo những giá trị được định trong các giáo điều của họ.

Bà Cathy Ingraham, một cư dân sống trong quận Seneca tại miền bắc bang New York, nơi có một cộng đồng người Amish, cho biết về sinh hoạt và kế sinh nhai của họ :

“Trẻ em rất dễ thương, ngoan ngoãn. Họ có một cộng đồng lớn, thường làm việc chung với nhau, họ trồng trọt, có những sạp bán hàng nơi khách có thể đến mua rau quả, họ nuôi gà lấy trứng bán, một số có trại nuôi bò sữa để lấy sữa và làm những phó sản của sữa. Một số thì làm nghề đóng đồ đạc hay làm nghề xây cất hoặc sửa chữa nhà cửa. Họ cày cấy bằng ngựa. Tôi đã chứng kiến một cái cày của họ được 6 con ngựa mang đi trên đường. Ngựa của họ to khỏe và rất đẹp. Ngoài những rau quả, họ còn nướng các loại bánh đem bán nữa. Họ có một loại bánh nướng đặc biệt gọi là Shoofly. Họ còn may, bằng tay, rất nhiều những tấm phủ giường (quilt) thật đẹp. Và đấy là những cách kiếm sống của họ, ít nhất là trong vùng mà chúng tôi ở.”

Họ không mua xe hơi, họ đi xe ngựa kéo và nơi những vùng có cộng đồng người Amish, mọi người thỉnh thoảng lại thấy họ rong ruổi trong những chiếc xe ngựa trên đường. Bà Ingraham mô tả thêm một số chi tiết mà bà được chứng kiến.

“Tôi thấy họ đi xe ngựa đến Wal Mart, bỏ xe ngựa ở bên ngoài và vào trong tiệm mua hàng. Họ cũng có một số cửa tiệm trong cộng đồng của họ, do họ làm chủ hoặc do người Mennonite, thường là do người Mennonite làm chủ nhiều hơn vì sắc dân này sử dụng điện, cửa hàng thì cần có điện.” (Mennonite cũng là một giáo phái Tin lành thiểu số có khá nhiều điểm chung với nhóm Amish)

Bà Ingraham thuật lại về một lề thói cổ xưa mà họ vẫn duy trì khi bà thuê mướn một người Amish đến giúp sửa chữa trong nhà:

Một trong những điều đặc biệt lý thú của người Amish làm việc cho chúng tôi lần đó là khi chồng tôi đến đón, trời vẫn còn tối vì vào mùa đông, người đàn ông này xách một cái đèn dầu ra ngoài vì họ không dùng đèn pin. Lý thú bởi vì nhìn thấy một người đàn ông xách chiếc đèn dầu đứng giữa trời tuyết lạnh giống như người đến từ nhiều thế kỷ trước vậy đó.

Đối với văn hóa của người Amish, gia đình là đơn vị xã hội quan trọng nhất. Những gia đình với 7 đến 10 con là chuyện rất thường. Cha mẹ, con cái cùng chung sức lo chuyện nhà cửa và kiếm sống theo như vai trò của nam nữ trong một gia đình người Amish, đàn ông con trai thường làm việc đồng áng còn đàn bà con gái thì nấu nướng, giặt giũ, dọn dẹp nhà cửa cũng những chuyện tề gia nội trợ khác. Theo truyền thống, ngoại trừ vài trường hợp ngoại lệ, người cha được coi là trưởng gia đình.

Người Amish chỉ kết hôn với người Amish mà thôi. Không có chuyện kết hôn với người thuộc thành phần khác. Họ không được phép ly dị và các trường hợp ly thân rất hiếm khi xảy ra.

Theo tài liệu loan tải trên tờ USA Today ngày 14 tháng 9 năm 2010, dân số của các cộng đồng Amish đang tăng nhanh. Tại miền bắc nước Mỹ, trong năm 2010, mức gia tăng dân số là 5% và liên tiếp tăng ở mức đó trong suốt 4 năm liền. Theo ước tính, dân số Amish ở bắc Mỹ sẽ tăng lên gấp đôi vào năm 2024 nếu nhịp độ này cứ giữ đều đặïn như vậy.

Bà Ingraham cũng có cùng một nhận xét về mức độ gia tăng dân số và đưa ra ấn tượng rất tốt về người Amish :

“Cộng đồng của họ mở rộng hơn vì nếu có con, người ta cần bảo đảm là phải cung cấp đầy đủ những nhu cầu cho con cái. Vì thế dường như họ đang mua thêm đất, mở rộng nông trại của họ. Từ giữa cho đến cuối thập niên 1975, khi chúng tôi dọn tới vùng này, kinh tế rất yếu kém, giờ đây thì có rất nhiều nông trại, với nhiều người Amish và Mennonite, lợi nhuận thu về tăng gấp bội. Dường như là họ đang mở rộng cộng đồng vì nếu có con họ cần phải có nông trại cho con họ. Họ là những người hết sức tử tế, sống cuộc sống tự trọng, giữ gìn danh dự và họ là những người láng giềng tuyệt diệu.”

(theo Lan Phương – trong Câu chuyện nước Mỹ)

MỘT VÀI MẨU TRUYỆN

ĐÁNG SUY NGẪM (2)

TẠM THỜI

Một vị thầy tâm linh nổi tiếng đến trước cửa lâu đài của vị vua nọ. Vì Thầy nổi tiếng rồi nên các người lính canh không ai chặn ông lại khi ông đi vào và tiến thẳng đến trước mặt nhà vua đang ngồi trên ngai vàng.

– Ông muốn gì ? – nhà vua hỏi.

– Tôi muốn có một chỗ để ngủ trong cái quán trọ này, ông ta đáp.

– Nhưng đây không phải là quán trọ, đây là tòa lâu đài của ta, Vua trả lời.

– Xin hỏi bệ hạ rằng ai là sở hữu tòa lâu đài này trước bệ hạ?

– Vua cha ta, Ngài đã chết rồi.

– Và ai là sở hữu trước cha của bệ hạ?

– Ông nội của ta, Ngài cũng đã chết.

– Và cái chỗ này, nơi mà người ta sống một thời gian ngắn rồi dọn đi. Như vậy thì nó không phải là một quán trọ mà bệ hạ đang ở đó hay sao ?

 Lời bàn: Vị thầy muốn cho nhà vua biết tòa lâu đài không phải của ông ấy. Nếu tòa lâu đài tiêu biểu cho sự sống của nó thì nó thuộc về ai? Sự sống có thuộc về người nào hay không ?

Sớm hay muộn gì tất cả chúng ta đều phải dọn đi, kể cả đời này và nhiều đời sau nữa!
Chuyện này biểu lộ rằng người quyền thế nghĩ là quyền lực của họ thường hằng. Nhưng không có gì trong cuộc đời này là thường hằng. Người như vậy cần được đặt vào vị trí của họ.

Chúng ta sống và chết và không bao giờ thực sự sở hữu bất cứ thứ gì. Có mấy người nghĩ sâu xa về điều này. Vật chất và của cải làm cho bạn nghĩ rằng mọi thứ tồn tại vĩnh viễn. Điều đó ngược lại sự nhận biết rằng mọi thứ trên đời này đều vô thường.

NGƯỜI THỢ XÂY CẤT

Người thợ mộc già nọ làm việc rất chuyên cần và hữu hiệu lâu năm cho hãng  thầu xây cất nọ. Một ngày kia, ông ngỏ ý với hãng muốn xin nghỉ việc về hưu  để vui thú với gia đình. Tuy không còn có đồng lương nhưng ông ta muốn nghỉ  ngơi để an hưởng tuổi già.
Hãng xây cất cũng vô cùng luyến tiếc là sẽ thiếu đi một người thợ giỏi đã tận tụy nhiều năm. Hãng đề nghị với ông cố gắng ở lại giúp hãng xây cất một căn nhà chót truớc khi thôi việc. Ông ta nhận lời vì biết mình sẽ giải nghệ, cùng với sự miễn cưỡng, ông ta làm việc một cách tắc trách qua quít, xây cất căn nhà với những vật liệu tầm thường kém chọn lọc miễn có một bề ngoài đẹp đẽ mà thôi.

Mấy tháng sau, khi căn nhà làm xong, ông đuợc ông chủ hãng mời tới, đưa cho ông chiếc chìa khóa của ngôi nhà và nói : “Ông đã phục vụ rất tận tụy với hãng nhiều năm, để tưởng thưởng về sự đóng góp của ông cho sự thịnh vượng của hãng, hãng xin tặng ông ngôi nhà vừa xây xong !”

Thật là bàng hoàng. Nếu người thợ mộc biết là xây cất căn nhà cho chính mình thì ông ta đã làm việc cẩn thận và chọn lựa những vật liệu có phẩm chất hơn. Sự làm việc tắc trách chỉ có mình ông tự biết và nay thì ông phải sống với căn nhà mà chỉ có riêng ông biết là kém phẩm chất.

Lời bàn: Câu chuyện này cũng giống như chuyện đời của chúng ta. Chúng ta giống như người thợ già kia thường tạo dựng một đời sống hào nhoáng, tạm bợ, đua đòi không chú trọng tới phẩm chất của nó. Nhiều khi ngồi kiểm điểm những sự bê bối của mình trong quá khứ thì chúng ta thấy mình đang phải cam chịu những hậu quả của nó. Đời là một công trình kiến trúc do chính mình tạo nên. Đời sống hiện tại là kết quả của sự tạo dựng trong quá khứ, đời sống ngày mai sẽ là kết quả của sự tạo dựng hôm nay. Hãy xây dựng đời mình một cách đúng đắn.

Mỹ Nhàn Post

KHÔNG CỦA RIÊNG AI (1)

CHUYỆN THƯỜNG NGÀY Ở HUYỆN

CON CHÁU “VIP” & NHỮNG CHUYỆN

CÓP NHẶT VỀ GIÁO DỤC

Ông Trần Đăng Khoa – một nhà văn – gọi việc vi phạm rồi ngạo mạn coi thường pháp luật là “Chuyện thường ngày ở huyện”. Bởi những vụ việc như thế nhan nhản và diễn ra hàng ngày…

Có một vụ việc vừa nổi cộm trên tất cả các phương tiện truyền thông, báo chí. Đó là chuyện một gã trọc phú, đi chiếc xe BMW X6 hạng sang, có giá gần bốn tỷ đồng, chở bốn người, không có biển số và bằng lái, bị đội CSGT4 yêu cầu dừng lại để kiểm tra, đã không những không chấp hành, mà còn ngạo mạn coi thường pháp luật, lại ngông nghênh tự giới thiệu là người nhà của một vị quan chức cao cấp trong ngành công an, rồi mang tên tuổi vị cán bộ đó ra hù dọa những người thi hành công vụ.

Tôi gọi đó là “Chuyện thường ngày ở huyện”. Bởi những vụ việc như thế có thể nhan nhản diễn ra hàng ngày, không phải chỉ ở khu vực Hà Nội. Thì cũng đã từng có những kẻ ngông cuồng, cậy thế ông quan bố, đua xe ô tô trên đường Hòa Lạc, đâm chết một lúc cả mấy cháu học sinh, mà cứ nhơn nhơn như chẳng có chuyện gì. Hay như cách đây không lâu, một gã cũng hống hách không những đã chống lại người thi hành công vụ, mà còn múa kiếm trước trạm kiểm soát sân bay Tân Sơn Nhất, để lại nỗi kinh hoàng và kỳ dị trong con mắt bạn bè quốc tế và đồng bào trong nước, cùng khách vãng lai.

Rồi những gã không đội mũ bảo hiểm, bị cảnh sát giữ lại, thay cho việc xuất trình giấy tờ, là rút điện thoại gọi cho người thân đến “giải cứu”. Những chuyện tương tự như vậy thì nhiều lắm, không thể kể xiết, vì vậy, một vụ việc nổi cộm đến như vậy giờ cũng không còn là việc nổi cộm nữa, mà đã hóa nhàm, đã thành chuyện vụn vặt, như “chuyện thường ngày ở huyện”.

Cái chúng ta quan tâm là hiện tượng của vụ việc này, hoặc những việc tương tự như thế này. Đó là thái độ nhơn nhơn, coi thường pháp luật, đang có nguy cơ trở thành một căn bệnh “nhờn thuốc”. Nguyên nhân nào đã dẫn đến những căn bệnh trầm kha ấy?. Liệu có thang thuốc nào điều trị được không ?

Bàn về những hiện trạng phản cảm, đã trở nên phổ biến này, Tiến sĩ Xã hội học Trịnh Hòa Bình cho rằng, đó là sự hiện hình của văn hóa Tiểu nông cố hữu, “một người làm quan cả họ được nhờ”. Bởi thế có những kẻ, chẳng có người “làm quan”, cũng mạo nhận cháu ông nọ bà kia, một cách “mượn hùm beo dọa khỉ”. Sở dĩ có chuyện đó, cũng vì một vài người thi hành công vụ nể nang, sợ hãi, nên xuê xoa, việc nặng thành việc nhẹ, rồi cho qua. Từ đó dẫn đến chuyện người nọ mượn danh người kia hù dọa lẫn nhau. Kẻ thi hành công vụ “tránh voi chẳng xấu mặt nào”, tốt nhất là không nên cà khịa với sếp, cũng chẳng dại động đến cái ô của người thân sếp. Từ đó dần hình thành thói quen, rồi thành tâm lý lây lan  khắp cộng đồng.

Để chấm dứt vấn nạn cứ vi phạm giao thông lại mượn oai hùm giải cứu, dọa nạt, cần tôn trọng pháp luật. Con cái cán bộ trong ngành hoặc ở cấp cao hơn nữa, cũng phải bị trừng trị. Ta hiểu vì sao Bộ trưởng Công an Trần Đại Quang trong phiên họp Quốc hội ngày 23/11 vừa rồi, đã phải lên tiếng kêu gọi : “Tôi đề nghị nghiêm cấm lãnh đạo các cấp và cán bộ công chức nhà nước can thiệp vào những vụ việc xử lý an toàn giao thông, để mọi vi phạm đều phải được xử lý nghiêm minh…” Đó là một việc làm đúng đắn và cần thiết. Nhiều khi con cái hư hỏng lại vì các bậc cha mẹ.

Tôi chợt nhớ đến một ông già cựu chiến binh. Thi thoảng vào những lúc rỗi rãi, ông cụ hay sang nhà tôi chuyện phiếm. “Tại sao chỉ có mấy cái việc lặt vặt đua xe, vi phạm giao thông, với trộm cắp, ma túy, mà ta cứ để lây nhây mãi. Tội phạm mỗi năm không thuyên giảm mà lại còn tăng lên. Tôi nghĩ đã đến lúc chúng ta cần phải có một bàn tay sắt anh ạ. Cứ triệt để nghiêm khắc rồi đâu sẽ vào đấy hết. Chẳng biết anh nghĩ thế nào chứ cứ như tôi, tội đâu phải xử đấy. Ngay cả bọn trọng tội cũng chẳng giam nhốt làm gì. Cơm gạo đâu mà nuôi bọn chúng. Dân mình vẫn còn nhiều người thiếu ăn. Ta cứ giải tán quách hết nhà tù đi, lấy đất xây trường học”.

Tôi hỏi : “Bỏ nhà tù thì bọn tội phạm nhốt ở đâu hả cụ ?”. “Ta giam chúng tại gia. Hình như ở nước ngoài, người ta làm thế đấy. Một cách làm hay như vậy tại sao mình lại không tham khảo họ ?”. “Mỗi nước có một cách xử lý riêng cụ ạ. Vả lại, chuyện giam tại gia ấy, hôm nay tôi mới nghe cụ nói đấy…”. “Còn tôi thì lại nghe dân đồn. Nếu ở nước ngoài không có chuyện như thế thì biết đâu đó lại là nguyện vọng của dân. Kẻ nào mắc tội, cứ nhốt vào cũi giam ngay tại nhà. Gia đình phải nuôi nấng phục dịch. Cũi cứ để chềnh ềnh giữa nhà hay giữa phòng khách. Thế thì đứa nào không khiếp. Tiền đóng cũi gia đình phải chịu. Công an chỉ đóng dấu niêm phong, rồi thi thoảng qua lại kiểm tra. Ai vi phạm qui định thì phạt thêm nữa. Nếu kẻ tội phạm có bố mẹ là những vị có chức có quyền thì ngay lập tức các vị quyền chức ấy phải bay khỏi chức vụ…”.

“Ấy chết ! – Tôi kêu lên. – Ai có tội thì người đó phải chịu chứ. Sao lại bắt người khác phải chịu thay…”. “Thế chả nhẽ bố mẹ không phải chịu trách nhiệm gì về những hành vi càn quấy bậy bạ của con cái sao ?- Ông già bỗng sừng sộ. – Nhiều kẻ chỉ ỷ vào bố mẹ hoặc có thế lực hoặc có nhiều tiền bạc để rồi càn quấy, chứ con cái nhà nghèo như con tôi, con anh, làm sao chúng dám bậy bạ. Một người đã không dạy nổi con mình thì cũng đừng nghĩ rằng họ có thể lãnh đạo được một cơ quan, một nhà máy hay một xã hội. Tôi chẳng bao giờ tin những anh như thế”…

Ông già bỗng trầm ngâm : “Mà sao bây giờ, có nhiều cán bộ hư thế. Họ hư đã đành, còn tạo điều kiện cho con cái hư. Nhiều đứa cũng chỉ tầm tầm mà đưa vào hết ghế này, ghế nọ. Ngày xưa có như thế đâu. Bản thân cán bộ là những tấm gương sáng. Con cái họ cũng là tấm gương sáng, cũng vào sinh ra tử. Nhiều người đến nay cũng vẫn chẳng tìm thấy được hài cốt. Tôi cùng đơn vị với con Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Anh ấy giỏi và tốt lắm, nhưng chức vụ cũng mèng mèng, còn thua cả cái chức của tôi. Mà tôi chỉ là con một ông lão thợ cày. Anh có biết ông Hồ Ngọc Đại không ?”. “Tôi có nghe tên…”. “Ông Hồ Ngọc Đại là con rể Tổng Bí thư Lê Duẩn. Một Giáo sư Tiến sĩ Triết học rất giỏi, rất nổi tiếng ở Nga. Người ta mời ông ấy về làm Thứ trưởng Bộ Giáo dục, rồi từ đấy có thể làm Bộ trưởng, vào Trung ương. Một con đường lụa đỏ đã được trải sẵn. Nhưng ông ấy lại chỉ xin được làm một ông giáo dạy lớp 1. Giáo sư Tiến sĩ lại đi dạy lớp 1. Anh thấy lạ không ?

Hình như hồi ấy, còn sớm lắm, từ những năm 80 của thế kỷ trước, ông Đại đã nhận ra cái cách giáo dục của mình có vấn đề. Và ông ấy muốn làm lại, bắt đầu từ cái nền móng. Thế rồi ông dựng trường thực nghiệm, với cách dạy và học hoàn toàn mới. Thày không dạy những con vẹt mà đào tạo những con người, bày cho các em một phương pháp tư duy chứ không phải chỉ thụ động lặp lại những gì thày đã nói trên lớp. Nhờ thế chúng ta mới có được những Ngô Bảo Châu. Ngay cả lúc đăng quang, khi đã trở thành một nhà toán học lỗi lạc thế giới, Giáo sư Ngô Bảo Châu vẫn nhớ đến thày Hồ Ngọc Đại, vẫn ám ảnh về một ông thày đúng là một ông thày. Và ông thày ấy cho đến nay, vẫn bình dị một ông giáo dạy tiểu học. Chúng ta đã từng có những lớp người như thế, những cán bộ như thế. Và cùng với họ là một xã hội dường như không có tội phạm. Một xã hội sạch sẽ và trong trẻo”

Nguyễn Văn Danh post (theo Trần Đăng Khoa)

NGÀY XUÂN TÌM NGHĨA

MAI, LAN, CÚC, TRÚC

Hàng nghìn năm nay phương Đông quen với bốn vị quân tử của loài hoa là Mai, Lan, Cúc, Trúc. Đọc những âm Hán Việt này cho người ta cảm giác có vẻ đặc mùi Tàu khiến cho nhiều người nghĩ rằng, những cái tên ấy cùng tục thưởng hoa cũng từ Trung Hoa truyền tới. Xin thưa, đó là điều ngộ nhận từ xa xưa, khiến người ta quen dần mà tưởng là thực.

Nếu căn cứ vào âm Hán Việt, ta chỉ thấy đó là tên của bốn loài hoa mà không còn ý nghĩa nào khác. Nhưng khi đọc chúng theo dạng chữ Nôm (chữ Việt cổ) thì lại khác.

– Hoa Mai (梅). Chữ (梅) được ghép bởi 木 = Mộc + 每 = Mỗi. Quảng Đông đọc ”每 = Mủi / mụi”. Triều Châu đọc là “每 = Muýi”. Đó chẳng phải là vết tích chữ nầy chính là 每 = Mới thời xưa sao ? Tiếng Việt cổ là Mơ rồi chuyển thành Mới rồi thành Mai và cũng là cách đọc Hán Việt từ thời Đường. Người Bắc Kinh đọc là Mỉ, Quảng Đông đọc là Mùi.

Trong tiếng Việt có những từ Mơi, Mơ, Mai để chỉ cái mới : sớm mơi, sớm mai, sáng mai, sáng tinh mơ…Loài hoa nở cuối Đông, đầu Xuân đi đầu trong bách hoa để tạo nên mùa hoa mới, đón xuân mới, năm mới nên được đặt tên là Hoa Mới. Rồi Mới biến âm thành Mai. Hoa Mai đứng đầu loài hoa trong vị thế hoa quân tử.

 – Hoa Lan : 蘭 gồm bộ thảo và Môn với Đông. Đông là đang, đang đọc thành Lan. Thật ra chữ nầy là “Đang”, cây hoa Lan đang dính vào bản gổ, cây rừng, v v… Đang dần biến thành “Lan”. Ngày nay tiếng Triều Châu/ Mân Việt vẫn đọc Đông là Tang / Đang; trong tiếng Việt Nam thì là lan tràn. Loài Hoa lan tràn khắp nơi. Trên cành cây, thân cây, bản gỗ mục, trong chậu đất, dưới đất đều mọc lan tràn. Rồi gút biến thành Cúc áo. Hiện nay người ta thống kê được hơn 80.000 ngàn loại “Lan” trên Trái đất ! Chính vì cái sự lan tràn như vậy cho nên gọi là “Lan”. Và cho dù lan tràn khắp nơi nhưng vẫn đẹp, thơm, sạch, “gần bụi trần mà chẳn nhiễm bụi trần” nên được tôn trọng là có tính cách “quân tử “.

– Hoa Cúc : 菊 = Cúc, tiếng Việt xưa có những từ “Cúp”, Gút = thắt gút / nút áo – khuy áo. Ngày xưa dùng vải thắt gút lại làm nút áo dùng, cho nên gọi là “gút”. Gút là kết (tụ lại), kết/tụ, kết/dính, hợp lại gọi là “Gút” rối thành Cúc. Hoa có cả trăm cánh nhỏ “gút” lại cho nên gọi là Hoa Gút – Hoa Cúc. 菊 là chữ tượng hình vẽ bông “gút” gồm bộ “thảo” / cỏ ở phía trên, bên dưới là mượn chữ “米 = mễ” để vẽ ra hình ảnh các cánh hoa nhỏ dính kết “gút” lại. “Gút” dần biến thành “Cúc”. Tiếng Quảng Đông đọc là “Cúc”, Triều Châu đọc là “Kếk”, Bắc Kinh đọc là “júya/chíê” (phát âm Juýa hay chiế của Bắc kinh lại trùng với âm của chữ “tụ” cũng đọc là “juýa / Chiế” – điều nầy chứng tỏ tiếng Bắc kinh vẫn ngầm nói lên ý nghĩa bông Gút/cúc nhiều cánh hoa nhỏ thành ra 1 đóa “Gút”). Trong không khí mùa Thu mát lạnh, dù đôi khi vàng rực, có hơi rực rỡ thì cũng không bao giờ có nét kiêu sa như Mẫu đơn hay hoa Hồng.vì vậy được tôn vinh là có tính cách “quân tử”

– Cây trúc : 竹-TRÚC, cây Mọc thẳng, khi nở hoa thì cây trúc sẻ bị chết…tre tàn thì măng mọc. Chỉ có loài trúc/tre là loài cây thân có từng “đốt”, mỗi đốt là một khúc. 竹 = chữ tượng hình vẽ chữ “đốt”/đốt tre gồm 2 lá tre và 2 đốt của cây tre. “Đốt” dần biến thành “trúc”

Dĩ nhiên, dân nào nói được “đốt” thì cũng đọc và nói được phát âm “Trúc”, chúc, khúc như đã thấy trong tiếng Việt Nam. Những nơi phương ngôn không đọc được “Đ” thì gọi “Đốt” thành ra : Trúc, chúc, chủa …

“Trúc”/ Đường âm-Hán Việt; “chúc”/tiếng Quảng Đông; “chủa”/ tiếng Bắc kinh. Cây trúc luôn đứng thẳng và sống được ở khắp nơi dù là đất cằn cổi vì vậy được tôn trọng là có tính cách “quân tử”.

Như vậy, bốn vị quân tử trong loài hoa :

– Hoa “Mới” chịu lạnh để nở ra chào đón năm mới

– Hoa “Lan” lan tràn khắp nơi trên cả thân cây, dưới đất v. v… để đem cái đẹp và hương thơm cho đời mà khiêm nhường không kiêu sa như hoa Hồng…

– Hoa “Gút” đã gút/cúc/kết các cánh hoa nhỏ lại mà đẹp dịu dàng trong cái lạnh mùa thu, thời tiết càng lạnh thì hoa “Gút” càng đẹp…

– Trúc là cây “Đốt” có “đoạn”/ và luôn mọc thẳng.

Do biến âm theo từng vùng địa lý, và qua cách dùng chính thống của các triều đình cả ngàn năm thời phong kiến đã biến Tứ Quân Tử Hoa với phát âm “Nôm” gốc là Mới –Lan – Gút – Đốt trở thành Mai – Lan – Cúc – Trúc ! Ngày nay, dù tra tự điển Hán hay Việt thì không bao giờ tìm thấy nghĩa của Tứ quân tử Hoa với các chữ “Mai” “Lan” “Cúc” “Trúc” có nghĩa là gì !!! Chỉ khi nào người ta nhận ra cái gốc của phát âm “nôm” thì mới hiểu rõ vì sao tên của Tứ quân Tử hoa đã được gọi tên cùng với ý nghĩa thật rõ ràng.

Yên Huỳnh post (theo Đỗ Thành)

NGƯỜI BẠN CŨ

VÀ MẮM CUA CHUA

Năm 11 tuổi, tôi vào học lớp đệ nhất niên trường Trung Học Quy Nhơn, sau nầy đổi tên thành trường Trung Học Cường Để. Lúc bấy giờ trường dời về thôn Hoà Bình, xã Nhơn Phong do thầy Huỳnh Văn Gi làm hiệu trưởng.

Mười một tuổi nhưng tôi lại nhỏ con, gầy còm ngồi bên cạnh một bậc đàn anh cao lớn béo tốt, lúc nào cũng ăn mặc chỉnh tề, tươm tất.

Năm đó thầy Ngô Chanh dạy môn hoá học cho lớp chúng tôi. Trong giờ thực tập thí nghiệm khí HCl không biết bất cẩn như thế nào, khiến bình thuỷ tinh nổ tung như bom, một mảnh thuỷ tinh vỡ, bay ghim vào thân thể huynh trưởng, vô tình làm tấm mộc che chở cho tôi.

Bắt đầu từ đó, tôi vô cùng yêu quý bậc đàn anh này, vì huynh trưởng lớn hơn tới 5 tuổi, lúc nào cũng nghiêm nghị, tề chỉnh, sẵn sàng che chở cho thằng em nhỏ con ốm yếu.

Tình bạn học giữa hai chúng tôi nảy nở nhanh chóng, bất cứ nơi nào có mặt huynh trưởng, đều thấy thấp thoáng có bóng tôi. Chúng tôi đi cặp kè với nhau một cao, một thấp, một hồng hào khoẻ mạnh, một ốm yếu nhỏ con, một tình bạn phối hợp giữa hai cái thể chất tương phản lạ lùng.

Nhiều anh bạn học đệ nhị, đệ tam và kể cả cô tôi, người chủ nhà tôi trọ học, họ đều hoài nghi huynh trưởng bầu bạn với tôi, chỉ vì tôi có người chị xinh đẹp.

Riêng tôi, chắc chắn không phải như vậy; bởi vì anh cần có tôi, cần có một người chăm chú nghe anh, ngạc nhiên đến thích thú những điều anh suy nghĩ, theo đuổi; cần có người thông cảm chia sẻ. Tôi là một đối tượng lý tưởng đáng mơ ước để anh mạnh dạn hăng hái trình bày…

Có lần anh hỏi tôi có biết câu ca dao này không :

Ai về làm mắm cua chua

Gởi lên ông đội, khỏi mua tốn tiền.

Anh quả quyết câu ca dao này phát xuất từ thôn xóm anh, sau lan truyền trong thời đại nhà Nguyễn Tây Sơn, bởi vì mắm cua chua của làng anh ngon nhất Bình Định. Ruộng lúa Bình Định có hai mùa : mùa tháng ba và tháng tám.

Vào lúc lúa bắt đầu xanh mơn mởn, sau một tháng cây mạ đã bén rễ vào ruộng nước phát triển mạnh, cũng là lúc cua bắt đầu sinh nở, cua sinh nhiều nhất vào cuối tháng tám ta. Những đàn cua con chạy tràn đầy dọc theo bờ cỏ này tha hồ mà quơ bắt cho đầy giỏ, nhưng chưa có thể làm mắm cua chua được. Người đàn anh của tôi nhấn mạnh:

“Phải chờ đến khi ruộng lúa gần gặt, hay đã gặt hái xong, lúc bấy giờ cua mới thực sự trưởng thành, trong yếm của cua đồng vun đầy gạch, những con cua này mới là nguyên liệu tốt nhất để làm mắm cua chua tuyệt hảo”.

Nghệ thuật làm mắm cua chua tại gia đình người đàn anh của tôi không đơn giản một chút nào. Khi bắt được một giỏ đầy cua, khoảng độ 200 con cua đồng, cua phải được đem ngâm vào nước hai ngày, hai đêm để cua nhả tung hết chất dơ bùn đất. Một chậu nước lớn để ngâm cua nên đổ vào một ít muối để cua mau sạch. Sau 48 giờ, vớt cua ra cho vào cối đá và dùng chày tay bằng gỗ quý giã cho thật nát nhuyễn. Đổ thêm nước vào và dùng vải lọc vắt lấy nước gạch cua khoảng độ hai lít cho vào cất kỹ trong chiếc hũ sành. Nước cua này chỉ nên thêm nhiều muối và không nấu sôi, nhưng phải dùng đũa bếp thường xuyên khuấy đều hũ mắm cua chua, có thể để lâu trong nhiều tháng.

Nước cua lần đầu dùng làm mắm cua chua, người nhà của huynh trưởng tôi có thể giã thêm nhiều lần để vắt lấy thêm nước thứ nhì, đem nước này nấu sôi lên, nêm vào với ớt chín, năm ba lát gừng, tạo thành món mắm cua tươi thơm phứt, chan với cơm gạo mới hay ăn với bún vừa ra lò, thật vô cùng ngon miệng.

Nước mắm cua chua để chừng 2 tháng, bắt được cá tràu, trong nam gọi là cá lóc, làm vảy sạch sẽ, bỏ vào chiếc trã làm bằng đất nung, đổ mắm cua chua cho ngập đầy thân cá, xắt vài lát ớt chín và gừng củ thành từng lát mỏng bỏ vào khi bếp lửa riu riu vừa phải, mắm cua sôi nhẹ ngấm vào thân cá, cá quyện vào cua tạo thành món ngon đồng nội thơm phứt, tuyệt vời.

Người bạn học đàn anh của tôi đã đãi tôi nhiều lần món mắm cua chua kho với cá tràu thơm ngon tuyệt hảo, trong lúc tôi xì xụp tận hưởng cái vị mặn mà béo ngọt dịu dàng pha lẫn chút cay cay, thì bậc đàn anh của tôi hùng hồn kết luận, tuyên bố một câu nẩy lửa: “Mắm cua chua còn, thì nhân tài còn”.

Tuổi 11, không phải là tuổi để hoài nghi biện luận, nhân tài của chúng tôi lúc bây giờ là Nguyễn Huệ Quang Trung, ông đội của Ngài thích món mắm cua chua tha thiết đến ngần nào, dám trích một món tiền trong lương bổng tượng trưng của nghĩa quân để mua mắm cua chua, đến nỗi người thương ông đội phải nhắn nhe dặn dò qua ca dao làm mắm cua chua gởi ngay ông đội, thì vị chỉ huy trưởng tài ba Nguyễn Huệ phải yêu thích món mắm cua chua vô cùng. Thế là tôi gật đầu, giơ hai tay đồng ý, và từ đó danh từ “triết gia mắm cua chua” ra đời.

Sau vài năm Trung Học, tôi và “triết gia mắm cua chua” xa nhau bặt tăm tin tức. Khoảng năm 1967, “triết gia” tìm thăm tôi tại Sài Gòn. Tôi được biết thêm tin tức người đàn anh vừa bị thất cử trong một chức vụ dân cử địa phương, chỉ vì anh ta lấy hũ mắm cua chua làm dấu hiệu biểu tượng. Cử tri yêu thích mắm cua chua thì quá ít và chiến tranh đã làm cho nghệ thuật mắm cua chua thất truyền. Anh cần gặp tôi để sửa lại câu tuyên bố nẩy lửa năm xưa : “Mắm cua chua còn, thì người chịu khó, người nhẫn nại còn”.

Tôi vô cùng cảm động cho mục đích cao cả của sự thăm viếng, và với tất cả sự suy tư thận trọng, lần này tôi hoàn toàn đồng ý với anh, vì phải là người chịu khó, nhẫn nại mới làm được món mắm cua chua như gia đình anh, thơm ngon hơn người. Tôi thầm nghĩ: “triết gia mắm cua chua” vô danh này có tinh thần phục thiện cao, chịu khó vượt hơn 600 cây số để thông báo sửa sai “triết lý” của mình, hơn hẳn nhiều người lừng danh trên thế giới vẫn cứ ngoan cố bám vào lầm lỗi của mình, dầu đã được nhiều phân tích gia phê bình, soi sáng..

Đó là lần cuối cùng tôi gặp người huynh trưởng, anh còn cho biết đã sinh được một cháu gái lấy tên U.P.G.D., một cái tên đẹp, rất lạ gồm cả tên cha mẹ và địa danh của mối tình vợ chồng. Năm 1980, người huynh trưởng cùng một nửa gia đình em trai tôi tổ chức vượt biên đi tìm tự do. Tất cả chuyến đi hơn 50 người đã vùi thây trong lòng biển cả. Tôi đã khóc cho em tôi, cho cháu tôi, cho huynh trưởng, cho hàng trăm ngàn thuyền nhân trong bài thơ Biển Xanh Máu Lệ”.

Thuyền con vượt biển canh khuya

Đêm đen nỗi chết lệ chia đôi dòng

Còn gì đâu nữa mà mong

Người thương nước mắt lưng tròng cách xa

Quê hương mất hút nhạt nhoà

Ruột đau như cắt vỡ oà buốt tim

Cầm bằng đãi cát tìm kim

Một đi sống chết màn đêm hãi hung

Bao la trời biển mông lung

Thuyền con chiếc lá trập trùng tiến lui

Trăm ngàn thây chết chôn vùi

Biển đau lòng biển, ngậm ngùi biển xanh

Em xuôi tay bỏ đời anh

Chiều sa thuỷ táng lệ thành bể mưa

Mây buồn tang chế nắng trưa

Đêm như vô tận, ngày chưa hết ngày

Mênh mông trời nước ai hay

Tiếng chuông cầu nguyện gió bay lạnh lùng…

Mai sau đất khách tạm dung

Biển xanh máu lệ, bão bùng trong ta

Nhịp tim sóng vỗ nhạt nhoà

Đêm mưa nước mắt chan hoà người ơi !

U.P.G.D. con gái đầu lòng của người huynh trưởng may mắn không theo cha vượt biên và một thời gian sau, cháu đến được bến bờ tự do, theo học tại University of Massachusetts. Giáo sư Thành tại đại học này, một người hăng say hoạt động trong các công tác văn hoá xã hội, đứng ra điều hợp các hội đoàn sinh viên Việt Nam tại mười trường đại học chung quanh thành phố Boston để mời các diễn giả Việt Nam về sinh hoạt với sinh viên, chia sẻ những kinh nghiệm sống ở quê người.

Để mở đầu chương trình sinh hoạt, giáo sư Thành đã mượn được một giảng đường danh tiếng tại đại học Harvard, tại giảng đường này, ngày 05 tháng 6, năm 1947, ông George Marshall, Ngoại trưởng Hoa Kỳ đã đến đây nói chuyện với sinh viên về kế hoạch tái thiết Âu Châu sau đệ nhị thế chiến, kế hoạch Marshall đã thành công rực rỡ, mang lại cho ông Marshall giải thưởng Nobel hòa bình.

Trong năm 1989, khi đến thuyết trình tại đây lần đầu, tôi đã được giới thiệu hai căn phòng lịch sử tại đại học Harvard : căn phòng trọ của cố Tổng Thống Kennedy khi còn là sinh viên nội trú và giảng đường Marshall.

Bây giờ, vài năm sau, tôi được giáo sư Thành mời đến đọc thơ, chia sẻ những kinh nghiệm giáo dục học tập với sinh viên Việt Nam tại giảng đường Marshall, nơi đã trở thành lịch sử. Lòng tôi tràn đầy hân hoan sung sướng mong được thăm lại Harvard, nhìn lại công trình kiến trúc khu Carpenter Center do kiến trúc sự nổi danh người Pháp Le Corbusier vẽ kiểu mẫu.

Thành phố Boston và những thị trấn chung quanh gồm hơn 10 đại học (trong đó có 3 đại học danh tiếng nhất Hoa Kỳ : Harvard, Massachusetts Institute of Technology, Boston College) đây là một trung tâm giáo dục gồm hàng trăm ngàn sinh viên và có nhiều sinh viên Việt Nam theo học. Chính tại “giảng đường lịch sử Marshal”, tôi gặp nữ sinh viên U.P.G.D., con gái đầu lòng của người huynh trưởng cũ.

Cuộc gặp gỡ bất ngờ hứng thú cảm động đến rơi nước mắt. Chính U.P.G.D. đã đứng lên hỏi gợi ý để tôi hào hùng tuôn tràn nói về kỷ niệm và món ăn truyền thống mắm cua chua tại “giảng đường lịch sử Marshall” này.

Không biết hơn 44 năm về trước cử toạ đã vỗ tay hoan nghênh kế hoạch vĩ đại Marshall như thế nào, giờ đây hơn vài trăm sinh viên Việt Nam đã vỗ tay reo hò cười vang đón mừng một tiểu tiết trong sinh hoạt ăn uống : mắm cua chua thật vô cùng hào hứng.
Sau khi tốt nghiệp, U.P.G.D. rời Boston về định cư tại thành phố Seattle, tiểu bang Washington và làm việc tại hãng chế tạo máy bay Boeing, tôi vẫn thường xuyên điện đàm với U.P.G.D., nhờ cháu có đường dây điện thoại viên liên miễn phí.

Trong hai năm 1996-1997, tôi hoàn toàn mất liên lạc với U.P.G.D., tôi vô cùng lo ngại cho cô con gái người bạn học cũ, rất năng động, lanh lợi dễ thương, nhưng hơi bất thường vì đã phải đương đầu với bao hoàn cảnh khó khăn, hiểm nghèo, nghiệt ngã.

Mùa hè năm 1998, U.P.G.D. liên lạc bằng email báo cho tôi biết, cháu đã rời bỏ hãng Boeing và hai năm qua cắp sách đi học lại, tìm nguồn vui trong học đường. Tháng 10 năm 1998, U.P.G.D. báo tin cho tôi biết đã tìm được một việc làm mới trong một hãng nhỏ, một công ty nhu liệu, chuyên về credit card tại thành phố Seattle. Công ty này, ký hiệu là U.P.G.D. trùng với bốn chữ khởi đầu tên của cháu, thật là một cuộc tao phùng định mệnh. U.P.G.D. rối rít khoe ầm với tôi trên đường giây điện thoại.

Cuối tháng 11 năm 1998, U.P.G.D. tâm sự với tôi, cháu chỉ thích thú các công tác từ thiện xã hội, giúp những người bất hạnh, cháu đã quá mệt mỏi, rã rời trong công việc chạy đua hàng ngày tại sở làm. U.P.G.D. ao ước được có một số tiền để trở về giúp đỡ những người nghèo đói ở Việt Nam.

Mỗi cổ phần của công ty chỉ có 25 cents, U.P.G.D. xin tôi 250 dollars để mua 1,000 cổ phần sung vào quỹ giúp kẻ khốn cùng. Tôi đã gởi ngay ngân phiếu đến U.P.G.D. với lời chúc cháu chóng đạt được sở nguyện.

Ngày 19 tháng 01, năm 2000, cổ phần của công ty này đã như hoả tiễn, thăng thiên lên đến 89 dollars; và trước khi lên đường trở về Việt Nam giúp đỡ những người đói khổ tuyệt vọng. U.P.G.D. hứa với tôi, khi trở lại Mỹ sẽ tặng quà cho tôi một chai mắm cua chua thơm ngon của xứ “nẫu”.

Mỹ Nhàn post (theo Huy Lực Bùi Tiên Khôi – Sugar Land, Texas. USA)