VĂN HÓA VĂN NGHỆ (24)

NS LAM PHƯƠNG

MỘT ĐỜI THĂNG TRẦM

Từ đầu tháng 11/2012 ở Sài Gòn đang râm rang tin đồn, nhạc sĩ Lam Phương vừa qua đời.

Chúng tôi đi tìm nguồn tin này khắp nơi (trong và ngoài nước) không ai xác nhận tin này. Chúng tôi cũng xin post lại bài viết về nhạc sĩ Lam Phương đến các bạn để tường về một nhạc sĩ tài hoa  (xem trong blog Một Thời Sài Gòn có địa chỉ đường dẫn http://cafevannghe.wordpress.com ngày 26/2/2011) sau đây là bài viết của :

– Nguyễn Ngọc Ngạn

Như thông lệ hằng năm, cứ vào đầu tháng 12, tôi đi trình diễn một tour bên Úc qua mấy thành phố lớn như Sydney, Melbourne, Brisbane và Perth. Năm ngoái, sau buổi văn nghệ tại Casino Crown, tôi được một vài thương gia mời đi ăn cơm rồi ngỏ ý đề nghị tôi đưa nhạc sĩ Lam Phương sang Úc, mặc dù ai cũng biết ông đang ngồi xe lăn từ 10 năm nay, di chuyển đường xa rất khó khăn.

Chỉ vì nhạc Lam Phương quá đặc sắc và đa dạng, nên khán giả bốn phương đều muốn nghe lại và nhất là muốn gặp mặt ông một lần, biết đâu chăng là lần cuối bởi năm nay ông đã 72. Những người ngồi với tôi hôm ấy đều còn nhớ rất rõ, Lam Phương là nhạc sĩ duy nhất mà Trung tâm Thúy Nga đã thực hiện đến 3 cuốn Paris By Night để giới thiệu sự nghiệp của ông :

–  “Bốn Mươi Năm Âm Nhạc Lam Phương” –  “Lam Phương, Dòng Nhạc Tiếp Nối” –  ” Đường Về Quê Hương’

Nói chung, ông là người viết nhạc có tầm ảnh hưởng rộng lớn nhất, xét về mức phổ biến trước cũng như sau năm 1975.

Từ Úc về, tôi sang trình diễn tại mấy nước ở vùng Đông Âu cũ như Ba Lan, Cộng Hòa Séc (Tiệp Khắc) và Slovaskia, những nơi chỉ có toàn người miền Bắc. Tại đây, một lần nữa tôi lại ngạc nhiên nghe bầu show và nhiều khán giả đề nghị tôi mời nhạc sĩ Lam Phương qua cho đồng bào gặp gỡ. Ở Praha, tôi hỏi một cô trong ban tổ chức :

– Lam Phương viết nhiều về người lính thời cũ, chẳng hạn Bức Tâm Thư, Tình Anh Lính Chiến, Chiều Hành Quân, Biết Đến Bao Giờ v.v… Khán giả ở đây chỉ gồm toàn người miền Bắc, từng là công nhân lao động hợp tác, cán bộ tu nghiệp hoặc du học sinh từ Hà Nội. Tổ chức chương trình nhạc sĩ Lam Phương cho họ coi, cháu nhắm có trở ngại gì không ? Bởi đã hát nhạc Lam Phương là phải hát đủ loại, cả nhạc lính lẫn nhạc tình !

Cô gái hân hoan trả lời tôi :

– Không sao đâu chú ! Viết nhạc trong thời chiến mà!  Âm nhạc tất nhiên phải phản ánh cuộc sống mà tác giả đi qua. Cháu mới vào Việt Nam. Sau cuốn Paris By Night Đường Về Quê Hương, cháu thấy hầu hết các tụ điểm ca nhạc trong nước bây giờ đều hát nhạc Lam Phương.

Sau chuyến lưu diễn Âu Châu, tôi về gọi điện thoại hỏi ý kiến và thuyết phục anh Lam Phương, giục anh chịu khó đi với tôi vài chuyến. Tôi tha thiết bảo :

– Cố gắng đi anh ! Khán giả ở đâu cũng mong gặp anh nhất là từ khi nghe tin anh bị tai biến mạch máu não !

Tôi quen anh Lam Phương đã 17 năm, làm việc chung với anh qua 3 cuốn video và nhiều chương trình live shows, tôi biết rõ tính anh rất dè dặt. Anh chỉ sợ di chuyển vất vả mà đến nơi không thành công thì buồn cho cả anh lẫn ban tổ chức. Tôi phải trấn an anh mãi bởi tôi biết rõ cảm tình của khán giả đối với anh. Cuối cùng anh đồng ý trên nguyên tắc : Đầu tháng 12 năm 2010, anh và tôi sẽ bay sang Úc dưới bảng hiệu Thúy Nga, rồi nhân tiện sang nước láng giềng Tân Tây Lan (New Zealand) luôn thể.

Riêng Đông Âu thì anh còn lưỡng lự và các bầu show bên ấy cũng chưa có ngày giờ nhất định bởi việc tổ chức show ở Âu Châu tương đối phức tạp, cần phải phối hợp giữa nhiều quốc gia lân cận.

Trong khi chờ đợi, tôi bàn với Thời Báo mời Lam Phương sang Toronto. Ý định này, anh em Thời Báo và tôi đã có bàn thảo một đôi lần trước đây, nhưng mãi năm nay mới thu xếp được và chỉ có ngày Thứ Bảy 24 tháng 07 là thuận tiện cho cả nhạc sĩ Lam Phương lẫn ban tổ chức. Lam Phương chưa qua Toronto bao giời nên tỏ ra ngần ngại. Tôi phải nhắc lại :

– Từ bao nhiêu năm nay, có show Lam Phương nào thất bại đâu anh ! San Jose, Orange County, Montreal,… chương trình nào cũng đầy ắp khán giả, có nơi không đủ vé bán. Mùa hè Toronto đẹp lắm. Đồng bào Toronto rất yêu văn nghệ. Mời anh sang thăm một lần cho biết !

Anh kết luận bằng một câu quen thuộc :

– Anh kéo tôi đi đâu thì tôi đi đó !

Tôi hiểu ý anh. Rất nhiều nơi muốn tổ chức đêm nhạc Lam Phương. Nhưng ở đâu anh cũng muốn phải có tôi giới thiệu, bởi chúng tôi đã làm việc chung với nhau tới 3 cuốn Paris By Night, tôi hiểu rõ tâm sự và xuất xứ từng ca khúc của anh. Tôi cám ơn anh rồi bảo :

– Tôi phone anh trước, nếu anh đồng ý thì đại diện Thời Báo sẽ liên lạc với anh !

Thời Báo chẳng những chỉ liên lạc với anh Lam Phương bằng phone, mà Nguyễn Đạt và anh Sa Xuân Vũ còn bay sang tận nơi, ghé thăm anh Lam Phương trong căn nhà quạnh hiu trồng đầy bông hồng chung quanh. Anh cảm động gọi cho tôi, cám ơn sự chu đáo của anh em Thời Báo Toronto và hẹn sẽ gặp khán giả Toronto cuối tháng 07.

Đôi nét về Lam Phương

Vào những năm đầu khi mới chia cắt đất nước (1954), dân chúng miền Nam thường được nghe đi nghe lại bài Chuyến Đò Vĩ Tuyến trên đài phát thanh :

“Đêm nay trăng sáng quá anh ơi / Sao ta lìa cách bởi dòng sông bạc hai mầu…”

Lúc ấy, ai cũng tưởng Lam Phương chắc phải là một “ông Bắc kỳ di cư” lớn tuổi, dàn trải tâm tư khắc khoải của mình khi rời đất Bắc vào Nam tìm tự do. Nhưng hóa ra tác giả chỉ là một thanh niên miền Nam mới 18 tuổi, đã khơi lên nỗi xúc động thay cho gần một triệu đồng bào vừa lìa xa cố hương.

Từ cái bước khởi đầu vững chắc ấy, người ta đã nhìn thấy ở trước Lam Phương là một tài năng lớn, một sức sáng tạo đích thực, và quả nhiên như mọi người dự đoán, anh đã cống hiến cho tân nhạc Việt Nam gần 200 ca khúc đặc sắc trong nửa thế kỷ vừa qua.

Lam Phương tên thật là Lâm Đình Phùng, sinh ngày 20/03/1937, tại Rạch Giá. Nội tổ của anh vốn là người gốc Hoa, bỏ nước sang Việt Nam lập nghiệp trong đợt di dân ồ ạt của người Hoa chống đối với nhà Mãn Thanh. Đời ông nội của Lam Phương đã bắt đầu lai Việt Nam và đến thân phụ của anh thì chẳng còn dấu vết gì là người Hoa nữa.

Lam Phương là con đầu lòng, nhưng lớn lên chỉ thấy mẹ và các em trong cảnh nghèo nàn xác xơ. Ông bố đã bỏ đi theo người đàn bà khác từ lúc Lam Phương chưa đủ trí khôn. Mười tuổi, Lam Phương giã từ Rạch Giá lên Sài Gòn, ở trọ nhà người quen trong xóm lao động tăm tối vùng Đa Kao và vào học trung học ở Việt Nam Học Đường. Thời gian này, anh bắt đầu tự học nhạc qua sách vở, phần lớn là bằng tiếng Pháp. Điều này dễ hiểu, bởi ngày ấy nước ta chưa có trường âm nhạc. Thế hệ Lam Phương cũng như các nhạc sĩ lớn tuổi hơn, muốn học nhạc thì hoặc phải tự mò mẫm qua các tài liệu viết bằng tiếng Pháp, hoặc ghi danh hàm thụ các trường chuyên nghiệp bên Paris để họ gửi bài vở sang. Song song với phần nhạc lý, Lam Phương cũng xin học lớp guitar do một ông thầy Việt Nam truyền nghề.

Để trắc nghiệm khả năng học hỏi của mình sau một thời gian miệt mài, năm 1952, lúc mới 15 tuổi, Lam Phương sáng tác ca khúc đầu tay là Chiều Thu Ấy. Anh vay mượn bạn bè và hàng xóm, tự in bản nhạc rồi thuê xe lam chở đi giao cho các quầy hàng bán lẻ. Tuy cũng lấy lại vốn, nhưng ca khúc này chưa gây được tiếng vang. Phải chờ 3 năm sau khi 18 tuổi, Lam Phương mới tung ra được một số sáng tác nổi đình nổi đám ngay như Kiếp Nghèo, Chuyến Đò Vĩ Tuyến, Nhạc Rừng Khuya, Trăng Thanh Bình, Khúc Ca Ngày Mưa, Nắng Đẹp Miền Nam v.v…

Nhạc của Lam Phương nhanh chóng tràn lan trong học đường trên phạm vi cả nước. Hầu như trường nào cũng cho học trò đồng ca hoặc múa hát những bài tươi vui lành mạnh, phổ biến nhất là Khúc Ca Ngày Mưa và Nắng Đẹp Miền Nam. Ở những nhạc phẩm này, người ta thấy ngay sự phản ánh rất rõ nét một thời thanh bình rộn rã của những năm đầu nền Đệ nhất Cộng hòa.

Năm 21, Lam Phương nhập ngũ. Thời ấy, thanh niên đi quân dịch chỉ có một năm bởi là nghĩa vụ quân sự trong thời bình. Tại quân trường, anh viết Bức Tâm Thư, hô hào thanh niên sốt sắng đi quân dịch. Ngày mãn khóa, anh sáng tác 2 bản nhạc nổi tiếng là Tình Anh Lính Chiến và Chiều Hành Quân. Anh kể với tôi: Vì không biết rõ xuất xứ sáng tác bài Tình Anh Lính Chiến, cho nên sau này nhiều ca sĩ thường hát câu: “Anh chiến trường, em nơi hậu tuyến”. Thật sự thì hát như vậy là sai, bởi anh viết cho bạn bè đồng ngũ trước khi chia tay ở quân trường, mỗi người đi mỗi nơi, nên câu hát đúng là ‘Anh chiến trường, tôi nơi hậu tuyến”. Đây là tình đồng đội chứ không phải tình yêu trai gái.

Mãn hạn quân dịch, trở về đời sống dân sự, Lam Phương tiếp tục sáng tác và tự xuất bản các tác phẩm của mình. Nhạc của anh có sức phổ biến sâu rộng, là một trong những nhạc sĩ thành công nhất ở miền Nam, giúp anh thoát khỏi cảnh lầm than mà anh đã mô tả qua bản Kiếp Nghèo mấy năm về trước.

Lúc ấy, nhạc sĩ Phạm Duy đang phụ trách trung tâm Quốc Gia Điện Ảnh, nghe tiếng Lam Phương, gọi anh đến và giới thiệu với đạo diễn Lưu Bạch Đàn để Lam Phương đóng vai chính trong phim Chân Trời Mới bên cạnh nữ tài tử Mai Ly và kịch sĩ lão thành Vũ Huân. Đây là một phim truyện nhằm cổ võ cho quốc sách Ấp Chiến Lược, đồng thời đả phá tệ nạn quan liêu phong kiến ở xã ấp.

Khi tên tuổi bắt đầu vững vàng, Lam Phương lập gia đình với kịch sĩ kiêm ca sĩ Túy Hồng. Từ đó anh phụ trách thêm công việc viết nhạc nền cho ban kịch Sống, cho chúng thêm hàng loạt ca khúc đặc sắc như Thu Sầu, Nghẹn Ngào, Trăm Nhớ Ngàn Thương, Phút Cuối, Ngày Buồn v.v…

Tình hình chiến sự miền Nam gia tăng, Lam Phương được gọi tái ngũ. Anh mặc quân phục trở lại và gia nhập Ban Văn Nghệ Bảo An (Địa Phương Quân). Khi ban này giải tán, anh chuyển qua ban văn nghệ Hoa Tình Thương. Rồi Hoa Tình Thương cũng giải tán để biến thành Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương, nơi Lam Phương cộng tác cho đến ngày mất miền Nam.

Trong khoảng thời gian này, sức sáng tác của Lam Phương càng dàn trải trên nhiều thể loại rất phong phú mà đặc biệt một điểm là hầu hết ca khúc nào anh đưa ra cũng đều trở thành Top Hit trên thị trường, điển hình như Chờ Người, Tình Bơ Vơ, Duyên Kiếp, Thành Phố Buồn, Tình Chết Theo Mùa Đông v.v… đưa anh vào vị trí một nhạc sĩ thành công nhất Việt Nam về mặt tài chánh.

Sáng ngày 30/4/1975, anh quyết định vào phút chót, đem gia đình chạy lên tàu Trường Xuân của thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy, cùng với gần 4000 đồng bào ra khơi. Trên tàu, anh gặp Elvis Phương, ca sĩ đầu tiên đã hát bài Chờ Người của anh khoảng năm 1972. Cũng trong đám người dày đặc đó, có một cô bé còn bế trên tay, sau này là á hậu Việt Nam tại Paris và trở thành nữ ca sĩ Bảo Hân.

Vì không có ý định ra đi, cho nên Lam Phương hoàn toàn chẳng chuẩn bị bất cứ thứ hành trang nào để đem theo. Anh bỏ lại chiếc xe hơi, hai căn nhà lớn và khoảng 30 triệu đồng trong ngân hàng để lên đường với hai bàn tay trắng và vài bộ quần áo ! Lúc ấy, lương một vị tổng giám đốc hoặc một vị đại tá trong quân đội chỉ có mấy chục ngàn một tháng ! (nên nhớ vàng 9999 Kim Thành lúc đó chỉ có 36.000d9VN/lượng)

Định cư ở Mỹ, cái job đầu tiên anh làm trong hãng Sears là lau sàn nhà và cọ cầu tiêu! Rồi chuyển sang làm thợ mài, thợ tiện, bus boy. Tuy vậy, cứ mỗi cuối tuần anh vẫn cố gắng thuê một nhà hàng, biến thành phòng trà ca nhạc để đồng hương có chỗ gặp nhau và để chính anh cùng Túy Hồng đỡ nhớ sân khấu. Nghề này, chẳng những lợi tức không có bao nhiêu mà buồn thay, chỉ sau một khoảng thời gian ngắn, anh khám phá ra người bạn đời không còn thủy chung với anh nữa. Anh cay đắng vật vã, cố gắng hàn gắn nhưng không xong. Anh biết cái thế của anh đã mất hẳn từ khi ra hải ngoại, bởi tiền bạc, danh vọng đều chỉ còn là trong kỷ niệm. Nỗi đau ray rứt của cuộc tình tan vỡ trên đất khách đã là động lực sâu thẳm khiến anh sáng tác mấy bản nhạc rất bi thương, trong đó có một bài để đời là Lầm :

“Anh đã lầm đưa em sang đây / Để đêm trường nghe tiếng thở dài / Thà cuộc đời im trong lòng đất…”

Rồi anh ngậm ngùi bỏ Hoa Kỳ sang Paris, xin vào làm công việc đóng gói quét dọn cho một tiệm tạp hóa. Cũng tại đây, anh gặp lại ông bà Tô Văn Lai, chủ nhân Trung tâm băng nhạc Thúy Nga, vốn đã quen biết anh ở Sài Gòn từ trước năm 75. Thúy Nga ngày ấy cũng còn quá nghèo, chỉ sang lại những băng cũ mang theo từ Việt Nam, nên chả có việc gì cho Lam Phương làm. Chính bản thân ông Tô Văn Lai, Giáo sư Triết ở Sài Gòn, dân trường Tây từ nhỏ, giờ đây cũng phải đi học nghề sửa xe và đứng bơm xăng ở vùng Bondi, ngoại ô Paris.

Lam Phương tiếp tục sống lầm lũi cho qua ngày ở kinh thành ánh sáng, mãi cho đến khi anh bất ngờ gặp một khúc rẽ tình cảm mới: Một người đàn bà rất đẹp đã đến với trái tim anh, giúp anh xóa đi những ngày tăm tối vừa qua. Nhờ khúc rẽ ấy, chúng ta mới có được một loạt ca khúc chan hòa niềm vui như Mùa Thu Yêu Đương, Tình Hồng Paris, Tình Đẹp Như Mơ, và nhất là Bài Tango Cho Em :

“Từ ngày có em về/ Nhà mình ngập ánh trăng thề…”

Cũng trong khoảng thời gian tạm cư ở Paris, anh sáng tác 3 ca khúc nổi tiếng khác mà giờ này thính giả vẫn thích nghe đi nghe lại :

Cho Em Quên Tuổi Ngọc : Anh đặt cả lời Pháp lẫn lời Việt, viết cho một cuốn phim. Tựa tiếng Pháp là C’est Toi.

Em Đi Rồi : Anh viết cho chuyện tình tan vỡ của nữ ca sĩ Họa My, khi Họa My sang Pháp để lại người chồng ở Việt Nam.

Một Mình : Cảm xúc của chính anh buổi sáng thức dậy, cô đơn nhìn ra cửa trong ánh bình minh.

Bước sang đầu thập tiên 1990, Trung tâm Thúy Nga tương đối đã có cơ sở vững vàng ở Paris lẫn Cali sau khi sản xuất thành công một loạt video tuồng cải lương và các chương trình Paris By Night bắt đầu từ năm 1983. Lúc ấy, Thúy Nga mới quyết định thực hiện một cuốn Paris By Night chủ đề nhạc Lam Phương.

Đó là lần đầu tiên tôi gặp anh Lam Phương vào tháng 03 năm 1993, khi trời Paris còn đang se lạnh. Mặc dầu lúc này Lam Phương đã chia tay người đàn bà từng mang cho anh “những nụ hồng Paris”, nhưng cuộc sống của anh đã tạm ổn định cả mặt tinh thần lẫn vật chất, một phần nhờ có cô em gái từ Việt Nam sang tỵ nạn, mở tiệm ăn Như Ánh ngay tại Quận 13, giao cho anh làm manager.

Lúc gặp tôi, anh đã hoàn toàn lấy lại phong độ, tìm lại sự tin yêu trong cuộc đời, quên hết những nhọc nhằn gần 20 năm sóng gió vừa qua. Anh cho biết : Anh ít đọc sách của tôi, nhưng em gái anh, chủ nhà hàng, thì bất cứ lúc nào rảnh rỗi, cô cũng để cuốn tiểu thuyết Màu Cỏ Úa. Nhờ vậy, tuy gặp nhau lần đầu mà anh với tôi đã có cảm tưởng như quen nhau từ lâu.

Bài học đầu tiên tôi học ở anh Lam Phương là sự bình dị và khiêm tốn. Một người từng nổi tiếng từ lúc tuổi chưa đến 20, từng có một cuộc sống giàu sang ở Sài Gòn, giờ này ngồi tiếp chuyện tôi trong cái quán nhỏ, bằng một thái độ rất chân tình và lịch sự, mặc dầu tôi thua anh về mọi mặt. Cái ấn tượng ban đầu ấy khắc ghi mãi trong lòng tôi cho đến hôm nay.

Sau sự thành công của Paris By Night “Bốn Mươi Năm Âm Nhạc Lam Phương”, chỉ hơn một năm sau, Thúy Nga lại thực hiện thêm một chương trình Lam Phương thứ 2 bởi nhạc anh còn quá nhiều. Cuốn này tôi đặt tựa đề là “Lam Phương, Dòng Nhạc Tiếp Nối’.

Sau cuốn băng ấy, Lam Phương quay về định cư tại Hoa Kỳ năm 1995. Người đàn bà bảo lãnh anh trở lại Mỹ tuy không phải là một cuộc tình lớn trong đời, nhưng anh cần một mái ấm ổn định ở tuổi đã trên 55. Về lại Cali, anh tiếp tục sáng tác và lâu lâu phụ việc với Trung tâm Thúy Nga lúc này đang trên đà thăng tiến mạnh mẽ.

Dòng đời đang êm trôi thì ngày 13/3/1999, trong lúc đang dự tiệc ở nhà một người thân, không may anh bị tai biến mạch máu não. Từ đó anh nói không ra lời, một nửa thân thể gần như bại liệt hoàn toàn. Bàn tay đánh đàn ghi nốt nhạc mấy chục năm qua, bây giờ không sử dụng được nữa. Anh chị em nghệ sĩ cùng nhau tổ chức đêm nhạc Lam Phương tại nhà hàng Majestic để hỗ trợ anh về cả hai mặt tinh thần và tài chánh. Tôi bay sang góp mặt, anh chỉ nắm tay tôi ứa nước mắt mà nói không thành câu.

Vài hôm sau, người đàn bà đang chung sống với anh, cũng lặng lẽ chia tay, bỏ lại anh trên chiếc xe lăn, bơ vơ trong căn nhà vắng, để ngày nay anh thấm thía với nỗi quạnh hiu như những lời ca tiên tri chính anh đã viết :

“Sớm mai thức giấc / Nhìn quanh một mình !”

Thời gian trôi qua quá nhanh ! Mới đó mà Lam Phương “nhìn quanh một mình” đã 11 năm ! Anh đã cố gắng vượt bậc, cố giữ tâm hồn thư thái và thể dục đều đặn. Nhờ vậy thỉnh thoảng anh có thể tạm bỏ xe lăn, đứng dậy chống gậy đi một vòng quanh nhà. Nỗi buồn lớn nhất của anh từ ngày gặp nạn là không còn đánh đàn và viết nhạc được nữa bởi một nửa thân thể vẫn hoàn toàn bất động, mặc dầu trí óc anh rất sáng suốt.

(Theo Thoi Bao)

Xin mời thưởng thức nhạc phẩm của nhạc sĩ Lam Phương, do ca sĩ Quang Dũng, Túy Hồng trình bày :

Click vào đường dẫn sau đây :

Một Mình

http://www.youtube.com/watch?v=m_B1mBTmpXE&feature=email

Mời thưởng thức 2 nhạc phẩm (nghe thấy đúng là trong mà chát thật:

Thu sầu (st Lam Phương)

http://www.yousendit.com/transfer.php?acti…60F23F0413AA166

Kiếp nghèo (st Lam Phương)

http://www.yousendit.com/transfer.php?acti…ED6290C2256E2CB

VỀ NHÀ VĂN LÃO THÀNH

LÊ XUYÊN

– Nguyễn Việt

Tháng 3/2012 là tháng tròn 8 năm ngày mất của nhà văn lão thành Lê Xuyên. Và khi nhắc đến tên ông, không kể giới văn nghệ sĩ, ký giả còn đa số mọi người dân miền Nam khi xưa và đến bây giờ hình như từ trong nước ra đến hải ngoại đều biết đến tên ông qua tác phẩm “Chú Tư Cầu”, một giọng văn giản dị nhưng xúc tích nhiều ngôn từ, ngữ điệu của người miệt đồng bằng sông Cửu Long.

Tôi nhớ mãi một kỷ niệm khó quên, do là người trong ban biên tập của nhật báo Trắng Đen, phụ trách trang trong tức trách nhiệm với những bài vở chuyên mục và cả những feuilleton (tiểu thuyết trường thiên tải đăng mỗi ngày) từ các nhà văn tên tuổi bấy giờ như Trần Đức Lai, Vị Thủy, Lê Xuyên, bà Lan Phương, Trương Đạm Thủy, Kim Sơn, Từ Khánh Phụng, Thương Lan v.v…

Nhà văn Lê Xuyên lúc đó đang làm tổng biên tập bên báo Dân Ý (có trụ sở tòa soạn trên đường Gia Long, đối diện rạp long Phụng) nhưng báo nào mời ông viết feuilleton ông cũng gật đầu cái rẹt. Tính ra, lúc đó mỗi ngày nhà văn Lê Xuyên phải nạp bài cho 3, 4 tờ báo và còn chịu trách nhiệm bài vở bên tờ Dân Ý. Nhiều người nói ông phát tài, với chức vụ và các feuilleton đó, mỗi tháng ông lãnh lương cũng gần cả trăm ngàn. Nên biết với tên tuổi của nhà văn Lê Xuyên, không báo nào trả tiền tác quyền dưới 15 ngàn/tháng (những nhà văn khác chỉ ở khoảng 10 đến 12 ngàn) mà vàng lúc đó chỉ trên 30 ngàn/lượng. Vậy mà ông vẫn đi chiếc vespa cà tang “thời Bảo Đại còn ở truồng tắm mưa” (theo lời dí dỏm của các đồng nghiệp với ông).

Ông chủ báo Trắng Đen giao nhiệm vụ cho tôi, người phụ trách các feuilleton “không để chừa trắng tiểu thuyết của ai với lời cáo lỗi : tác giả bị bệnh bất ngờ, xin cáo lỗi tạm ngưng 1 kỳ”. Ông chủ báo còn nhấn mạnh, nhất là những tiểu thuyết đang “ăn khách” của Trần Đức Lai, Lê Xuyên.

Chính vì lẽ đó, đôi khi có nhà văn bị cảm cúm thật, đôi khi vì quá mệt  mỏi bởi các bài vở khác không còn thời gian… viết. Nhà văn Lê Xuyên thì thường xuyên, nói theo ngôn từ hiện đại ngày nay là bị quá tải, nên luôn luôn trễ giờ hay quên “nộp bài” cho báo. Tôi phải ngồi nặn… thêm khúc không có bài để không “cáo lỗi cùng bạn đọc”. Nhưng mình đâu phải cha đẻ cốt truyện, cho nên những đoạn văn ấy chỉ dám tả cảnh, hay trở lại hồi tưởng v.v… cho trang báo lúc nào cũng đầy chữ. Mà qua bên báo Dân Ý hối ông nộp cũng không xong, đành phải thất lễ.

Một hôm nhà văn Lê Xuyên – sau khi quên nộp bài – ông đến không như những nhà văn khác với bộ mặt giận dỗi – một phần do tự ái, bởi những báo khác nếu không nộp bài kịp giờ thì họ chừa trắng – ông đến lại cười cười nói với tôi “chú mày muốn chia lương với tao sao ?” biết câu nói đùa, nhưng tôi vẫn phải thanh minh “ông chủ báo không cho em để trắng tiểu thuyết của ai, qua hối anh viết cũng không xong, đành viết theo kiểu vô thưởng vô phạt nhằm trám chỗ chờ anh giao bài tiếp thôi mà”. Nhà văn Lê Xuyên, vẫn nụ cười nhân hậu nói : “Ừ để tao cố gắng giao bài cho chú mày đều đặn”.

Tính nhà văn Lê Xuyên là như vậy, và nghề viết feuilleton cũng thường gặp những trường hợp này.

Lê Hoàng Nguyễn (tổng hợp)

NGÀY GIỖ NS TRƯỜNG KỲ

Ngày 23/3/2012 vừa qua là ngày Trường Kỳ mất đã  3 năm. Gởi bài viết về Trường Kỳ đã in trong sách “Rong chơi cuối đời quên lãng” do bạn bè viết – nhân  giỗ đầu năm 2010.

Trường  Kỳ và Tuyển Tập Nghệ  sĩ

Tin Trường Kỳ qua đời đến với tôi vào lúc 2 giờ trưa  ngày thứ hai 23/3/2009   theo giờ Đông bộ Sydney – Australia tức chiều tối chủ nhật 22/ 3 ở Toronto – Canada.

Tự dưng tôi không tin vào thư Email mà tôi nhận được. Tôi bèn viết thư mail  hỏi  lại bạn bè bên Cali. Và  chỉ 15 phút sau, tôi  được tin chính thức bạn tôi Trường Kỳ thực sự đã qua đời khoảng trưa chủ nhật 22/3 sau khi được chở đi Cứu Cấp tại một bệnh viện ở Toronto.

Theo lời thuật lại mà tôi đọc được trên Mail của các thân hữu Trường Kỳ, thì được biết ngày thứ bẩy  21/3 Trường Kỳ từ Montreal sang Toronto để dự buổi ra  mắt   phát hành một  CD mới mà Trường Kỳ đã nhận lời. Trước  khi đi Toronto, sức khoẻ của bạn tôi không đến nỗi gì, áp huyết  hơi thấp. Như vậy chứng tỏ bạn tôi vẫn yêu nghề viết lách nên nhất quyết  lên đường.

Và như số mênh đã an bài, bạn tôi đã được Chúa gọi về trưa  chủ nhật  22/3 mà   không có  Vợ, Con bên cạnh.

Quen biết  Trường Kỳ

Vào  đầu thập niên 70, qua  sự giới  thiệu của nhà báo Ngọc Hoài Phương (tuần báo Kịch Ảnh – hiện nay là chủ nhiệm tạp chí  Hồn Việt), tôi quen biết Trường Kỳ  trong   dịp tôi ghé tuần báo  Kịch Ảnh. Và  sau đôi lần gặp  gỡ nhau ở các phòng trà ca nhạc   Queenbee hay Rizt, tôi và Kỳ quen thân nhau. Chúng tôi có những tin tức về Văn nghệ  hay  trao đổi lẫn nhau.

Khi  nền Điện ảnh Việt nam phát  triển. Nam ca  sĩ kiêm  ông bầu phòng trà Rizt   Jo Marcel cũng tự thực hiện một  phim truyện 16 ly, mà truyện phim lại  là  của Trường Kỳ “Vết  chân hoang”. Đây là  một cuốn phim hoàn toàn do các  bạn Trẻ  thực hiện. Nữ  tài tử  chính trong phim là  Diễn viên Minh Lý. Một khám phá mới của Jo Marcel. Trong buổi ra mắt phim “Vết chân hoang“ rất đông anh em  ký giả Tân nhạc – Điện ảnh của các báo đã đến phòng trà Rizt để xem. Và bạn tôi mặc dù là tác gỉa của “Vết chân hoang “ vẫn đứng tận ngoài  cửa để đón anh em  ký gỉa  chúng tôi. Một điều hiếm có  trong buổi ra mắt phim. Chứng tỏ bạn tôi cũng đóng góp  một phần nhỏ nhoi trong việc thực hiện phim “Vết chân hoang“

Sau lần ra mắt phim đó, Trường Kỳ thường rủ tôi  ghé chốn “Bồng Lai“ ở đường  Nguyễn Trung Trực nơi cư ngụ của bạn tôi để ăn uống hay đấu láo. Nhưng vì binh  nghiệp nên  thỉnh thoảng tôi mới ghé  thăm và ngủ lại qua  đêm sau khi uống cạn vài  chai bia 33 với các món ăn Bắc Kỳ được mua về từ Quán Cơm Bà  Cả Đọi  trên  đường Nguyễn Huệ.

Trường  Kỳ  và Cây Mùa  Xuân Chiến sĩ

Mặc dù suốt cuộc  đời trai trẻ, tTrai độc nhất và  cận thị nặng, tuy vậy Kỳ vẫn  luôn luôn  sát  cánh  cùng Tổng Cục CTCT để tổ chức Đại hội Nhạc Trẻ gây qũy Muà  Xuân cho các  Chiến sĩ   mỗi dịp Tết  đến, từ năm  1964 đến  đầu năm 1975. Phải  nói   với bộ 3 Trường Kỳ, Nam Lộc, Tùng Giang các buổi  Đại nhạc hội gây qũy Mùa  Xuân   Chiến sĩ đã thu hút rất đông hàng chục ngàn bạn Trẻ đến tham dự, lúc tổ chức ở Sở Thú, Sân Vận động Hoa Lư hay sân Trường Taberd nơi Kỳ đã  theo học  thời niên thiếu.

Trường Kỳ  và  Tuyển tập Nghệ sĩ

Sau  ngày 30/4/1975, tôi và Kỳ không còn liên lạc với nhau, vì mỗi người mỗi ngả. Đến năm 1980, trong một lần nghe lén đài VOA, tôi được biết bạn tôi đã đến được bến bờ Tự Do, định cư ở Nhật bản một thời gian sau đó qua Canada định cư.

Sau  khi nghỉ làm ở Bưu điện năm 1995, Trường kỳ  dành nhiều thời giờ để bắt đầu viết sách “Tuyển tập Nghệ sĩ “, cùng cộng tác với một số báo chí ở Canada, Cali  và Đài phát thanh VOA trong mục “Nghệ sĩ  và Đời Sống” phát thanh mỗi tuần 1 lần.

Năm 1996, tôi mới liên lạc lại với Trường Kỳ. Và nhận lời bán sách Tuyển tập  Nghệ sĩ ở Sydney, và cộng tác với Kỳ viết  giới thiệu một số Nam nữ ca sĩ và các ban  nhạc  ở Sydney. Tuyển tập nghệ sĩ cuối cùng tôi bán  giúp cho Kỳ là Tuyển  tập Nghệ sĩ  số 6. Ngoài ra Tuyển tập Nghệ sĩ viết về các  Nghệ sĩ Cải lương đã bán hết nên  không có sách bán ở Sydney.

Khi  nghe tin Trường Kỳ viết và phát hành Sách “Tuyển tập Nghệ sĩ “Bác TTH   (bạn thân với  bố cuả  Kỳ) đã  có nhắn với tôi rủ Kỳ đến Sydney để ra mắt sách và Bác  cháu gặp nhau. Nhưng Kỳ vẫn lưỡng lự vì ngại đường xa, từ Bắc bán cầu xuống  Nam bán  cầu.

Nghe đâu vào đầu năm 2009, Kỳ đã dự tính Úc du với sự bảo trợ của Tuần báo Tivi Tuần san ở Melbourne, nhưng vì bà  già vợ của Kỳ ở VN bị đau, nên Kỳ đã hủy bỏ  chuyến Úc du và trở về VN cùng lúc ghé Thái Lan. (xem ảnh trên : hàng đứng : bà Kim Yến – chị Khánh Ly – Ngọc An – vợ nhà thơ Thiên Hà – hàng ngồi : Quỳnh Như, nhà văn Văn Quang, Trường Kỳ và Thiên Hà).

Trên đây là những kỷ niệm của tôi với Trường Kỳ. Tôi ghi lại để tưởng nhớ  người bạn hiền mang tên Vũ trường Kỳ  .

Nguyễn Toàn (Sydney/Australia)

Advertisements

NGHI ÁN “KỶ VẬT CHO EM”

CÂU CHUYỆN VỀ

“KỶ VẬT CHO EM”

Nhận được rất nhiều thư đề nghị tôi viết về những sự kiện quanh bài thơ Kỷ Vật Cho Em mà nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành ca khúc gây xôn xao giới yêu thơ, yêu nhạc một thời trước năm 1975. Thực tình tôi không biết khởi đầu từ đâu, và viết những sự kiện gì, bởi rất nhiều sự kiện và mình có nên viết hay không ? Thôi thì kể lan man một vài chuyện về bài thơ đó vậy. Xuất xứ bài thơ của tôi đăng trên nhật báo Độc Lập vào năm 1970 với tựa đầu tiên “Để trả lời một câu hỏi” đề tặng một người con gái tên Hương. Trang sáng tác của tờ báo này do Ấu Lăng (tức nhà thơ Trần Dạ Từ chồng của nhà văn nữ Nhã Ca) phụ  trách.

Tôi thường xuyên đăng bài ở trang này, có thể nói một tháng 30 ngày thì bài tôi xuất hiện khoảng  hơn 20 ngày với tên Linh Phương – Vương Thị Ái Khanh và Phạm Thị Âu Cơ. Khi nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành ca khúc với duy nhất tên ông, tôi không có phản ứng gì. Nhưng tôi có người bạn làm việc ở bản tin THT đã đưa vấn đề tác quyền lên trang tin tức của một tờ nhật báo với đại ý “Tác giả Kỷ Vật Cho Em sẽ kiện nhạc sĩ Phạm Duy ra tòa”.

Tiếp theo là tờ tuần báo Sân Khấu Truyền Hình, tác giả Phan Bảo Quân cho in một bài viết đề cập tác quyền và tên Linh Phương phải được để  là đồng tác giả bản nhạc Kỷ Vật Cho Em. Thời đó ở Sài Gòn có trên 20 tờ nhật báo, 30 tờ tuần báo và rất nhiều tạp chí bán nguyệt san, nguyệt san… Và chuyện tác quyền giữa tôi và nhạc sĩ Phạm Duy đều có bài viết, thư nhạc sĩ Phạm Duy gởi tôi, thư tôi trả lời… hầu hết trên báo chí lúc ấy. Cuối cùng thì một người cháu của Phạm Duy là Phạm Duy Nghĩa tìm gặp tôi tại địa chỉ 104/23 đường Yersin nhà người bạn thân của tôi là nhà thơ Vũ Trọng Quang. Phạm Duy Nghĩa đưa tôi đến phòng trà ca nhạc Đêm Màu Hồng nơi Ban Thăng Long thường xuyên trình diễn. Ở đây, tôi và nhạc sĩ Phạm Duy đã có sự thông cảm với nhau về vấn đề bài thơ Kỷ Vật Cho Em.

Nhạc sĩ Phạm Duy chở tôi trên chiếc xe Trắc-xông đen đến phòng trà Queen-Bee do nhạc sĩ Ngọc Chánh làm chủ xị. Ở Queen-Bee nhạc sĩ Phạm Duy đã giới thiệu tôi trước công chúng về tác giả bài thơ Kỷ Vật Cho Em. Sau cái bắt tay giữa tôi với nhạc sĩ Phạm Duy, nhạc sĩ Ngọc Chánh và quái kiệt Trần Văn Trạch, ca sĩ Thái Thanh đã trình bày bài thơ phổ nhạc này.

Sáng hôm sau, tôi đến tư gia của nhạc sĩ Phạm Duy 215 E/2 đường Chi Lăng – Phú Nhuận ăn cơm và ký hợp đồng bài thơ Kỷ Vật Cho Em tại đây. Trong bản hợp đồng tiền tác quyền là 30.000 đồng (thời điểm đó giá một lượng vàng nếu tôi nhớ không lầm là khoảng 10.000 đồng đến 12.000 đồng), nhưng thực tế thì nhạc sĩ Phạm Duy trả tôi 50.000 đồng (30.000 đồng bằng Sec nhận ở Pháp Á ngân hàng – 20.000 đồng tiền mặt.)

Lúc bản Kỷ Vật Cho Em được hát là cuộc chiến tranh Việt Nam trở nên dữ dội, nên đã gây những chấn động lớn lao vào tâm hồn của những quân nhân Sài Gòn cũng như mọi tầng lớp dân chúng. Như trong hồi ký của nhạc sĩ Phạm Duy phát hành đã dành chương hai mươi hai viết về Kỷ Vật Cho em và tác giả có đoạn :

“…Tôi hát bài này trước tiên tại phòng trà Ritz của Jo Marcel với ban nhạc Dreamers, rồi hầu hết các ca sĩ từ Thái Thanh, Lệ Thu, Khánh Ly qua Thanh Lan, Nhật Trường đều thu thanh vào băng nhạc. Bài hát trở thành một hiện tượng lớn của thời đó. Ở phòng trà, khi ca sĩ hát bài đó lên, bao giờ cũng có sự náo động nơi khán thính giả. Nếu là thường dân thì phản ứng cũng vừa phải, nhưng vì hồi đó dân nhà binh ở bốn vùng chiến thuật về Sài Gòn là đi phòng trà và khi trong đám thính giả có một sĩ quan đi nghỉ phép hay một thương phế binh là có sự phản ứng ghê hồn nơi người nghe. Có thể nói bài này gây một không khí phản chiến, nhưng có một cái gì cao hơn chính trị. Nó nói đến định mạng của con người Việt Nam mà ai cũng phải chấp nhận…”

Cuộc chiến tranh càng ngày càng trở nên khốc liệt, nhất là cuộc hành quân Lam Sơn 719 qua bên kia Lào. Có nguồn tin tôi đã nằm lại ở vùng Hạ Lào, không hiểu xuất phát từ đâu, và cái chết của Linh Phương tác giả Kỷ Vật Cho Em còn có bài viết của tác giả Trần Tường Trình đăng trên nhật báo Sóng Thần của ông Chu Văn Bình (tức nhà văn Chu Tử) và một số phân ưu chia buồn trên các báo khác. Rồi mặt trận Kampuchea bùng nổ, tôi lại được khai tử thêm lần nữa tại chiến trường này. Lúc đó, anh Thiện Mộc Lan ký giả báo Đuốc Nhà Nam đã cố công tìm sự thật về cái chết của tôi.

Sau nhiều ngày tìm hết chỗ này đến chỗ khác qua nhiều nguồn, ký giả Thiện Mộc Lan đã đến nhà nhạc sĩ Phạm Duy như tác giả bài báo đã kể : “…Chúng tôi chợt nghĩ đến nhạc sĩ Phạm Duy, hy vọng rằng giữa nhạc sĩ và nhà thơ có nhiều liên hệ từ lúc Kỷ Vật Cho Em ra đời, thế nào Phạm Duy cũng biết rõ về Linh Phương. Khi nghe chúng tôi báo tin Linh Phương đã chết, nhạc sĩ họ Phạm sửng sốt :

– Linh Phương mới thăm tôi cách đây nửa tháng mà. Lẽ nào …như vậy được. Ôi dzời ! Tôi nghĩ rằng anh ấy chưa chết đâu… “. Được nhạc sĩ Phạm Duy ghi cho địa chỉ, ký giả Thiên Mộc Lan tìm đến tư gia nhà thơ Vũ Trọng Quang và gặp tôi tại đây. Báo Đuốc Nhà Nam đã  đăng loạt bài 4 kỳ báo qua những tít :

1- “Nhà thơ có nhiều huyền thoại, tác giả “Kỷ Vật Cho Em” Linh Phương còn sống hay đã vĩnh viễn ra đi ?

2- Liên lạc khắp nơi Đuốc Nhà nam mới tìm ra tông tích tác giả Kỷ Vật Cho Em.

3- Linh Phương đã nói gì với Đuốc Nhà Nam.

4- Linh Phương thích làm thơ nhưng không mang danh “thi sĩ “.

Thực ra, không chỉ bài thơ Kỷ Vật Cho Em làm tốn nhiều giấy mực báo chí, mà còn có 2 bài thơ đăng cùng một số báo trên tờ tuần báo Khởi Hành của Hội Văn nghệ sĩ quân đội Sài Gòn, đó là bài thơ “Bài cho chiến trường Đông Dương” nói về những cái chết của người Việt Nam trên đất Kampuchea, Hạ Lào… và bài “Từ giã bọn mày” nói về thân phận của những Lao công đào binh. Tôi chỉ còn nhớ 3 khổ thơ của bài này như sau:

“Từ giã bọn mày mai tao lên núi

Mặc áo lao công đập đá xây thành

Làm bạn vắt mòng chung vui với muỗi

Đắp lũy thông hào chờ cuộc giao tranh

Từ giã bọn mày tao đi nhặt nốt

Võ đạn đồng rơi rớt giữa quê hương

Từ giã bọn mày tao đi nhặt nốt

Dưới ruộng- dưới đồng- những máu- những xương…

Từ giã bọn mày xin đừng đưa tiễn

Dù một lần tao làm gã tội nhân

Từ giã bọn mày mai tao xuống biển

Tay ngoằn nghoèo vẽ trọn chữ Việt Nam”.

Khi báo phát hành khoảng một giờ sau thì bị cảnh sát tịch thu tất cả những số báo còn lại. Đấy là trường hợp có một không hai vì đây là tờ báo của Hội văn nghệ sĩ quân đội.

Sau năm 1975, đúng hơn là 1978 tôi từ Côn Đảo lang bạt kỳ hồ về Cà Mau, ba chìm bảy nổi, bị người ta “đánh” tơi tả, không còn chỗ dung thân dạt về Kiên Giang cho đến bây giờ. Có những lúc tôi chảy nước mắt khi tự hỏi : “Tại sao người ta không sống với nhau bằng tấm lòng để cư xử với nhau tử tế hơn ?”

Có lẽ tôi lan man hơi nhiều, dù còn có biết bao chuyện quanh bài thơ Kỷ Vật Cho Em mà tôi chưa thể kể hết, chỉ hy vọng một ngày nào đó tôi viết một cuốn hồi ký, họa may mới dàn trải được số phận của bài thơ Kỷ Vật Cho em.

Nguyên văn bài thơ :

KỶ VẬT CHO EM

Em hỏi anh bao giờ trở lại

Xin trả lời mai mốt anh về

Không bằng chiến thắng trận Pleime

Hay Đức Cơ- Đồng Xoài- Bình Giả

Anh trở về hàng cây nghiêng ngã

Anh trở về hòm gỗ cài hoa

Anh trở về bằng chiếc băng ca

Trên trực thăng sơn màu tang trắng

Mai trở về chiều hoang trốn nắng

Poncho buồn liệm kín hồn anh

Mai trở về bờ tóc em xanh

Vội vã chít khăn sô vĩnh biệt

Mai anh về em sầu thê thiết

Kỷ vật đây viên đạn màu đồng

Cho em làm kỷ niệm sang song

Đời con gái một lần dang dở

Mai anh về trên đôi nạng gỗ

Bại tướng về làm gã cụt chân

Em ngại ngùng dạo phố mùa xuân

Bên người yêu tật nguyền chai đá

Thì thôi hãy nhìn nhau xa lạ

Em nhìn anh – ánh mắt chưa quen

Anh nhìn em – anh cố sẽ quên

Tình nghĩa cũ một lần trăn trối

LINH PHƯƠNG

Yên Huỳnh post

Trên đây là thông tin từ Linh Phương, còn trên diễn đàn đã có nghi vấn về bài thơ này, cho rằng Linh Phương “đạo thơ” ?!, Mời các bạn đọc một phản hồi sau đây, và các bạn cũng có thể phân tích ai mới là tác giả bài thơ.

Bài viết này được post trong blog “Một thời Sài Gòn” vào ngày 8/10/2011, có đường dẫn :https://cafevannghe.wordpress.com/  với tựa “Nghi án Kỷ Vật Cho Em”.

KỶ VẬT CHO EM…

THƠ CỦA AI ?

Bài thơ liên-quan bản nhạc Kỷ-Vật Cho Em của Phạm-Duy

Hơn 40 năm dài, từ năm 1969. Tình cờ qua trang của lính, tôi đọc được một bài viết của anh Tr/Tá Bùi Đức-Lạc PB ND liên-quan đến người bạn ND quá-cố của tôi xin chia – xẻ cùng anh em.

Bài nhạc nổi danh của nhạc-sỹ Phạm-Duy đã được nhiều ca-sỹ hát đi hát lại, nói lên nổi lòng của anh em trẻ đi vào cuộc chiến thuở bấy giờ thật xúc-động và ngậm-ngùi !

Sự thật tác-giả không phải của Phương-Linh (admin: tức Linh Phương) mà của Chuẩn-Nghị !

Chuẩn-Nghị tên thật là Nguyễn Đức-Nghị người Phan-Rang. Đi khóa 26 Thủ-Đức, anh ta viết nhiều thơ đăng trên báo Văn-Nghệ Tiền-Phong trong trang thơ của Lý Thụy-Ý phụ trách.

Năm 1969, tôi bị thương mới hồi-phục, Nghị đóng quân ở Bình-Điền khi lại thăm Nghị và các anh em trong đơn-vị cũ trong đó có Nguyễn-Trọng-Nhi, Trần Chí Mỹ, và các anh em khác.

Khi tâm-sự riêng với nhau, Nghị rất bực-tức về bài thơ mà anh làm gởi đăng báo Tiền-Phong lại được Phạm-Duy phổ-nhạc với tên tác-giả khác ! Người sĩ quan trẻ trong đơn-vị Nghị nhờ đưa bài thơ này cho Lý Thụy Ý lại giao cho nhạc-sỹ Phạm-Duy, thấy hay nên ông này làm bài nhạc luôn !

Trong bài thơ của Nghị là lời nhắn lại cho Nga người tình mà khi hữu sự Nghị biên thư cho tôi trao cho cô ấy. Hoàn cảnh đang bị bế tắc vì mẹ cô Nga không thích Nghị người miền Bắc ! Sau đó khi đi hành-quân ở Tây-Ninh Nghị tử trận.

Chuyện khiếu-nại với Phạm-Duy kể như im luôn và bài nhạc được phổ biến với lời thơ của Phương Linh mãi cho đến nay chỉ có một bài viết của anh cựu Tr/Tá Nhảy Dù Bùi Đức-Lạc đưa ra trở lại.

Bài thơ này Nghị viết bằng mực đỏ, cho tôi xem, nhưng vì lời thơ quá chán đời, tôi không chịu lấy, chỉ đọc qua thôi ! Trước khi tôi bị thương ở Vên Vên Đá Hàn, Nghị có tặng cho tôi bốn câu thơ cũng giọng thơ chán đời chết chóc, Nghị viết trong một miếng giấy khổ lớn cũng bằng mực đỏ và trao cho tôi trong phòng ngủ của đơn-vị, tôi cho là điềm xấu xé đi sau khi đọc nó.

Nghị nói : “Tao cho mày bốn câu thơ này làm kỷ-niệm ! Nếu tao có chết mày lấy ra đọc để nhớ tao !“ Tôi còn nhớ nó như sau :

“Ngày mai gục chết đau thương,

Thây ma vất-vưõng nơi phương trời nào .

Người yêu ai có nguyện cầu ?

Cỏ hoang xanh mọc lên màu lãng-quên ! “

(Chuẩn-Nghị)

Khi Nghi mất, đem xác về nghĩa-trang Quân-Đội Biên-Hoà, tôi và Nga có lên tiễn linh cửu lần cuối cùng để đưa về chôn ở PhanRang. Sau đây là bài thơ chánh mà Chuẩn Nghị viết lúc ấy gởi  báo Tiền Phong nhưng không đến. Xin gởi các bạn xem :

KỶ VẬT

Em hỏi

Xin trả lời mai mốt anh về.

Anh trở về không bằng Mũ Đỏ Áo Hoa,

Anh trở về không bằng huy- chương chiến-thắng.

Anh trở về trong chiều hoang chiếu nắng,

Trong hòm gỗ hoặc trên chiếc băng -ca.

Anh trở về nằm giữa vòng hoa,

Những vòng hoa tang chan-hòa nước mắt. 

Anh gởi về cho em vài kỷ-vật,

Đây chiếc nón sắt xuyên mấy lỗ đạn thù.

Nó đã từng che nắng che mưa,

Đã từng hứng cho anh giọt nước.

Chiều dừng quân nơi địa-đầu lạnh buốt,

Nấu vội-vàng trong đó nắm cơm khô.

Anh gởi cho em một tấm poncho,

Đã rách nát theo hình-hài năm tháng.

Lều dã-chiến trên đồi hoang cháy nắng,

Che cơn mưa gió lạnh buổi giao mùa.

Làm chiếc võng nằm nhìn đời lính đong-đưa,

Và….khi anh chết cũng poncho tẫn-liệm.

Nay anh gửi cho em làm kỷ-niệm,

Nhận không em chút tình lính này đây ?

Tình lính đơn-sơ vì chinh-chiến kéo dài,

Nhưng tình lính chỉ lạt phai

Khi hình-hài và con tim biến-thể.

Chuẩn-Nghị 1969.

Gởi các bạn một chút gì để nhớ lại thời son trẻ, mong những lời mọn này giải-tõa được u-uẫn của linh-hồn bạn tôi… Thân,

TT Phong

LỜI BÀN CỦA “CAO BỒI GIÀ” : theo lời bạn TT Phong xác nhận, nhạc phẩm “Kỷ vật cho em” do NS Phạm Duy phổ nhạc là từ bài thơ “Kỷ vật” của Chuẩn-Nghị. Nhưng từ nhiều năm nay trên diễn đàn văn nghệ, mọi người đều cho rằng Phạm Duy phổ từ bài thơ “Để trả lời một câu hỏi” của Linh Phương.

Vì nội dung 2 bài thơ “Kỷ Vật” của Chuẩn Nghị và bài “Để trả lời một câu hỏi” của Linh Phương về âm điệu không khác nhau, chỉ có vài câu được sửa chữa (không biết khi phổ nhạc, nhạc sĩ Phạm Duy có chỉnh lời cho đúng tông điệu hay không ? mà nhất định khi thơ phổ nhạc thì phải có sửa lại lời thơ cho lời hợp với âm giai).

Nhưng không hiểu tại sao bài thơ của Linh Phương “giống y chang” lời trong nhạc phẩm “Kỷ vật cho em” của Phạm Duy ? (xen phần Linh Phương post nguyên văn xác nhận bài thơ ở đoạn trên).

Còn nói về nhà báo Thiện Mộc Lan, Trần Tường Trình (còn có tên Trần Thanh tâm), Phan Bảo Quân (còn có tên Vũ Ngọc Đức) đều là bạn thân – đồng nghiệp – của Cao Bồi Già, thời bấy giờ có đưa tôi một bài viết từ tay ký giả Phạm Hồng Vân giao lại, nói rằng “mày làm scandal này đi, mai mốt có chầu nhậu”, nhưng tôi từ chối, bởi lúc đó tôi đang “làm báo chí” cho cơ sở Nguồn Sống của nhạc sĩ Ngọc Chánh, có tiệm bán băng nhạc Khai Sáng trên đường Công Lý, dưới lầu phòng trà khiêu vũ trường International Quốc Tế. Mà Ngọc Chánh đang ký độc quyền khai thác nhạc phẩm “Kỷ vật cho em” của Phạm Duy.

Cho nên lúc đó Chuẩn Nghị đã mất, người cầm bài thơ “Kỷ vật” định giao qua cho Lý Thụy Ý cũng không còn, vì thế không có đính chính các bài viết này. Và một câu hỏi đặt ra, chính Linh Phương cũng có nói dư luận cho rằng “tác giả Kỷ Vật Cho Em đã qua đời”, sao mà logic với phản hồi của bạn TTPhong về việc tác giả Chuẩn Nghị đã qua đời ?

Vậy các bạn có ai biết thêm chi tiết xin cho thêm lời phản hồi.

KINH HÃI

‘CHỢ ĐỘC DƯỢC’

HÀ THÀNH

Một nồi ngô luộc chỉ cần cho vài thìa “săm-pết” (còn gọi là muối diêm) là để cả tuần không thiu. Một nồi chè to chỉ vài viên “B1” là ngọt lừ như cho cả kg đường kính…

Đường hóa học tràn lan ở chợ !

Trong vai người tìm mua đường hóa học về luộc ngô, chúng tôi tiếp cận khu bán hàng khô của chợ Đồng Xuân – Bắc Qua (quận Hoàn Kiếm). Tại đây, chúng tôi được người bán hàng giới thiệu loại đường “mía”, có giá 55.000/gói 1kg. Thông tin trên bao bì gói đường in bằng tiếng Trung Quốc, mặt trước in hình bốn cây mía, mặt sau đề tên loại đường là “sodium cyclamate”. Hạt đường dạng tinh thể nhỏ màu trắng, dẹt và hơi dính.

Theo lời quảng cáo của người bán, loại đường này được nhiều người ưa chuộng bởi nó ngọt gấp 50 lần đường kính, vì vậy “một nồi ngô to chỉ cần cho khoảng 2 thìa đường là đủ luộc trong cả ngày”. Tuy nhiên qua tìm hiểu chúng tôi được biết, đường cyclamate thực chất là đường hóa học. Nguy hiểm hơn, đây là chất làm ngọt nhân tạo, không có giá trị về mặt dinh dưỡng và không có trong danh mục các phụ gia thực phẩm được phép sử dụng.

Tỏ vẻ chưa hài lòng về loại đường nói trên, chúng tôi hỏi về loại đường hóa học viên to bằng hạt đậu thì người bán hàng tại chợ Đồng Xuân khẳng định chắc nịch là có hàng nhưng muốn lấy thì phải chờ. Tất tả chạy đi một lúc, người bán hàng quay lại, mắt trước mắt sau ngó nghiêng dáo dác rồi lôi vội túi đường được phủ trong chiếc khăn tay và phân trần : “Trị an ở đây mà bắt được thì mệt lắm !”. Loại đường này cũng xuất xứ từ Trung Quốc, có tên gọi Tang Jing, được bán với giá 90.000đ/gói 500g. Người bán cho biết loại đường này rất ngọt, “một nồi ngô to chỉ cần cho từ 5-6 viên là đủ”.

Tiếp tục đi “mua đường” tại chợ Dịch Vọng (quận Cầu Giấy), chúng tôi được một người bán hàng cho biết ở đây có nhiều loại đường hóa học khác nhau, cả của Việt Nam và của Trung Quốc, giá cả giao động từ 20.000-300.000đ/kg. Chị này cũng tiết lộ thêm, mỗi loại đường chỉ hợp với một kiểu món ăn. Cụ thể, đường “B1” (viên đường có dạng giống viên thuốc B1) thường chỉ dùng cho nước dùng phở hay để pha nước chấm, còn đường “mía” và đường “dải lụa” thường được người mua cho vào chè hay nước luộc ngô vì có độ ngọt cao hơn. Khi PV hỏi mua, chị bán hàng mắt lấm, mày lét đảo một vòng để quan sát rồi mới ghé vào tai chúng tôi nói : “Cứ để lại địa chỉ, chị sẽ cho người mang đến tận nơi”.

Khác với hai chợ trên, tại chợ Ngã Tư Sở, đường hóa học được bày bán khá công khai ở các cửa hàng khô. Ngoài các loại đường đã đề cập ở trên như đường “mía”, đường Tang Jing hay “B1”, một người bán hàng ở đây còn đưa ra một loại khác. Loại này dạng viên giống đường Tang Jing nhưng hạt to hơn, nhãn mác bằng tiếng Trung Quốc và có giá 150.000 đ/gói 500g. Theo lời người bán, đường này còn ngọt hơn đường “mía” hay đường Tang Jing, vì thế giá cũng cao hơn.

Ngô luộc cả tuần không… thiu!

Không như đường hóa học được các chủ hàng khô bày bán công khai, “săm-pết” thuộc loại hàng hiếm và khó mua. Qua lời giới thiệu của những người bán hàng ở chợ Hôm (quận Hai Bà Trưng), chúng tôi tìm đến cơ sở chuyên bán thuốc bảo quản thực phẩm trên phố Hàng Buồm. Khi chúng tôi hỏi mua loại thuốc bảo quản để chống thiu thối cho ngô luộc, người bán đưa ra một loại thuốc có tên gọi là “săm-pết”, được gói trong bao bì không nhãn mác với giá 40.000đ/kg, dạng bột trắng và có mùi hăng rất khó chịu.

Theo lời người bán, một nồi ngô luộc chỉ cho từ 1-2 thìa cà phê “săm-pết” là để cả tuần cũng không hỏng. Người này cũng cho biết thêm: “Dạo này nhu cầu chưa cao nên cũng ít người đến mua loại này cho vào ngô. Phần lớn là họ đến mua “săm-pết” để ướp măng hay bảo quản thịt, xúc xích…”. Trong lúc chủ hàng đang thao thao về công dụng của loại hóa chất này thì một khách hàng dừng xe, tấp vào quán mua 4kg “săm-pết”. Ông chủ hàng thấy khách quen đon đả: “Tay này lấy “săm-pết” để chuyên ướp măng, không tin chú cứ hỏi chuyện”. Tưởng chúng tôi là người mới vào nghề, vị khách mua “săm-pết” về ướp măng thõng thượt buông một câu đầy kẻ cả: “Măng mà thiếu cái này (săm-pết – PV) thì coi như vứt!”.

Tại một cửa hàng, hàng khô trong chợ Mỹ Đình (huyện Từ Liêm), người bán đưa ra một túi bột màu trắng, không rõ nhãn mác với giá 15.000đ/100gram và quảng cáo: “Nhiều người đến mua loại này của chị lắm. Người ta ướp cả tấn măng để cả năm cũng không hỏng”. Khi được hỏi về tên gọi và xuất xứ, chị này cho biết chẳng rõ tên là gì, chỉ gọi nôm na là “thuốc chống thiu thối”, có điều, loại hàng này rất khó mua, nhiều khi phải lên tận biên giới mới có.

Quay trở lại chợ Đồng Xuân, khi chúng tôi hỏi mua loại thuốc bảo quản ngô luộc sao cho lâu thiu, một chủ hàng khô cho biết là có hàng nhưng phải đặt trước thì mới lấy về. Theo mô tả của người bán, loại thuốc này được đóng trong bao bì in tiếng Việt, có tên gọi “Thuốc chống mốc”, dạng bột giống hạt nêm, màu nâu, mùi hăng và giá rất cao, 290.000đ/gói 500g. Người bán cũng cho biết thêm: “Nhiều người không biết công dụng bảo quản thực phẩm của loại này vì nó được dùng trong công nghiệp!”. Có đi mới hay, độc dược đang được đưa vào miệng người dân ngay các chợ giữa Hà thành hoa lệ.

Lan caysu post (Theo GiadinhNet)

VÌ SAO BÃO

MANG TÊN PHỤ NỮ ? 

Nhân tiện Bà Chằng Sandy viếng vùng Đông Bắc Hoa Kỳ, hơn nữa lại có vài nữ Đồng Môn trú ngụ ở DC, nên bài này xin được chia sẻ cùng quý bạn ! Nhưng xin được thanh minh thanh nga trước là hòan tòan không có ý nói xa nói gần gì đến những Phái Yếu hiền dịu như ma sơ và xinh như mộng của chúng ta đâu đấy nhé 🙂

Vì sao bão mang tên phụ nữ ?

Trên thế giới, chỉ có Việt Nam là gọi bão theo số, còn toàn cầu đều đặt tên bão theo các danh từ mỹ mìều và thơ mộng vẫn dùng để gọi các cô gái dịu dàng và xinh đẹp. Đã nhiều lần tổ chức bảo vệ nhân quyền kêu ca về vấn đề này, và các quốc gia cũng thử sữa chữa. Nhưng than ôi, hễ đặt tên bão khác đi, thì hoặc nó không đến, hoặc tệ hơn nó đến mà hổng ai đề phòng, gây hậu quả thảm khốc.

Gần đây, các nhà khoa học đã tổ chức hội thảo, xem xét sự giống nhau và khác nhau giữa cơn bão và  “quý cô”. Cuối cùng họ đã đưa ra kết luận như sau :

Sự giống nhau:

1/- Bão và phụ nữ đều hình thành từ những vùng bí hiểm và từ những nguyên nhân bí hiểm. 2/- Đường đi của bão và phụ nữ đều không thể đoán trước. 3/- Cả phụ nữ và bão đều có thể bất ngờ mạnh lên. 4/- Cả 2 đều có kèm theo mưa. 5/- Cả hai đều có thể gây hư hại cho cây cối, nhà cửa và hoa màu. 6/- Trước khi bão tới và trước khi phụ nữ nổi giận, trời rất đẹp. 7/- Vật thổi tung trước tiên thường là quần áo. 8/- Phương pháp đề phòng tốt nhất là đóng cửa ngồi im trong nhà, 9/- Có nhiều tiếng nức mạnh. 10/- Muốn tồn tại đều phải biết sống chung. 11/. Ngay khi bão đổ tới và trước khi phụ nữ ra tay, trời đen tối và yên lặng lạ thường. 12/. Khi bão và phụ nữ ra đi, ta đều mất đi nhà, xe, và của cải, có khi mất luôn cả tánh mạng.

Còn sau đây là những điểm khác nhau cơ bản :

1/- Bão nổi lên theo mùa, phụ nữ nổi lên quanh năm. 2/- Bão tàn phá lung tung, phụ nữ nhiều lúc chỉ tàn phá 1 chỗ. 3/- Bão càng ngày càng yếu đi, phụ nữ càng ngày càng mạnh lên. 4/- Bão ồn ào mới đáng sợ, phụ nữ yên lặng càng đáng sợ hơn. 5/- Trời nổi bão khi khí lạnh về, phụ nữ nổi bão khi quý ông không về. 6/- Bão mạnh khi nó to, phụ nữ mạnh khi họ nhỏ. 7/- Muốn an toàn ta phải chạy xa bão, muốn an toàn ta phải lại gần phụ nữ. 8/- Bão làm đắm thuyền, phụ nữ làm đắm mình. 9/- Bão cần mây tan, phụ nữ chẳng cần mây gì hết.

Sau khi kết luận này đưa ra, chị em phản đối kịch liệt, đến mức các nhà khoa học phát hoảng, phải triệu tập khẩn cấp một cuộc họp so sánh bão với đàn ông và đưa ra bảng tổng kết là :

A/- Sự khác nhau giữa bão và đàn ông :

1/. Bão kèm theo sấm chớp, đàn ông chỉ kèm theo những lời hứa suông.

2/. Bão hay đổ bộ vào vùng quen. Đàn ông hay đổ bộ vào vùng lạ.

3/. Bão đôi khi không chịu vào bờ, đàn ông đôi khi không chịu xa bờ.

B/- Sự giống nhau giữa bão và đàn ông :

1/. Cả hai càng đi xa càng yếu đi.

2/. Cả hai nhiều lúc đều đe dọa rất cao rồi chả làm gì cả.

3/. Cả hai khi tàn đều làm ướt cảnh vật.

4/. Cả hai đôi khi chỉ được thiên hạ nhớ đến do sức tàn phá mà thôi.

Mỹ Nhàn post

VĂN HÓA VĂN NGHỆ (23)

NHẠC SĨ Y VÂN

TÌNH KHÚC NHƯ

NHÂN CHỨNG KỶ NIỆM

Tiếp theo bản tin : VĂN HÓA VĂN NGHỆ (21)

Mời bạn bấm vào đường dẫn trên.

Nói tới đời thường của cố nhạc sĩ Y Vân, tôi nghĩ không ai có thẩm quyền hơn người bạn đời thứ hai, người sau cùng, chia sẻ buồn vui với ông mấy chục năm thăng trầm; nhất là những năm tháng sau biến cố tháng 4/1975. Đó là bà Minh Lâm. Hơn một lần bà tâm sự rằng :

“Nhiều người thêu dệt Y Vân thành một con người đa tình, trăng hoa. Là vợ chồng, mấy mươi năm đầu gối tay ấp nên tôi rất hiểu nhà tôi. Anh ấy là một người đàng hoàng, có gì cũng thật thà kể với vợ (kể cả những việc sâu kín như trường hợp lấy nghệ danh Y Vân). Anh ấy rất có hiếu với mẹ và thương yêu vợ con.

“Thời gian sau năm 1975, Y Vân tham gia Đoàn ca nhạc Hương Miền Nam, rồi nhận viết nhạc cho nhiều nguồn : phối nhạc cho Saigon Audio, viết nhạc phim, nhạc nền cho sân khấu… Anh làm việc cật lực bất kể ngày đêm. Ban trưa, nhìn anh xoay trần viết nhạc dưới mái tôn thấp nóng hầm hập, thấy thương vô cùng. Trời thương, nên giai đoạn đó anh được ‘đặt hàng’ dồn dập, có thể nói là ‘ăn nên, làm ra’, nhờ đó mà gia đình chúng tôi xây lại được căn nhà tạm gọi là ngăn nắp, nhưng anh làm ra cho mẹ con chúng tôi hưởng, bởi chỉ một năm sau thì anh mất…” (6)

Kể lại phản ứng của thân mẫu nhạc sĩ Y Vân / Trần Tấn Hậu, người đàn bà không đi thêm bước, dù còn trẻ khi người chồng qua đời (Bà ở vậy nuôi con. Nhờ thế, chúng ta có được ca khúc bất tử “Lòng Mẹ”), người vợ tấm cám của cố nhạc sĩ Y Vân cho biết : “Dạo ấy, đứng trước quan tài của anh đang được quàn tại Hội Âm nhạc TP. Mẹ chồng tôi không hề khóc một tiếng. Có lẽ tất cả nước mắt để khóc thương con, bà cụ đã âm thầm nuốt ngược vào trong. Chúng tôi nghe bà cụ nói : “Người đời thường bảo : Con ‘đi’ trước mẹ là bất hiếu, nhưng mẹ chẳng trách con đâu bởi con đã làm tròn chữ hiếu ngay từ lúc viết xong bài ‘Lòng mẹ’… Con đi trước mẹ nhưng không nợ mẹ, vì mẹ nuôi con 20 năm nhưng con đã nuôi mẹ đến 40 năm…’

“10 tháng sau, Mẹ nhạc sĩ Y Vân mất.” (7)

Về âm nhạc của cố nhạc sĩ Y Vân không chỉ có “Lòng mẹ.” Ông còn để lại cho đời mảng tình khúc, phong phú, rậm rạp như một khu rừng tâm tưởng thăng hoa.

Tôi hằng nghĩ, một tình khúc khi đạt được cả hai yếu tố : Giai điệu đẹp, và ca từ ý nghĩa hoặc, tâm lý thì, những tình khúc ấy sẽ có một vị trí, một chỗ đứng như những kỷ niệm bất hoại trong nhiều cuộc tình đôi lứa. Như những hạt giống gieo trồng an ủi những tâm hồn cô độc. Chúng như người bạn đồng hành, như nhân chứng đi theo tới cuối đời kẻ nào từng có đôi lần hát lên trong ánh sáng yêu thương hay, bóng tối đoạn lìa.

Theo tôi, hầu hết tình ca Y Vân / Trần Tấn Hậu đều có được tính chất đặc biệt này.

Nhìn lại, chúng ta thấy hàng trăm tình khúc của họ Trần chẳng những được đón nhận một cách nồng nàn ngay khi tác phẩm mới phổ biến mà, chúng còn được yêu quý trải qua nhiều thế hệ – Hiểu theo nghĩa chúng đã ở lại bền lâu trong ký ức.

Những tình khúc của Y Vân như “Đồi thông,” Ngăn Cách,” “Đêm giã từ (phổ thơ Thể Vân), “Thôi,” “Đừng lừa dối nhau,” Người em sầu mộng” (phổ thơ Lưu Trọng Lư),  “Hãy yêu tôi” (phổ thơ Đinh Hùng), “Những bước chân âm thầm (phổ thơ Kim Tuấn) v.v…dù với nội dung nào, cũng đều như những nhân chứng của kỷ niệm. Như người bạn thân thiết nhất của những kẻ lạc lõng, cô đơn!

Bên cạnh đó, ca khúc “Ảo ảnh” của Y Vân, sớm được nhiều giai thoại (hay huyền thoại) tìm đến, vây quanh !

Tôi không biết “Ảo ảnh” với những chi tiết được báo Thanh Niên, cột mục “Nghệ thuật yêu” đăng tải, có nằm trong điều mà, người bạn đời của cố nhạc sĩ Y vân từng than phiền là “thêu dệt” (?) – Nhưng, cách gì thì, dưới đây cũng là một giai thoại làm mủi lòng nhiều người :

 “Y Vân lập gia đình năm 1963, lúc này anh đã là trưởng ban nhạc Y Vân danh tiếng ở Sài Gòn (cùng với sự cộng tác của các ca sĩ Thanh Thoại, Tuyết Mai, Mai Hương…). Một buổi trưa năm 1965, từ đài phát thanh, Y Vân dắt xe máy ra cổng chuẩn bị về thì có một chú bé chạy đến mời anh vào quán nước cạnh đấy. Nơi đây, một thiếu nữ khá xinh ngồi chờ sẵn, chú bé giới thiệu đó là chị của mình, tên Huyền, đang là sinh viên Ban Việt-Hán, Đại học Văn khoa Sài Gòn. Huyền có đôi mắt to, đen và buồn. Trên bâu áo của nàng có một mảnh tang đen. Y Vân cố nhớ lại xem mình đã gặp cô gái này ở đâu chưa, nhưng chịu thua. Theo phép xã giao anh ngỏ lời chia buồn. Nhưng cô gái lắc đầu, buồn bã : ‘Em đâu có người thân nào qua đời. Mảnh tang này là dành cho mối tình của em đó !’. Y Vân sượng sùng, anh cũng manh nha đoán rằng phải có một điều bí ẩn gì đó mới khiến cô gái này vượt qua nỗi e dè thường thấy của phái nữ, không ngại điều thị phi để đánh bạo gặp anh, nhưng cũng khó mở miệng để hỏi, đành chỉ ngồi nói chuyện bâng quơ một lát rồi viện cớ cáo từ.

“Hai hôm sau, Y Vân tìm đến nhà Huyền theo địa chỉ cô đã cho. Đó là một căn nhà vách gỗ đơn sơ nhưng ngăn nắp, sạch sẽ nằm bên chiếc ao rau muống trong con hẻm đường Trương Minh Giảng (gần chợ Phú Nhuận bây giờ). Huyền không có nhà nhưng cậu em trai đã thổ lộ với chàng nhạc sĩ những điều thầm kín của chị mình. Chú bé cho biết họ là con của một địa chủ tiếng tăm ở Long An, được gia đình gửi lên Sài Gòn trọ học. Huyền rất thích âm nhạc và ca hát, đặc biệt là thích nhạc của tác giả Y Vân. Những cuốn vở học trò của Huyền cũng được cô kẻ khung, chép nhạc (hầu hết là nhạc của Y Vân). Tiền gia đình gửi lên để Huyền hoàn tất chương trình cử nhân Văn khoa lại được nàng đem đóng học phí vào… lớp dạy đàn Tây Ban cầm. Suốt ngày Huyền chỉ ôm đàn và hát nhạc Y Vân.

“Việc học bê trễ, mấy năm liền chẳng đậu thêm được chứng chỉ nào. Thấy vậy, ông bố đã bắt hai chị em về quê, ép gả Huyền cho một anh trung úy hải quân. Huyền quyết liệt từ chối. Bẽ mặt với nhà trai, ông bố đăng báo từ con. Huyền đau khổ, trút tâm sự với em trai rằng đã yêu nhạc sĩ Y Vân. Sau khi bàn tính, hai chị em trốn nhà lên Sài Gòn, Huyền phải tìm việc làm để mưu sinh và nuôi hy vọng có ngày sẽ được cùng người trong mộng kết tóc se tơ. Sau nhiều lần dò hỏi, biết chắc nhạc sĩ Y Vân đã có gia đình, Huyền làm một mảnh tang đen, luôn đeo nó trên bâu áo…” (8)

Tác gỉa bài báo kết luận, ca khúc “Ảo ảnh” ra đời từ chuyện tình tuyệt vọng ấy.

Thêu Dệt Và, Sự Thật 

Tôi vẫn nghĩ, cái giá mà một người nổi tiếng phải trả, chính là những tin đồn, những dư luận xấu / tốt thêu dệt bên cạnh hào quang của người ấy. Nhất là với các nghệ sĩ ở lãnh vực âm nhạc và trình diễn.

Mức độ tin đồn, thêu dệt xấu / tốt thường tỷ lệ thuận với tiếng tăm mà nghệ sĩ ấy đạt được.

Trước đây nhiều năm, khi công nghệ thông tin chưa phát triển, tin đồn hoặc những thêu dệt quanh đời riêng một nghệ sĩ nổi tiếng, chỉ được phổ biến bằng phương tiện truyền tai. Người này kể với người kia những điều mà họ hãnh diện cho rằng chỉ mình họ biết được!

Nếu những dư luận mang nhiều tính “hư cấu” kia, có được phổ biến trên mặt báo thì, cách gì nó cũng vẫn bị giới hạn với số lượng ấn bản tờ báo đó bán được.

Nhưng từ khi internet ra đời thì, đây là một biến cố lớn của sinh hoạt nhân loại. Hiểu theo cả hai nghĩa tốt và xấu; đúng và sai…

Thí dụ, ở một nơi xa xăm hay một quốc gia nào đó, thiên tai xẩy ra; tức thì, chỉ ít phút sau, mọi người đều biết. Thay vì chúng ta phải đợi, để biết sau nhiều giờ, do báo chí, truyền thông loan tải. Tiếp theo mức độ nhanh nhậy này, là sự lên tiếng chia buồn, tiếp tay cứu trợ nạn nhân, giúp đỡ của các quốc gia khá; tùy theo hoàn cảnh, phương tiện của từng quốc gia ấy. Sự liên đới mang tính tương thân, tương ái này, theo tôi, là một hành động rất ý nghĩa của cộng đồng nhân loại. Từ đó, dù bị bất hạnh bởi thiên tai, các nạn nhân cũng được an ủi, cảm thấy ấm áp phần nào khi họ thấy rõ mình không bị lãng quên.

Nhưng mặt trái của sự nhanh nhậy kia, lại là tính chất vô trách nhiệm: Không thể kiểm chứng những tin tức, bài vở thuộc loại tin đồn, thêu dệt chung quanh đời riêng của các văn nghệ sĩ – Một khi loại tin tức, bài vở ấy được phổ biến trên on-line, tức không-gian-ảo.

Lại nữa, những nhân vật bị / được nói tới, hay những người có liên hệ hầu như không có thói quen lên tiếng đính chính, hoặc chỉnh sửa những dữ kiện thiếu trung thực.

Vì thế, những người muốn nghiên cứu, viết về một tác giả nào đó, vào on-line để tìm thêm tin tức như tiểu sử, sự nghiệp, đời thường một nhân vật, không có cách nào để kiểm chứng đúng / sai – Ngoài sự chọn lựa một trong hai điều, tùy mục đích người viết là:

– Lọc ra những gì được coi là tốt đẹp, hoặc ngược lại về nhân vật mình định viết…(9)

Với nhạc sĩ Y Vân, ông không chỉ nổi tiếng với hàng trăm ca khúc trữ tình mà, còn là tác giả ca khúc “Lòng mẹ” một ca khúc mà tôi muốn được ví như một thứ “quốc ca của tình mẫu tử” thì, tin tức, bài viết liên quan tới ông, từ tiểu sử, sự nghiệp sáng tác tới sinh hoạt đời thường của ông, đương nhiên được nhiều người ghi nhận. Thậm chí, có tác giả vì qúa yêu mến ông (?) mà, tạo thêm những “huyền thoại” bao quanh đời thường của ông.

Trước những tin tức, bài vở không đúng hoặc, mang tính “thêu dệt” phổ biến trên các trang mạng, sau khi nhạc sĩ Y Vân từ trần, thân nhân (tôi muốn nói vợ, con) của tác giả “Ảo ảnh” đã không hề có lời đính chính, giải thích.

Tuy nhiên, may thay, sau loạt bài viết về cố nhạc sĩ Y Vân / Trần Tấn Hậu, chúng tôi đã nhận được những tin tức chính xác, rất hữu ích cho những ai muốn nghiên cứu sâu xa về đời riêng của tác giả “Biển sầu.”

Số lượng tin tức quý báu mà chúng tôi vừa nhắc tới, được cung cấp bởi bà Như Hường, người bạn đời thứ nhất của cố nhạc sĩ Y Vân / Trần Tấn Hậu. (10)

Từ bà Như Hường, tương lai, những ai muốn nghiên cứu hay viết tiểu sử về cuộc đời tác giả “quốc ca của tình mẫu tử” sẽ có những dữ kiện xác thực sau đây :

Năm 1959 (không phải 1962 hay 1963), nhạc sĩ Y Vân chính thức kết hôn lần thứ nhất với bà Như Hường.

Một năm sau, năm 1960, họ có với nhau, con trai đầu lòng. Sau đó, là 3 ái nữ.

Những ca khúc nổi tiếng, còn lưu truyền tới bây giờ của cố nhạc sĩ Y Vân / Trần Tấn Hậu như “Ảo ảnh,” “Ngăn cách” v.v.… được họ Trần sáng tác trong thời gian chung sống với người bạn đời thứ nhất của ông.

Riêng “Biển sầu” và “Người vợ hiền” là hai ca khúc nhạc sĩ Y Vân viết cho bà Như Hường, như một bày tỏ cụ thể tình yêu, lòng trân trọng của ông dành cho người bạn đời thứ nhất của ông.

Hơn mười năm sau, tức năm 1970, với sự hy sinh rất hiếm xẩy ra trong thời hiện tại, bà Như Hường đã đi cưới vợ cho nhạc sĩ Y Vân.

Theo tiết lộ của Như Hường thì người vợ thứ hai của cố nhạc sĩ Y Vân, tên Minh Lâm – – Là em con cô, con cậu với bà Như Hường. (Thân phụ của bà Minh Lâm là em trai của thân mẫu bà Như Hường.) Cảm thông trước mối tình mãnh liệt của em gái, bà Như Hường đã có quyết định trên, mặc dù bà gặp nhiều phản đối trong gia đình. Điều đáng nói thêm, hai chị em rất hòa thuận.

Nhạc sĩ Y Vân ăn ở với người bạn đời thứ hai của ông, có thêm 4 người con. Cũng gồm có 1 trai và 3 gái. Nói cách khác, cố nhạc sĩ Y Vân có tất cả 8 người con, gồm 2 trai 6 gái.

Bà Như Hường còn xác nhận, bản chất cố nhạc sĩ Y Vân rất đứng đắn. Bà nêu thí dụ chuyện cô Huyền yêu nhạc sĩ Y Vân, từng được đề cập trên báo Thanh Niên, cột mục “Nghệ thuật yêu,” sau đấy phổ biến trên Internet, là một trong những “thêu dệt” do người viết vì quá yêu mến (?) nhạc sĩ Y Vân, nên đã gán ghép cho ông !.

Để kết luận, tôi nghĩ, tuy thiếu thời, nhạc sĩ Y Vân / Trần Tấn Hậu không được thong thả như những người bạn cùng trang lứa với ông – Nhưng bù lại, với lòng hiếu đễ, bản chất nghiêm túc và, tài năng thiên phú, tác giả “Lòng mẹ,” xứng đáng nhận được tình yêu thương, sự hy sinh cao cả mà, người bạn đời thứ nhất, bà Như Hường, đã dành cho ông.

Du Tử Lê (Calif. Oct. 2012.)

Chú thích: (6), (7): Nguyễn Việt, bđd.(8): Nguồn đd.

(9): Cá nhân tôi, trong hầu hết các bài viết của mình, những ngày gần đây, cũng nằm trong số người này. Vì không thể kiểm chứng tin tức được phổ biến trên on-line / không-gian-ảo, nên tôi luôn ghi chú rõ tư liệu được trích dẫn từ đâu, cũng như danh tánh trang chủ (web-site) tức nguồn của những bài vở ấy.

Trần Văn Tư post

BÍ ẨN LĂNG SỌ Ở HUẾ

Ai ở xứ Huế quan tâm đến chuyện hưng vong của triều Nguyễn đều biết di tích lịch sử Lăng Sọ gắn liền với nhiều chuyện ly kỳ nhuốm “mùi” binh đao khốc liệt và đậm chất huyền linh. Lý lịch của Lăng Sọ đậm nét của sự hận thù, toát đạo hiếu nghĩa của tình phụ tử và tính khảng khái của bậc quân vương “ơn đền – tội phạt”.

Lăng Sọ – đúng như tên gọi nghĩa đen của nó, là nơi an táng sọ người. Dân gian đồn rằng chủ nhân của chiếc đầu lâu được an táng ở cổ mộ từng bị nhà Tây Sơn quật mồ là con của một vị chúa và là thân phụ của một vị vua. Một người quyền cao chức trọng như thế cớ sao chỉ được chôn cất phần đầu, còn phần thi thể thì nơi đâu, vì sao lại có sự lạ như vậy ?!

Vị quân vương bạc phận

Từ nội thành Huế, đi lên hữu ngạn sông Hương khoảng 8km người ta sẽ gặp khu lăng mộ bề thế nằm ven đường, ẩn dưới rừng thông đại thụ với bảng chú giải “Lăng Cơ Thánh”. Quốc sử triều Nguyễn giải thích rằng “Cơ” có nghĩa nền tảng và “Thánh” là đạo đức thánh thiện. Khi được ghép với nhau, cụm từ Cơ Thánh hàm ý khó lòng lay chuyển đạo đức thánh thiện của các vị hoàng đế triều Nguyễn.

Lăng Cơ Thánh được dân gian quen gọi là Lăng Sọ. Một vài chú dẫn của các bậc cao niên và cả trong chính sử triều Nguyễn cho chúng tôi biết rằng chủ nhân của Lăng Sọ chính là Hưng Tổ Hiếu Khang Hoàng đế, con trai thứ 2 của Chúa Võ Vương, thân phụ của Vua Gia Long, người sáng lập vương triều Nguyễn với 13 đời vua trị vì trong 143 năm, mà vị vua cuối cùng là Hoàng đế Bảo Đại.

Thời gian và những biến chuyển của thời cuộc đã bào mòn, làm hư hại khá nhiều công trình ở Lăng Sọ nhưng không vì thế mà hủy đi vẻ hùng tráng và sự thơ mộng ở nơi an nghỉ ngàn đời của thân phụ vị vua vốn nổi tiếng về tài thao lược và ý chí phục quốc.

Lần theo sử liệu, mới biết năm 1765, khi Chúa Nguyễn Phúc Khoát băng hà (Võ Vương, vị chúa Nguyễn thứ 8).Lẽ ra theo di chiếu tiên vương thì người con trai thứ 2 là Nguyễn Phúc Luân nối ngôi. Nhưng quyền thần lúc bấy giờ là tể tướng Trương Phúc Loan cùng một số gian thần lộng quyền sửa đổi di chiếu, giam Nguyễn Phúc Luân vào ngục và lập người em nhỏ tuổi hơn là Nguyễn Phúc Thuần lên ngôi để dễ bề giám sát (lên ngôi lúc 12 tuổi, bị quân Tây Sơn sát hại năm 1777).

Tháng 10/1765, vì lo buồn và vì bạo bệnh nên Nguyễn Phúc Luân qua đời ở phủ đệ, hưởng dương 33 tuổi, để lại 10 người con (6 nam, 4 nữ), trong đó có Nguyễn Ánh, tức Vua Gia Long. Một số tư liệu nói rằng trong số 6 hoàng nam của Nguyễn Phúc Luân thì có 4 người bị quân Tây Sơn giết, một người con chết lúc nhỏ, chỉ hoàng nam cuối cùng là Nguyễn Ánh còn sống. Khi lên ngôi, Gia Long đã suy tôn cha là Hưng Tổ Hiếu Khang Hoàng đế.

Lăng Sọ như những lăng vua chúa ngày trước tọa lạc trên đồi cao, lưng tựa núi, trước mặt có sông Hương làm “tự thuỷ”, hai bên có núi chầu làm thế “tay ngai” (tả long hữu hổ). Khu vực tẩm (nơi chôn chiếc sọ Chúa Nguyễn Phúc Luân) được bao bọc bởi tường thành khổng lồ, quy mô hoành tráng với nhiều công trình nhưng phần lớn đã bị chiến tranh hủy hoại, chỉ còn lại khu vực chính, nơi có nấm mồ hình vuông, 3 tầng chôn sọ Chúa Nguyễn Phúc Luân vẫn nguyên vẹn.

Trước và sau mộ đều có bia đình đắp nổi hình rồng 5 móng, biểu hiện của bậc quân vương. Sự tài hoa của người thợ ngày trước giúp người ghé thăm nhận thấy con mãnh long này rất đặc biệt, nó có vẻ già nua, u uất nhưng lại toát quyền uy hơn những mãnh long tại các lăng vua Khải Định, Tự Đức, Thiệu Trị…

Sử nhà Nguyễn ghi Lăng Thoại Thánh được xây từ năm 1765, 25 năm sau lăng bị quân Tây Sơn quật, đến năm 1808 được Vua Gia Long cho xây lại ngay vị trí cũ. “Lăng Hưng Tổ Hiếu Khang Hoàng đế gọi là Lăng Cơ Thánh, ở núi Hưng Nghiệp, phủ Thừa Thiên. Bảo thành cao 6 thước 3 tấc, chu vi 28 trượng, xây gạch, trước mở một cửa, còn đằng trước làm bái đình hai cấp, tả hữu có lan can, phía đông làm điện Canh Y, phía tây làm Thần Khố, đều ba gian” – trích sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ do nội các triều Nguyễn biên soạn.

Trong gió lộng chiều tà, thả mình dưới gốc thông đại thụ hơn 200 năm tuổi với thân rễ u nần và thắp nén hương cho ngôi cổ mộ khổng lồ vốn dĩ chỉ có chiếc sọ của thân phụ Vua Gia Long, không khí liêu trai, có phần buồn thảm. Tiếng thông reo lao xao trong gió chiều như muốn kể lại câu chuyện buồn của vị “con chúa cha vua” lúc sống gặp tai ương, về trời lâm khổ nạn để rồi mộ phần bị bươi quật, xương cốt bị ném xuống sông, nỗi buồn đau đến khôn tả!

Chính sử kể rằng : năm 1790, tướng Tây Sơn là Nguyễn Văn Ngu đã cho quân quật mồ, bới mộ và bốc xương cốt của vị chúa đã mất ném xuống khúc sông Hương đối diện lăng. Đang lúc đó thì tướng Ngu hay tin tư dinh của mình bị bốc cháy nên bỏ dở việc kéo quân về dập lửa.

Nhân cơ hội ấy, một ngư dân làng Cư Chánh vốn có tình cảm với vị chúa bạc phận đã cùng các con nhảy xuống mò mẫm dưới sông sâu và vớt được hài cốt của vị chúa, chôn cất cẩn trọng. Năm 1801, tiến công vào Huế, nhận được tin ấy, Vua Gia Long đã chọn ngày lành tháng tốt an táng xương cốt thân phụ vào chỗ cũ và đến năm 1808 (có tư liệu ghi năm 1806) thì tiến hành xây dựng lăng mộ, đặt tên là Thoại Thánh, tức Lăng Sọ ở khu vực hiện tại.

Hành trình nhận cốt nhục của vua Gia Long

Quanh chuyện Chúa Nguyễn Phúc Luân bị quật mồ, dân gian lưu truyền truyền thuyết khác. Điều này được ông L.Cadière (Hội truyền giáo hải ngoại Paris) ghi chép vào năm 1923 : “Xương cốt của chúa đã bị nhà Tây Sơn ném xuống sông, ngay trước mặt lăng hiện nay. Vào một đêm nọ, một ngư dân tên Nguyễn Ngọc Huyên khi kéo chiếc vó của mình lên thì thấy trong vó có một sọ người. Người ngư dân ném cái xương sọ đi xa, lần thứ 2 xương sọ lại xuất hiện trước chiếc vó của mình. Người ngư dân run sợ ném chiếc sọ đi và khấn thầm “nếu đây là chiếc sọ của ngài nào có quyền lực linh thiêng thì xin trở lại trong vó của tôi”.

Và lần thứ 3, chiếc xương sọ lại xuất hiện. Thế rồi người ta cho rằng đó chính là xương sọ của hoàng đế và để nhận ra điều này, Vua Gia Long đã rạch cánh tay cho một giọt máu nhỏ lên xương sọ, ngay tức khắc giọt máu được chiếc xương khô hút lấy một cách khao khát, điều này đã minh thị tình máu mủ của cha con không thể nghi ngờ gì nữa”.

Rời khu vực nơi an táng chiếc sọ của Chúa Nguyễn Phúc Luân, chúng tôi tiến về phía trước, lần về phía bờ sông, những mong bắt gặp hình ảnh của hơn 200 năm trước, khi Vua Gia Long (sau khi dẹp nhà Tây Sơn, chúa Nguyễn Ánh lên ngôi vua, lấy niên hiệu Gia Long) cùng triều thần long trọng lập hương án ở khu vực Lăng Sọ rồi đích thân vua cầm dao rạch tay trích lấy máu để thử mối liên hệ máu mủ giữa mình và chiếc sọ người được ngư dân Nguyễn Ngọc Huyên tìm thấy.

Để rồi khi thấy chiếc sọ hút máu một cách khát khao, vị quân vương bật khóc trong sự vỡ òa của triều thần. Câu chuyện đậm chất liêu trai, huyền bí được ghi chép trong sử sách triều Nguyễn, được lưu truyền trong nhân gian như muốn truyền gửi thông điệp về tình phụ tử, về đạo làm con, bất kể người đó là vị vua đứng đầu thiên hạ nhưng luôn bỏng cháy nỗi hoài nhớ bóng hình người cha đã khuất đến lúc chết vẫn còn gặp sóng gió, tai ương!

Bên bờ sông Hương trước lăng Thoại Thánh, chúng tôi cứ thế miên man trong những ghi chép của người xưa về thời khắc Vua Gia Long nhận ra di cốt của phụ thân. Chuyện kể rằng sau khi làm lễ an táng long trọng chiếc sọ của thân phụ, Gia Long với niềm tin dưới đáy sông trước Lăng Sọ còn xương cốt của đấng sinh thành đã ban lệnh lấp toàn bộ hữu ngạn trước mặt lăng, xem đó là nấm mồ và bày biện hương án cúng tế linh đình, trang trọng.

Khi mọi việc hoàn tất, Vua Gia Long đã cho đại thần mời gặp ông Nguyễn Ngọc Huyên, người tìm ra chiếc sọ của thân phụ rồi ban thưởng trọng hậu, phong tước cho ông này cùng các con cháu. Khi ông Huyên qua đời, triều đình đã ban đặc ân, cho lập miếu thờ nằm bên hông Lăng Sọ.

Tính từ thời điểm mộ Chúa Nguyễn Phúc Luân bị tướng Tây Sơn quật mồ đến nay đã 222 năm, ngần ấy thời gian với quá nhiều biến chuyển của thời cuộc làm thay đổi vận mệnh của đất nước đủ để khép lại nhiều câu chuyện của một thời quá vãng. Nhưng với Lăng Sọ, những hiện thực lịch sử khốc liệt, ly kỳ, huyền bí ngày nào vẫn được người dân xứ Huế nằm lòng, lưu truyền từ đời này sang đời khác.

Hôm đến viếng Lăng Sọ, thật bất ngờ khi chúng tôi thấy ngôi cổ miếu nằm bên hông lăng cổ kính, ẩn dưới mấy gốc đại thụ cội rễ u nần. Hỏi ra mới biết đấy là miếu thờ người ngư dân nhờ vớt được sọ của thân phụ Vua Gia Long mà được phong quan, khi chết được thiên tử phá lệ cho lập miếu thờ cạnh mộ phần thân phụ. Ngôi miếu cổ xây bằng bê-tông, mái xuôi hình chữ V úp ngược, bên trong hương án có hình ảnh kỳ lạ, đó là hình con hạc cách điệu trong thế vờn mây sống động.

Một số tư liệu của người Pháp khi đến quan chiêm tại đây ghi rằng cái am ấy và những cổ thụ là nơi trú ẩn của các hiện tượng huyền hoặc: “Vào ban đêm, những nữ yêu tinh ẩn trú thường xuất hiện dưới ánh trăng, mang áo quần trắng và đầu bịt một cái khăn xanh nhảy múa ở giữa sân lớn lát gạch trước lăng”. Ấy nhưng theo các bậc cao niên đang sống quanh khu vực Lăng Sọ, sở dĩ có lời đồn ấy nhằm tránh việc khu lặng mộ thân phụ Vua Gia Long bị kẻ xấu quấy rối, làm mất tính thiêng linh.

Các bậc cao niên cũng kể rằng thời cha ông mình có truyền lại để canh giữ lăng, triều đình lập nên đội quân hộ lăng, biên chế quan đại thần nhị phẩm cả văn lẫn võ ngày đêm túc trực không cho bất kỳ ai đến gần. Và để cho nơi an nghỉ ngàn đời của vua cha thêm phần bình yên, tươi lạc, đích thân Vua Gia Long và sau đó là Vua Minh Mạng đã ban chiếu chỉ, đôn đốc việc trồng thông khắp khu vực này cũng như cúng nhiều vật quý như đồ tự khí bằng vàng, bạc, đồng, trang trí cành vàng lá ngọc quanh khu tẩm (mộ).

Tồn tại đến nay đã hơn 200 năm, qua bao biến chuyển của thời cuộc, những đồ thờ tự quý giá ở Lăng Sọ không còn nữa nhưng dù sao, sự tồn tại của ngôi lăng, nơi yên nghỉ của vị “con chúa cha vua” với tường thành vững chãi qua trăm năm vẫn bao bọc khu tẩm có hình dáng lạ kỳ, và đặc biệt là những gốc thông đại thụ vững chãi, xanh mướt cũng đủ để an ủi thế nhân lắm rồi. Nhất là với những ai quan tâm đến triều Nguyễn xưa trong giai đoạn đất nước lâm vào cảnh nội chiến khốc liệt, mà cuộc chiến giữa Vua Gia Long và Vua Quang Trung là minh thị đậm nét nhất !

Đọc thêm :

Theo Nguyễn Phước Tộc giản yếu, 6 công tử con Chúa Nguyễn Phúc Luân gồm có :

1/- Nguyễn Phúc Cao (thụy phong Tương Dương Quận công),

2/- Nguyễn Phúc Đồng (thụy phong Hải Đông Quận Vương),

3/- Nguyễn Phúc Ánh (Vua Gia Long),

4/- Một người con mất lúc còn nhỏ không rõ tên,

5/- Nguyễn Phúc Mân (thụy phong An Biên Quận công) và

6/- Nguyễn Phúc Điền (thụy phong Thông Hóa Quận Vương).

4 công nữ gồm : Ngọc Tú, Ngọc Đào, Ngọc Toàn và Ngọc Du (lấy Võ Tánh, có công giúp Nguyễn Ánh chống nhà Tây Sơn, tuẫn tiết tại thành Bình Định vào năm 1801, được Vua Gia Long sau khi chính thức lập nên triều Nguyễn truy phong Dực vận công thần Thái úy Quốc công). (Theo An ninh Thế giới)

Yên Huỳnh post

Muốn con làm nghề gì?

Một cập vọ chồng trẻ đi hưởng tuần trăng mật, trước khi đi mẹ cô gái  dặn dò hai người :

– Nếu “lúc đó” mà làm từ từ đứa bé sau nầy làm Kỹ Sư, nhanh hơn  thì làm Bác Sĩ, còn nếu  nhanh và mạnh sau nầy nó sẻ đạp xích lô-,

Cả hai vợ chồng đều mưốn đứa trẻ sau nầy làm Kỹ Sư, nên trước khi lên giường nguời chồng còn nhắc nhỡ :

– Em ơi Kỹ Sư nhé. nhưng được 10 phút cô vợ rên rĩ :

– Thôi kệ cho nó làm Bác Sĩ đi Anh,

Nhưng chỉ 5 phút sau, anh chồng la lên :

– Đễ Anh cho nó đạp xích lô thấy mẹ nó luôn.

Chim

 Một chị nhà quê vào đồn công an đăng ký kết hôn, chị cán bộ công an hỏi :

– Lấy chồng lần đầu hả?

Chị nhà quê :

– Dạ lần đầu,

Chị cán bộ hỏi :

-Tên gì, ở với nhau từ bao giờ ?

Chị nhà quê đáp :

– Dạ  Lê thị Chim, mới ở với nhau tối hôm qua.

Chị cán bộ:

– Mới ở với nhau tới hôm qua à ? Chim có ê không ?

Chị nhà quê đỏ mặt ấp úng không nói gì, chị cán bộ bực mình gằn giọng :

-Tôi hỏi chị, chim có ê không ?

Chị nhà quê thẹn thùng, thỏ thẻ :

– Dạ lúc đầu cũng hơi ê ê.

Chị cán bộ bực tức quát lên :

– Tôi hỏi Chị tên chim không có chử ê hay là tên chim có chử  ê,? mắc mớ gì đến lúc đầu với lúc sau, vớ vẩn.

Bốn đời chồng vẫn còn ‘zin’

Một cô gái đi thi hoa hậu, đến phần thi vấn đáp, ban giám khảo nhìn vào hồ sơ thì thấy ghi bốn đời chồng nhưng vẫn còn “zin”. Ban giám khảo thấy vậy liền hỏi : “Tại sao cô 4 đời chồng rồi mà vẫn còn zin ?”

Cô gái trả lời :

– Lấy anh chàng đầu là một anh chàng công tác tại phòng điều tra xét hỏi nên cứ : “Giữ nguyên vẹn”, do vậy không làm ăn chi hết. Người chồng thứ hai là một nhà hùng biện nên : “Nói thì hay chứ không biết làm”. Người chồng thứ ba công tác tại viện bảo tàng nên : “Không rờ vào hiện vật”. Người chồng thứ tư công tác tại phòng kế hoạch nên chỉ: “Vạch ra rồi để đó chứ không làm tiếp”

Mỹ Nhàn post

VĂN HÓA VĂN NGHỆ (22)

TÂN ĐỊNH CỦA TÔI

Tôi có khá nhiều kỷ niệm đối với Tân Định ! Có bạn nào ở Tân Định không ?

Bích Vân

Tôi đi để lại đường xưa

Cùng bao kỷ niệm nắng mưa bên đời…

Chả hiểu tại sao nhưng hễ cứ nghe ai nhắc hoặc nói đến hai chữ Tân Định là tôi lại thấy lòng nao nao, xúc động một cách kỳ lạ. Không kềm được. Chỉ mới nghe đến hai chữ Tân Định không thôi là đã thấy cả một quãng đời thơ ấu thần tiên như hiện ra trước mắt với biết bao kỷ niệm vui buồn thân yêu, cả một thời mới lớn vô tư đầy mơ với mộng, và cũng cả … một thời “đổi đời” khốn đốn chật vật lúc nào cũng chỉ nghĩ đến cái ăn, cái mặc….

Bao  nhiêu  kỷ  niệm  ngày  xưa  đó

Đầy  ắp  trong  tôi  dìm  hơi  thở

Sắp  xếp  làm  sao  những  mến  thương

Cho  tròn  nỗi  nhớ  khung  trời  cũ .

Đã ở Saigon ai mà chả biết hoặc chưa từng đi ngang qua nhà thờ Tân Định ? Qua Hai Bà Trưng, con đường chính nối liền Phú Nhuận và… cứ thế đi thẳng tắp lên phố ? Đi thẳng ra chỗ tượng đức Trần Hưng Đạo ở bến Bạch Đằng, giang sơn của Hải Quân thì có lẽ chính xác hơn, nhưng phố Catinat và Bonard cũng đã nằm lẩn quẩn gần đâu đấy, chỉ cách có vài bước. Cái đất Tân Định của tôi có nhiều… thứ nổi tiếng lắm nhé. Rất rất nhiều thứ. Những nhân vật trứ danh của vùng quận nhất Tân Định nói chung, và khu Nhà Thờ của tôi nói riêng, thì… ối thôi hằng hà vô số, nhớ sao cho hết và kể sao cho xuể ? Một thí dụ nôm na thôi, tầm thường thôi, nhưng chắc chắn sẽ còn rất nhiêù người vào lứa tuổi sồn sồn như tôi khó mà quên cho được…

Chú Hòa (còn được gọi một cách thân mật là Chí Hòa) có cái xe đẩy bán sirop đá bào ở đầu cái hẻm đối diện với nhà thờ Tân Định. Những buổi trưa nắng gắt mà được sà vào dầm dầm khuấy khuấy một ly “đá nhận” thoang thoảng chút mùi chanh muối rồi chấm chấm mút mút từng muỗng đá bào có xịt xịt tí sirop mầu xanh mầu đỏ, thì cứ gọi là coi ông mặt trời như… nơ-pa, đã khát và mát ruột gì đâu !!!!

Lại nhớ hồi tôi còn đầu tắt mặt tối với cái quán café cóc (sau 75 ấy mà, buôn bán nhì nhằng chỉ mong kiếm đủ tiền đi chợ hằng ngày thôi, có mấy ai mà chẳng phải thế, như tôi, nhỉ ?) cũng ở ngay đầu hẻm, đã biết bao lần chú Hòa thương hại “giải vây” cho tôi vay tạm từng cục nước đá BGI để tôi phục vụ bán cà-phê “sữa đá” hay “đen đá” cho những người vừa tan lễ nhà thờ ùa vào hàng loạt… khiến tôi lính quýnh tíu tít pha pha chế chế luôn tay không kịp thở và cái thứ hàng gì tôi bày bán cũng hết sạch nhẵn, chỉ trong nhấp nháy, sau những giờ tan lễ ngày chủ nhật.

Cái quán cà-phê cóc của tôi thật ra thì chả có mấy người còn nhớ đến, nhưng nức tiếng lắm lắm cả Sài Gòn lẫn Chợ Lớn là (quán đàng hoàng) Café Thu Hương nằm gần ngã tư đèn xanh đèn đỏ Hiền Vương (đường Mayer cũ và bây giờ hình như là Võ thị Sáu thì phải). Ngày xưa, lúc đang còn trong thời kỳ nhắng nhố… sắp sửa thành người lớn, bọn ghiền ngồi cà-phê chúng tôi cứ phân vân không biết phải chọn cà-phê Văn Hoa Dakao hay Thu Hương Tân Định để được nghe những bài nhạc ngoại quốc “mới ra lò”, thịnh hành nhất, rô-măng-tic nhất… Văn Hoa thì nhạc hay, âm thanh hay và có mấy cô caissières yé yé xinh xẻo nhưng cà-phê lại chỉ tàm tạm thôi nên chúng tôi đóng đô Thu Hương thường hơn, vả lại những hôm lười đi xa, tôi chỉ việc băng qua đường là đã tới, gần xịt.

Gần xịt hơn nữa là cái quán bánh xèo Đinh Công Tráng rộn rịp từ xế xế chiều cho đến tối khuya, lúc nào cũng tấp nập người và xe. Nghe nói sau gần 40 năm rồi mà đến bây giờ vẫn còn tấp nập xe và người, cả ngày lẫn đêm nữa cơ đấy !

Đi quá thêm vài ba bước nữa là tới cái ngõ hẻm của nghệ sĩ Tùng Lâm, danh tiếng thì cả nước biết. Tôi thường đi băng tắt ngang cái hẻm này mỗi ngày để ra chợ, cái hẻm đâm thẳng vào hông chợ, đầu hẻm có xe nước miá (pha lẫn với dâu Đàlạt) của chị Tám, trời thần ơi là ngon, nhất là được uống vào những buổi tối cúp điện. Có lẽ chưa có loại nước uống nào trên thế giới, theo tôi nghĩ, mà vừa rẻ, vừa đã khát, vừa ngon lại vừa bổ như nước mía, nếu đừng để ý đến cái đám nhặng xanh bay vần vũ trên những xác mía đã được ép lâý nước rồi, cũng như những đẵn miá chưa ép.

Cứ gì phải ra tận ngoài Hà Nội để mò đến Chả Cá Lã Vọng mới thưởng thức cho được cái món chả cá thìa là chấm mắm tôm ? chả cá Sơn Hải ở ngay ngã ba Lý Trần Quán và Đinh Công Tráng (còn gọi là Calmette) mà không ngon ư ? Cứ gọi là lịm cả người đi ấy chứ ! Và trong cái ngõ hẻm sát kế bên còn có một nhân vật, lúc còn sinh thời, đã từng làm mưa làm gió trong giới điện ảnh hồi đó : tài tử Đoàn Châu Mậu, bố của Tuyền, cô bạn học cùng lớp với tôi ở M.C. và cùng học violon với ông xã nhà tôi ở trường Quốc Gia âm nhạc. Một cô bạn tính tình hiền hậu, lành như cục đất, ai nói gì cũng chỉ ngỏn ngoẻn cười. Cô bạn này của tôi đã có dạo, trước 75 một chút, cùng với Đức Huy là một Duo khá nổi tiếng trong làng ca nhạc Saigon.

Cha Tr. của giáo xứ Tân Định những năm 70 cũng là một nhân vật được nhắc đến khá nhiều, nhất là trong giới trẻ. Một thần tượng, một… hiện tượng lạ thì đúng hơn, đáp ứng được cái “máu hippie” của bọn choai choai chúng tôi thuở bấy giờ. Những buổi lễ của Cha, dành riêng cho giới trẻ, lúc nào cũng đông nghẹt !

Bọn con gái chúng tôi mê nhất là bộ râu quai nón của Cha, giọng nói từ tốn “lịm cả hồn” và những bài giảng rất là giản dị và cởi mở, những bài thánh ca soạn theo thể loại mới, nghe mà cứ “ngơ ngẩn cả người” vì… hay ! Tôi biết, đã có khối con chiên ghẻ bỗng dưng trở thành ngoan đạo, chăm chỉ sốt sắng đi lễ nhà thờ không bỏ sót chủ nhật nào cũng chỉ vì …Cha, và trong số những con chiên ghẻ đó có tôi.

Sát bên nhà thờ Tân Định là trường Thiên Phước. Ngôi trường đạo này là của các Sơ, chỉ nhận toàn con gái và có một đặc điểm rất dễ thương là bắt các nữ sinh phải mặc đồng phục váy mầu hồng thay vì mặc váy mầu xanh nước biển đậm và blouse trắng như các trường đạo khác (Couvent des Oiseaux, Régina Pacis và Régina Mundi… chẳng hạn). Cứ đến giờ tan học là cả khu Tân Định nhộn nhịp hẳn lên với một đàn bướm mầu hồng khổng lồ ríu rít túa ra xúm đông xúm đỏ các gánh hàng rong túc trực sẵn trước cổng trường, trông vui mắt đáo để. Quà vặt của vùng Tân Định là có tiếng đấy. Có tiếng là ngon! Mà cũng có tiếng là đắt ! Chả thế mà người ta vẫn thường kháo với nhau là “chợ Tân Định chỉ dành riêng cho những dân nhà giầu, bán toàn hàng “tuyển” nên mắc như quỷ (?). Mà cũng đúng thôi, tiền nào của nấy !”

Chẳng ngoa tí nào sất, thật, dân vùng Tân Định phần lớn là “có máu mặt” cả mà ! Những ngôi nhà lịch sự xinh xắn trong các con hẻm tương đối rộng rãi nếu so với những con hẻm của các vùng khác, và những cửa tiệm khang trang buôn bán sầm uất ngoài mặt đường đã nói lên rằng thì là… Quận Nhất không phải khi khổng khi không mà được gọi là Quận Nhất, nghĩa là nhất trong các quận của Saigon ! Và những lý do để dẫn chứng thì kể đến mai, mốt cũng chưa hết.

Trước tiên phải kể đến lý do … yên ổn : năm 68 trong trận Mậu Thân, cái đất Tân Định chả suy xuyển một mảy may nào, ở đâu nhốn nháo chứ quanh vùng tôi ở vẫn cứ êm ru bà rù. Và kiểm lại trong ký ức, tôi rất ít khi nghe nói tới các băng đảng anh chị xuất thân hay những hành vi phạm pháp xuất phát từ cái xứ Tân Định. Chỉ cần nhiêu đó thôi, thế đã đủ là lý do chính đáng hàng đầu chưa nhỉ, để chán vạn dân Saigon ôm ấp giấc mơ có được “hộ khẩu” trong vùng này ? Thế thì văn hóa nữa nhé

Yểm Yểm thư quán trên đường Trần Văn Thạch chắc nhiều người trong giới chữ nghĩa vẫn chưa quên. Còn nữa, đối diện với chợ Tân Định ngay đầu cái xóm sát với nhà thuốc bắc Kim Khuê (có trưng một ông hổ to thật to, và thật, đứng chình ình trong tiệm) là chỗ cho mướn sách với một kho truyện phong phú không thể tả được ! Trên thì giời dưới thì sách, thôi thì không thiếu một thể loại hay tác giả danh tiếng nào. Những Văn Bình Z.28, “Lửa cháy Thành Phiên Ngung”, “Thủy Hử” hay Kim Dung hay Duyên Anh hay Ian Fleming v..v.., đã góp cái vốn kiến thức cho biết bao già trẻ lớn bé không chỉ vùng Tân Định.

Còn giới văn nghệ sĩ tụ tập trong vùng này thì đông vô số kể. Nào là nữ ca sĩ Bạch Quyên và Tuyết Mai của những năm “hồi đó lâu lắm rồi”, nào là nữ diễn viên kịch Mỹ Chi, nào là nữ sĩ Nguyệt Hồ nổi tiếng như cồn nhờ tài bói bài tây…

Nói chi đâu xa, cũng vào đầu những năm 60, ngay trong cái ngõ trước cửa Nhà Thờ của tôi, ông hàng xóm soạn giả Hoàng Khâm là… số dzách trong làng cải lương. Mỗi tối khuya mà thấy ông bách bộ đi tới rồi lại đi lui, phía bên kia đường nhà thờ, để vắt tim nặn óc viết kịch bản dựng tuồng cho các gánh hát (hạng nhất thôi đấy nhé) là thiên hạ xung quanh nhìn bằng con mắt ngưỡng mộ ghê lắm.

Hiệu uốn tóc Mô-Đéc (dấu sắc) sát bên nách hiệu thuốc tây của nhà tôi cũng được các tài tử giai nhân của cả Sài Gòn tận tình chiếu cố. Cô em Lìn Dí làm chủ tiệm này còn bà chị Lìn Chế có thêm một tiệm nữa, cũng tên Mô-Đéc, nhưng nằm trên phố, đường Lê Lợi. Hai tiệm này lúc nào cũng đông nghẹt, nhất là vào những mùa Noel hay Tết, dễ thường khách đến “làm đầu” phải chờ đến cả tiếng đồng hồ mới được phục vụ. Chú Cóong, chú Cai có những bàn tay bằng vàng, được các bà các cô “tán tiu” nhiều nhất. Cứ vào đây là khắc biết hết tuốt tuồn tuột những chuyện “trong nhà ngoài phố” của… cả làng trên xóm dưới, bảo đảm !

Chỉ cách nhau chưa đầy ba phút đi bộ mà cái vùng tôi ở có đến hai rạp ciné. Bên hông chợ là rạp Mô-Đẹc (dấu nặng) và mặt trước của chợ là rạp Kinh Thành. Hai rạp này thay phiên nhau chiếu những phim Ấn Độ và cao bồi hay ra phết, thỉnh thoảng để thay đổi không khí lại mời các gánh Cải Lương hay Hồ Quảng về trình diễn, làm nghẽn cứng cả xe cộ lưu thông vào những giờ sắp mở màn hay vãn tuồng.

Đấy là những dẫn chứng (mê ly chưa ?) liên quan đến “cái đầu” mà tôi chỉ đại khái sơ qua thôi.

Còn “cái bụng” ư ? Hai con đường Hiền Vương và Pasteur với một dẫy các hàng phở, món quốc hồn quốc túy vang danh khắp năm châu bốn biển, chả là cái nôi của nền văn hóa ẩm thực của nước Việt Nam đó sao ? Dân sành sõi chỉ ăn phở thịt bò ở Pasteur hay phở gà trên đường Hiền Vương. Và Phở Pasteur đã trở thành bảng hiệu của vô số tiệm Phở, điển hình là ở Boston bên Mỹ, của Mr. Lê D.

Tiệm bán giò chả Bạch Ngọc và Phú Hương, cũng trên đường Hiền Vương thì… lọ là phải ngôn, nổi tiếng quá xá trời là ngon không đâu bằng. Bánh dầy, bánh giò, chả cốm, chả quế, giò lụa, giò bò không chê vào đâu được ! Ăn giò chả của hai tiệm này với bánh mì nóng hôi hổi của lò Poitou gần đấy thì ngon phải biết, quên cả chết !

Ăn rồi lại muốn xơi thêm

No căng nứt bụng, cứ chêm, vẫn thèm…

Tôi còn nhớ, mãi, trong chuyến viếng thăm Little Saigon, cái cảm giác ngạc nhiên đến sững sờ khi bước chân vào lò giò chả Thái Bình trên đường Brookhurst. Cầm khoanh chả bò trên tay, cái mùi rau thìa là ngào ngạt xộc vào mũi, xông thẳng lên óc. Chao ôi là quen thuộc! là thân yêu ! Trong một lóe chớp, dường như tôi thấy cả một quê hương Việt Nam, cả một bầu trời Tân Định ùa đến trước mặt. Tôi lặng cả người. Từ khi bị xa xứ, gần hai chục năm rồi, có lẽ đây là lần đầu tiên tôi được ngửi lại cái mùi chả bò quyến rũ này. Quyến rũ kỳ diệu cái khứu giác. Tôi cắn ngập răng, nghiến ngấu, mê mẩn. Quyến rũ thần tình cái vị giác. Không ngờ cái mùi, cái vị của một món ăn lại có sức khơi dậy kỷ niệm mãnh liệt dường ấy. Tả làm sao cho xiết những xúc động của tôi lúc đó, lúc mang cái tinh túy đặc biệt của xứ sở tôi vào long ? Cám ơn lò giò chả Thái Bình đã cho tôi tìm lại hương vị độc đáo không bao giờ quên được này. Cám ơn cả Van´s bakery với những ô mai, những bánh mứt đủ các loại, gợi cho tôi nhớ biết mấy cái tuổi nhỡ nhỡ nhàng nhàng, lúc nào trong túi cũng sẵn, trong miệng cũng ngậm, ghiền ô mai như trẻ con nhai kẹo chewing-gum. Tôi mua nhiều lắm, mỗi thứ ô mai “Bắc Việt” mấy lạng, đem về Đức, để khi nhấm nháp thì nhớ ngược trở lại những ngày phiêu lưu, ôi tuyệt vời, bên Cali.

Nhưng thôi, đấy là một “thế giới nhớ” khác vẫn rất rất đậm nét (còn mới toanh), bây giờ tôi đang nhớ Tân Định, nhớ cái khu Tân Định của tôi cơ mà.

Tôi đang kể đến đâu nhỉ ? Gì nữa nhỉ ? À, cái quán điểm tâm cơm tấm bì gần bên trường dậy lái xe hơi của ông nghị sĩ Huyền, cũng vẫn trên đường Hiền Vương, không thể không góp phần vào “nghệ thuật ăn uống” của vùng Tân Định. Cô Mỹ Trinh, cô láng giềng của quán này bây giờ lại góp phần vào nền kịch nghệ hải ngoại bên Mỹ nữa đấy.

Và nhắc đến tiệm hòm Tobia thì không ai là không biết. Không chỉ nổi tiếng ở Việt Nam mà thôi, tôi đã thấy bảng hiệu Tobia ở miền Nam Cali nữa cơ. Hình như bây giờ nằm trên đường Newland street của thành phố Westminster, trước đó thì trên đường Edinger ? Không biết tiệm bán hòm này có liên hệ gì với vợ chồng Bùi và Cathy Tobia Tân Định, những người vẫn hay… ngồi cùng chiếu với vợ chồng tôi vào những ngày cuối tuần, hồi còn ở bên nhà ?

Những “tai to mặt lớn” cũng không thiếu, khét tiếng nhất phải kể đến ngài “Th. đen” với chiếc xe Camaro độc nhất vô nhị, luých vô cùng, nhất xứ, vào những năm đầu 70. Đối diện với tư dinh (bên trong cũng luých không kém, sau 75 trở thành trường Mẫu giáo) của ông vua điện lạnh này là tiệm Trinh shoes. Một biệt danh lẫy lừng trong giới ăn mặc thời trang của Saigon: Hảo‘s Trinh shoes, giới trẻ “xịn” thời đó ai mà chẳng biết ?

Sở dĩ nói vòng vo, nhắc nhở tùm lum là tại vì… nhớ quá đấy mà. Chả là đêm qua nằm mơ, tôi thấy tôi đang đi chợ hoa, những ngày giáp Tết, ở bên nhà, ở Tân Định, ở trước cái cửa hàng Pharmacie nhà tôi. Tự dưng thấy quặn ruột nhớ nhà, nhớ Tân Định, nhớ cái không khí tấp nập không có chỗ len chân trên những ngã đường xung quanh nhà thờ vào những đêm Noel, nhớ cái tíu tít rộn rịp mua sắm của những ngày sắp Tết, nhớ lung tung, nhớ đủ thứ, nhớ ơi là nhớ, nhớ quay nhớ quắt, nhớ như điên như dại, nhớ chín ruột chín gan, nhớ quá lắm… Tân Định của tôi ơi !!!!

Trong chuyến Mỹ du vừa mới đây, mấy tháng trước, tôi như tìm thấy lại được một phần nào cái hồn của quê hương tôi trên xứ người. Đứng giữa khu Phước Lộc Thọ, bên tai nghe ríu rít đủ các thứ giọng của cả ba miền Trung Nam Bắc, trước mặt và xung quanh chỉ toàn những khuôn mặt của người cùng xứ sở, tôi thấy nỗi buồn tha hương vơi đi rất rất nhiêù. Và dường như tôi hít thở được mùi vị của quê hương tôi đâu đây, trên những tấm bảng hiệu đề chữ Việt, qua những món ăn thức uống thuần túy của dân tộc tôi, và có đôi lúc tôi đã thoáng bắt gặp cái khu Tân Định ngày xưa của tôi, ẩn hiện, bàng bạc, ngay trong khu thương xá này, cách nửa vòng trái đất chứ không phải ở trong lòng nước Việt Nam.

… Ai về Tân Định xóm tôi

Cho tôi nhắn nhủ đôi lời nhớ thương

Xa rồi những sáng mù sương

Hoàng hôn nhạt nắng giáo đường thánh ca

Tôi quỳ hồn bỗng mưa sa …

Bích Vân

GÁI NHA MÂN

HUYỀN THOẠI VỀ

MỘT MIỀN GÁI ĐẸP

“Xoài nào thơm bằng xoài Cao Lãnh

Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân”,

Câu ca dao ấy đã có từ hàng trăm năm trước. Bây giờ, con gái Nha Mân, vùng đất nằm giữa sông Tiền và sông Hậu (xã Tân Nhuận Đông, huyện Châu Thành, Đồng Tháp) vẫn đẹp. Nhưng dường như khó tìm hơn…

Chuyện xưa kể rằng…

Qua khỏi cầu Mỹ Thuận, rẽ phải, chạy thêm gần chục cây số nữa là đến Nha Mân, vùng đất nằm gối đầu lên một bên hữu ngạn sông Tiền, rồi xoải mình về hướng Sông Hậu, ngay mặt tiền QL80. Đảo xe quanh chợ Nha Mân một hồi mà không xác định được điểm dừng, tôi ngại ngùng trước những ánh mặt tò mò của người dân địa phương nên tấp vào quán café nép dưới tầng trệt của một tòa nhà đang xây dở.

Bà chủ quán ước chừng ngoài 70 tuổi nhìn tôi hỏi : “Con ở trên thành phố xuống hả ?”. Không đợi tôi trả lời, bà tiếp : “Nếu đi tìm nhà người quen ở Nha Mân này thì nói, bà chỉ cho. Bà sống từ nhỏ ở đây nên nhà nào cũng biết”. Tôi giới thiệu, xong rồi… ấp úng nói : “Dạ, con xuống đây tìm hiểu về con gái Nha Mân đó ngoại”. Nghe vậy, bà chủ quán trấn an tôi : “Tưởng gì, con gái Nha Mân đẹp nổi tiếng xưa giờ. Mấy cô cậu phóng viên đến tìm hoài chớ gì đâu mà ngại. Nhưng giờ chỉ còn mấy người già như ngoại thôi chứ hổng có con gái đâu”.

Bà chủ quán tên Nguyễn Thị Cầm, năm nay đã 82 tuổi. Bà Cầm kể với giọng tự hào : Con biết vì sao con gái Nha Mân đẹp không ? Vì toàn cung tần mỹ nữ của chúa Nguyễn không hà. Thời trẻ bà cũng đẹp lắm chớ. Hồi đó nghe cha kể, chúa Nguyễn Ánh thua quân Tây Sơn trong trận Rạch Gầm – Xoài Mút nên cả đoàn từ tướng đến quân, tùy tùng theo sông Tiền bỏ trốn. Đến vùng Nha Mân này, bị quân nhà Nguyễn truy đuổi gắt quá nên buộc phải để bớt tùy tùng và hàng trăm thê thiếp lại để chạy cho nhẹ. Những mỹ nữ này đều có nhan sắc “hoa nhường, nguyệt thẹn” đó nghen con. Sau này, những người con gái này lấy chồng Nha Mân, cũng có khi lấy những tùy tùng của chúa Nguyễn, nhưng họ vẫn lập nghiệp ở đây. Vì thế, sau này Nha Mân toàn người đẹp. Con hổng tin cứ đi hỏi, ở đây mấy đứa con nít nó cũng thuộc chuyện này làu làu”.

Để củng cố cho những lời kể của bà Cầm, tôi tiếp tục lang thang vào những con đường thôn nhỏ rồi hỏi thăm đến UBND xã Tân Nhuận Đông. Nghe tôi trình bày lý do, ông Trần Thanh Tươi, Chủ tịch UBND xã Tân Thuận Đông, cười bảo : Chắc anh đã đọc, đã nghe câu ca dao về con gái Nha Mân rồi ? Đúng là như thế. Nhưng có lẽ, tôi sẽ người dẫn anh đến gặp mấy cụ cao niên để anh hỏi chuyện thì hay hơn.

Người ông Tươi giới thiệu dẫn đường cho tôi là anh Hoàng Quân, trưởng ấp Tân Lập. Anh Quân đưa tôi đến nhà bà Huỳnh Thị Sáu, 84 tuổi. Có lẽ, xưa kia bà Sáu đẹp lắm, nét đẹp ấy còn phảng phất trên khuôn mặt nhăn nheo, làn da trắng lốm đốm đồi mồi, mái tóc dài bạc trắng.

Bà Sáu đưa đôi bàn tay với những ngón dài, gầy khô, rót nước mời chúng tôi rồi ngồi trầm ngâm, đưa đôi mắt mờ đục nhìn xa xăm : “Con gái đẹp thì xứ nào cũng có, nhưng gái Nha Mân không chỉ đẹp người mà còn đẹp nết nữa. Chữ “bảnh” trong câu ca “Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân” là nói đến cái “công dung ngôn hạnh” trong “tam tòng, tứ đức” đấy. Đó cũng là nét đặc trưng của người con gái Nha Mân, đã nổi tiếng khắp vùng “Nam kỳ Lục tỉnh” thời đó. Ngày xưa, dù nhà nghèo nhưng ba má luôn dạy cho con gái lễ nghĩa. Làm phận gái sao cho ngoan hiền, thiệt thà, lời ăn tiếng nói dịu dàng, lễ phép”.

Ngừng một lát, bà Sáu nói tiếp : “Thời xưa, con gái tụi tui chỉ đua nhau may đồ bà ba, tóc dài cả thước. Mỗi lúc đi ruộng là khăn rằn quấn không muốn hết búi tóc trên đầu. Tối về gội đầu có má hay chị em phụ. Mà không hiểu sao hồi đó đi làm ruộng cứ phơi mặt ra chứ có che, có bịt gì đâu, vậy mà da đứa nào cũng trắng. Sao giờ thấy tụi nó hổng bằng !”.

Đâu rồi gái đẹp Nha Mân ?

Anh Quân bảo : “Con gái Nha Mân “thứ thiệt” là không son phấn, nhưng da vẫn trắng, môi vẫn hồng, mái tóc xõa dài và trên người thường trực bộ quần áo bà ba. Có lẽ, hình ảnh ấy giờ hơi khó kiếm”. Quả thật, lời anh Quân nói chẳng sai. Rong ruổi nhiều ngả đường, thấy căn nhà nào mở cửa tôi cũng ngó vào nhưng tuyệt không thấy bóng dáng “người con gái” Nha Mân nào.

Bà Nguyễn Thị Lan, 63 tuổi, một trong số những người không “hoa mắt” vì tiền, cho con gái lấy chồng ngoại, nói : “Thời bây giờ khác xưa nhiều lắm. Chuyện “tam tòng, tứ đức” chẳng còn quan trọng với tụi nhỏ nữa rồi. Giờ cứ đứa nào đẹp là tìm đường đi thành phố, lấy chồng ngoại hết. Tụi nó chê làm ruộng cực khổ, đen da, cháy tóc lại ít tiền nên chẳng đứa nào chịu làm. Ở quê giờ chỉ còn mấy ông bà già sống với nhau. Còn sức thì ra ruộng làm, không thì bỏ phế hoặc cho người khác thuê. Từ khi rộ lên phong trào lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc, con gái Nha Mân lấy chồng ngoại nhiều lắm. Mấy năm trước, ở Nha Mân lúc nào cũng có mấy người trên Sài Gòn xuống túc trực. Thấy nhà nào có con gái là đến. Lúc đó cũng có mấy người môi giới đến nhà kêu tôi cho con gái lấy chồng Hàn Quốc. Thấy nhà nghèo nên họ bảo cho con gái lấy chồng sẽ có vài chục triệu để trang trải. Nhà lúc đó khó khăn, nhưng tôi nhất định không đồng ý. Họ đến thêm mấy lần nữa, nhưng thấy tôi “rắn” quá nên mới thôi”.

“Có lẽ, bây giờ ở Nha Mân không còn mấy cô gái đẹp nữa nhỉ ?”, tôi hỏi anh Quân. “Mấy cô đến tuổi trưởng thành hầu hết là đi thành phố, lấy chồng Hàn, Đài Loan, Trung Quốc. Chỉ còn mấy đứa nhỏ đang học phổ thông thôi. Mà học xong tụi nó cũng đi hết hà. Trai vùng này mà không có nghề ổn định, làm ruộng thì khó mà lấy được mấy cô đẹp”.
Nghe anh Quân gợi ý, tôi tìm đường đến Trường THPT Châu Thành 2, nằm ngay trên QL80, thuộc địa bàn thị trấn Cái Tàu Hạ lúc quá trưa. Tôi may mắn gặp được nhóm nữ sinh còn đang túm tụm nói chuyện chưa chịu về. Những cô gái trong bộ áo dài trắng, quần lụa đen, đặc trưng của nữ sinh miền Tây đang hồn nhiên cười đùa ríu rít, thấy người lạ đến hỏi thăm, họ nhìn từ đầu đến chân rồi tản ra. Tần ngần một hồi, tôi quay đầu xe, chợt mừng như bắt được vàng khi thấy một cô nữ sinh đang ngồi một mình trên băng ghế trong sân trường. Nhưng, tôi lại một lần nữa thất vọng khi vừa bước lại gần, chưa kịp hỏi gì thì cô nữ sinh đã đứng lên bước đi rất nhanh.

Đem nỗi thất vọng kể với anh bạn ở Sa Đéc, một người cũng từng có một thời đi “cua” gái Nha Mân, nhưng cuối cùng thất bại và vợ anh bây giờ là người Lai Vung, anh cười bảo : “Ông là người lạ, từ đâu sộc đến hỏi, làm sao tụi nó dám nói chuyện. Nhưng, coi vậy chứ học xong là khác nha”.

Không biết từ bao giờ, ở Nha Mân lưu truyền những câu chuyện về cô Hai Hiên, người con gái có sắc đẹp khiến “hoa nhường nguyệt thẹn”, nhưng lại vắn số, qua đời vì bệnh khi còn ở tuổi trăng tròn. Sau khi cô chết được 3 ngày, rất nhiều người dân xứ này mơ thấy cô hiển linh, hiện về thăm cha mẹ và giúp đỡ dân nghèo, những người bệnh tật. Thuyền bè gặp bão tố, họ cầu khấn cô Hai Hiên và “tai qua nạn khỏi”.

Yên Huỳnh post (theo Phúc Lập)

TRIẾT LÝ SỐNG ĐƠN GIẢN

VÀ HIỆN THỰC

CỦA MẸ TÊRESA CALCUTA

Thế nhưng sao mình vẫn cứ u u mê mê, loanh quanh tìm kiếm cái gì đâu đâu – trong khi mà ngọn “đèn đời” của mình thì ngày càng “lụi” dần !

Ui chao ! Phải quanh co nguỵ biện bào chữa cho mình làm sao đây, khi ngọn “đèn đời” mình phụt tẳt và đơn thân độc mã “trần trụi” trình diện trước SỰ THẬT VĨNH HẰNG ?

Mẹ Têrêsa Calcutta nói về tình yêu

“Nếu bạn xét đoán ai, bạn sẽ không còn thì giờ để yêu thương họ”

“Bạn phải cho đi những gì làm bạn bị thiệt thòi. Như thế, cho đi không chỉ những gì dư thừa, nhưng những gì bạn không thể sống nếu không có, những gì bạn thật sự yêu thích. Như thế, món quà của bạn trở thành một hy sinh, có giá trị trước mặt Thiên Chúa.”

“Tôi luôn luôn nói rằng, tình yêu khởi sự từ gia đình trước đã, và sau đó mới đến thành phố hay đô thị. Yêu thương những người ở xa chúng ta thì dễ, nhưng yêu thương những người sống với chúng ta hay ngay cạnh chúng ta thì không luôn dễ dàng.”

Mẹ Têrêsa Calcutta nói về nghèo đói

“Căn bệnh trầm trọng nhất của thời nay không phải là bệnh phong hủi hay bệnh lao, mà là sự cảm nhận bị ruồng bỏ”

“Trên thế giới, người đói khát tình yêu thì nhiều hơn người đói khát cơm bánh”

“Nhiều khi chúng ta cứ nghĩ rằng nghèo đói là đói khát, thiếu áo quần, không nhà ở. Sự nghèo đói lớn nhất là bị bỏ rơi, không ai chăm sóc, không được hưởng sự yêu thương. Loại nghèo đói này cần được giải quyết ngay từ những tổ ấm gia đình”

Mẹ Têrêsa Calcutta nói về chiến tranh

“Tôi chưa bao giờ sống trong cảnh chiến tranh nhưng tôi đã chứng kiến nạn đói và sự chết chóc.

Tôi tự hỏi : ‘Họ đã cảm nhận điều gì khi họ gây ra chiến tranh?’

Tôi không thể hiểu nổi. Họ đều là con cái Thiên Chúa. Tại sao họ lại làm như vậy ? Tôi không hiểu nổi”

“Hãy làm ơn chọn lựa đường lối hòa bình…!

Vì trong chỉ một khoảng thời gian ngắn ngủi, sẽ có người thắng kẻ thua trong cái cuộc chiến mà chúng ta đều sợ hãi, nhưng rồi chẳng thể và chẳng bao giờ có thể biện minh cho những nỗi đau và chết chóc do bom đạn gây ra”

Mẹ Têrêsa Calcutta nói về phá thai

“Phá thai chính là giết người. Trẻ nhỏ là quà tặng của Thiên Chúa. Nếu bạn không muốn có nó, hãy giao em bé cho tôi !”

“Sự phá hoại nền hoà bình kinh khủng nhất chính là việc phá thai,vì nếu người mẹ nhẫn tâm giết chính con mình thì bạn cũng có thể giết tôi và tôi có thể giết bạn, vì giữa chúng ta chẳng có mối liên hệ nào”

“Chính thật là sự nghèo nàn khi quyết định đứa trẻ phải chết để bạn được sống theo ý bạn”

 Mẹ Têrêsa Calcutta nói về phục vụ Chúa

“Tôi chỉ là cây bút chì của Chúa, để Ngài gởi bức thư tình yêu của Ngài cho thế giới”

“Tôi không cầu nguyện cho sự thành công, tôi cầu nguyện cho sự trung tín”

“Nhiều người lầm lẫn công việc và ơn gọi. Ơn gọi của chúng ta là yêu mến Chúa Giêsu”

“Mỗi người trong số họ, chính là Chúa Giêsu cải trang”

“Cần phải nói ít đi, vì điều rao giảng chưa phải là điều được đón nhận. Vậy ta phải làm gì ?

Hãy cầm lấy cây chổi để quét nhà cho một ai đó, công việc ấy đã đủ để rao giảng”

Mẹ Têrêsa Calcutta nói về cầu nguyện

“Không cầu nguyện, tôi không thể làm việc dù chỉ nửa giờ. Tôi có được sức mạnh của Thiên Chúa qua việc cầu nguyện”

“Có quá nhiều đau khổ trong các gia đình ngày nay trên toàn thế giới, nên cầu nguyện thật là quan trọng, và tha thứ cũng thật quan trọng. Người ta hỏi tôi phải khuyên bảo thế nào cho đôi vợ chồng đang gặp khó khăn, tôi luôn luôn trả lời ‘Cầu nguyện và tha thứ’; và cho những thanh thiếu niên từ những mái nhà đầy hung bạo: ‘Cầu nguyện và tha thứ’; và cho những người mẹ cô độc không được gia đình hỗ trợ : ‘Cầu nguyện và tha thứ’. Hãy nói : ‘Lạy Chúa, con yêu Chúa. Lạy Chúa, con hối lỗi. Lạy Chúa, con tin ở Chúa. Lạy Chúa, con tín thác vào Chúa. Xin giúp con yêu thương nhau như Chúa yêu thương chúng con’.”

Mai Trung Tín post

CHUYỆN VỢ CHỒNG

– Khi đi ngang qua tiệm Walmart, tôi mua 4 cái vỏ bánh xe hơi, Vợ tôi cằn nhằn : Anh mua vỏ bánh xe làm gì, anh đâu có xe đâu.

Tôi nói : Chứ hồi nãy em mua 4 cái Xu-Chiêng anh có cằn nhằn gì em đâu

Thế là hai vợ chồng cãi nhau 

– Tôi nói : Sau ngày cưới em anh thành TRIỆU PHÚ

Vợ tôi : Em hãnh diện quá. Có phải nhờ em anh thành công không ?

Tôi nói: Trước khi cưới em anh là TỶ PHÚ

Thế là hai vợ chồng cãi nhau

– Tôi với vợ tôi vào phòng khám bệnh Nha Khoa

– Bác sĩ nhổ răng tốn bao nhiêu tiến vậy ? – $100.00

– Ồ! đắt quá bớt được không ? – Nếu không dùng thuốc tê $80.00

– $80.00 vẫn đắt – Nếu nhổ bằng cái kìm bình thường để nhổ đinh thì $40.00

–  Vẫn còn đắt – OK $20.00 nhưng học trò tôi sẽ nhổ chứ không phải tôi

– Được… Được. Em em mau mau ngồi xuống trước khi Bác sĩ đổi ý.

Lần này hai vợ chồng uýnh nhau chứ không cãi nhau

Vợ tôi : Ngày cưới em có phải là ngày vui nhất đời anh không ?

Tôi nói : Không ! Chỉ là ngày vui hạng nhì thôi

Vợ tôi: Chứ ngày vui thứ nhất là ngày gì ?

Tôi nói : Là cái ngày em cuốn gói dzề bên má em 3 tuần. Giời ơi ngày nào cũng xỉn

Thế là hai vợ chồng cãi nhau

– Vợ tôi : Cuối tuần này là sinh nhật của anh. Em muốn anh có được một cuối tuần thật là vui vẻ hạnh phúc. Nói em nghe anh muốn gì nào ? 

Tôi nói : Sẽ không có gì làm anh vui và hạnh phúc nếu em cuốn gói dzề bên má em 3 tuần như lần trước

Thế là hai vợ chống cãi nhau 

– Trước ngày Tình Nhân vợ tôi nói : Đêm hôm qua, em nằm mơ thấy anh tặng em cái nhẫn hột soàn, thế nghĩa là gì hả anh ? 

Ngày lễ Tình Nhân tôi tặng nàng cuốn sách “Đoán điềm giải mộng”

Thế là hai vợ chống cãi nhau

– Tôi đăng báo bán “Một quyển Tự Điển Bách Khoa Việt Nam, dầy 3,000 trang còn mới giá rẻ $10.00, lý do lấy dzợ tháng vừa rồi không cần nữa, có con dzợ cái gì nó cũng biết hết”

Thế là hai vợ chồng cãi nhau

Tôi hỏi : Tối hôm qua em đi đâu, suốt đêm không về ?

Vợ nói : Em ở bên nhà con Phượng bạn thân em, đánh tứ sắc suốt đêm.

Tôi nói : Em học tánh nói láo từ hối nào vậy ? Anh ở bên con Phượng suốt đêm có thấy em đâu

Lần này xuýt chút nữa phải gọi xe cứu thương, con dzợ gì đâu dữ wá.

Nguyễn Văn Danh post

THẾ GIỚI QUANH TA (34)

THẰNG ĐAO

– Truyện ngắn Kiều Đắc Thềm

Thằng Đao tay cầm cái gậy có cột  tấm vải trắng ở một đầu, miệng ngậm cái tu huýt. Nó đứng ở chỗ vạch sơn dành cho người đi bộ. Phía sau nó là một đám người già, trẻ, lớn, bé… Họ nắm tay nhau và chờ thằng Đao như đội quân đang chờ lênh xuất phát của cấp chỉ huy. Dòng thác xe cộ cứ vùn vụt vùn vụt… Thằng Đao liên tục đảo mắt để tìm cơ hội. Đoàn người phía sau nó mỗi lúc một đông. Họ nóng ruột xô đẩy nhau thúc vào lưng nó. Nó hiểu rõ tâm trạng của họ chứ. Nhưng, nó đành chịu vì xe nhiều quá. Rồi nó đánh liều. Nó huýt một hồi còi dài, tay đưa cao cây gậy có cột tấm vải trắng lên và băng qua đường.

Tiếng còi vẫn không ngừng vang lên. Đoàn người phía sau nhanh chân bước theo. Nó lách mình qua những chiếc xe đứng khít khịt. Cuối cùng thì đoàn người cũng sang được một cách an toàn bên này đường để đi đến những nơi cần thiết mà họ đã định hướng từ trước. Thằng Đao lại tiếp tục dẫn một đoàn người khác sang bên kia. Nó như một người lái đò, hết đưa lớp người này lại đưa lớp người khác. Chỉ khác một điều là người lái đò thì có tiền thù lao còn nó thì không nhận được gì – ngay cả một lời cám ơn hay một ánh mắt trìu mến.Mà nó cũng không hề nghĩ đến điều đó. Nó hồn nhiên như một đứa trẻ. Mà nó là một đứa trẻ thực – cho dù tuổi đời của nó đã hơn 20. Mặt nó ngố ngố – đặc điểm của những đứa trẻ mắc bệnh down. Và người ta liền đặt tên cho nó là Đao.

Thằng Đao. Người ta luôn gọi nó như thế. Tuy gọi vậy, nhưng không một ai có ý coi thường nó. Ai cũng quý mến và thương nó vì nó hiền lành, hay giúp đỡ người khác. Nó bị mắc bệnh down nhưng ở dạng nhẹ nên còn tỉnh táo, chỉ bị cái bề ngoài không được đẹp thôi. Cả ngày nó lang thang ngoài đường. Ghé chỗ này một tí, chỗ kia một tẹo. Người ta chọc ghẹo thì toét miệng cười. Hành trang của nó là một cái còi, một cây gậy có cột miếng vải trắng ở một đầu, một cái mũ lưỡi trai đã bạc màu. Nó thường phụ giúp các chú công an, các chú dân phòng điều tiết giao thông. Nó làm các động tác thuần thục như một người đã được đào tạo qua trường lớp hẳn hoi.

Nhìn cách nó làm việc, người ta thấy rõ sự đam mê của nó.Nhìn khuôn mặt cố tỏ ra oai vệ của nó , không ai có thể nhịn cười được.

Nhà nó ở sát quốc lộ 13, cửa ngõ đi vào thành phố, lại có đường xe lửa chạy qua nên nạn kẹt xe xảy ra thường xuyên. CSGT và DP hết sức vất vả trong việc điều hành giao thong – nhất là vào giờ cao điểm. Việc băng qua đường của khách bộ hành cũng khó khăn không kém. Vì thế, thằng Đao luôn có mặt bên cạnh họ để giúp đỡ. Khi tiếng còi của nó cất lên là lúc bà con yên tâm băng qua đường. Lúc đó, nó như một chiến binh quả cảm ngoài chiến trường, dùng thân mình để che chắn hòn tên mũi đạn cho người khác  được anh lành.

Nó là con đầu lòng của một gia đình lao động nghèo. Ba nó chạy xe ôm. Má nó buôn thúng bán bưng ngoài chợ Bình Triệu. Khi nó ra đời, má nó đã khóc hết nước mắt. Ba nó thì lặng im nhìn nó. Có người trách tại sao không đi khám định kỳ để biết trước mà bỏ nó đi. Đi khám định kỳ ư ? Đầu tắt mặt tối với miếng cơm manh áo còn chưa xong làm gì có thời gian để đi bệnh viện. Hơn thế, mỗi lần đi khám bệnh tốn tiền tốn bạc lắm, làm sao kham nổi. Thôi,trời cho sao thì nhận vậy. Họ đã vượt lên trên sự sợ hãi, vượt lên trên  mặc cảm tự ty. Và thằng Đao đã lớn lên trong vòng tay yêu thương của ba má. Nó còn hai đứa em, một trai và một gái. Cả hai đều bình thường như mọi đứa trẻ khác. Không chỉ bình thường về mặt thể lý, hai đứa em thằng Đao còn thông minh, học hành giỏi giang và hiếu thảo. Chúng rất thương anh Đao. Vì cha  mẹ bận lo sinh kế nên hai đứa đã thay nhau chăm sóc người anh bất hạnh một cách chu đáo.

Trong lúc ba má nó đi kiếm sống và hai đứa em đi học thì nó tham gia công việc dắt khách bộ hành qua đường. Ai cho nó tiền hoặc đồ ăn thức uống, nó đều lắc đầu từ chối. Trưa nó về nhà. Sau khi ăn uống nghỉ ngơi, nó lại ra ngoài tiếp tục công việc như một công chức cần mẫn.Y phục của nó luôn luôn tươm tất, sạch sẽ.

Sự xuất hiện của nó trên quãng đường này dần dần trở thành một sự hiển nhiên cần thiết. Mỗi lần thấy bóng dáng nó, người ta lại bông đùa ;

– Sếp đi làm hả ?

Không biết nó có hiểu gì không, chỉ thấy nó toét miệng cười thôi.

Không chỉ dắt người bộ hành qua đường, nó còn phụ giúp nhân viên công lực giữ gìn trật tự mỗi khi có tai nạn giao thông xảy ra.Nó ra hiệu cho xe dừng, xe chạy… như thể nó là một cảnh sát giao thông thực thụ vậy. Có một điều ngạc nhiên là người ta tuân theo hiệu lệnh của nó răm rắp nhờ vậy mà trật tự giao thông mau chóng được vãn hồi.

oOo

Hôm nay cũng như mọi ngày, thằng Đao lại tiếp tục làm công việc thường nhật của nó. Mật độ xe có ít hơn một chút nên công việc của nó cũng bớt khó khăn. Nó vẫn dẫn đầu đoàn người rồng rắn phía sau. Cứ mỗi hồi còi cất lên là một chuyến đò được bắt đầu. Bà con đi chợ. Trẻ em đi học. Thợ thuyền đi làm… Những hành khách của các chuyến tàu miễn phí vui vẻ, yên tâm, hài lòng vì sự tận tâm vô vị lợi của chủ nhân hồn nhiên, trong sáng. Cuối cùng thì một buổi sáng được kết thúc bằng chuyến tàu vét lúc gần 11 giờ trưa. Đường xá lúc này quang hơn. Thế nhưng, vận tốc của xe thì không giảm, vẫn vùn vụt chạy qua chạy lại. Khách đa số là trẻ em tan học. Có em có cha mẹ đi kèm. Có em đi một mình. Các em xúm xít sau lưng anh Đao. Sinh mạng các em đang nằm trong vòng tay nhân ái của anh Đao. Chúng nó cứ í ới gọi :

– “Anh Đao ơi ! Chờ em với ! Anh Đao ơi !… Anh Đao ơi !… Anh Đao ơi !…”

Những tiếng gọi thân thương, tin cậy. Chúng không còn trông thấy cái vẻ mặt ngô ngố buồn cười của anh Đao nữa. Chúng chỉ trông thấy lá cờ trắng trên đầu cây gậy của anh thôi. Lá cờ đó vừa mang ý nghĩa đầu hàng sự vô trật tự của phố xá, vừa mang màu sắc  của sự phục sinh khải hoàn. Và nó tạm nghỉ để trở về nhà ăn uống, ngủ nghỉ. Nụ cười hồn nhiên trên môi không bao giờ tắt.

Nó vừa quay lưng được vài bước bỗng nghe tiếng la thất thanh : “Trời ơi ! Con nhà ai thế kia ! Cứu ! Cứu ! Cứu !”. Thằng Đao quay lại nhìn. Giữa mặt lộ nóng bỏng, một đứa bé khoảng ba, bốn tuổi đang tìm cách băng qua đường. Không biết ba má nó ở đâu mà để cho nó đi như thế. Đứa bé cứ thụt ra, thụt vô mỗi khi xe chạy qua mặt. Tiếng la mỗi lúc một khẩn thiết : “Con nhà ai thế ? Ba má nó đâu rồi ? Cứu ! Cứu !…” Có những bước chân huỳnh huỵch chạy ra. Nhanh như một con sóc, thằng Đao vụt bay người ra mặt lộ. Nó ôm thằng bé vào lòng. Vừa lúc ấy, từ xa, một chiếc xe taxi vùn vụt lao tới. Và người ta nghe thấy một tiếng “Kít…” cùng một tiếng “rầm…” rợn người vang lên. Nhiều tiếng la to : “Chết ! Chết rồi ! Chết rồi ! Thằng Đao… Thằng Đao…”. Rồi rùng rùng một đám đông chạy ra.

Thằng Đao nằm bất động dưới gầm xe. Đầu nó vỡ tan. Những mảnh sọ văng tung tóe. Óc bầy nhầy đổ ra trên mặt đường .Đứa bé cũng bất tỉnh, nhưng trên người không có vết xây xát nào. Người ta bế nó lên. Mặt nó xám ngoét. Một phụ nữ trẻ cố gắng dạt đám đông để vào. Trông thấy thằng nhỏ, chị ta gào lên : “Trời ôi ! Con tôi !” rồi chị ta ngất xỉu….

oOo

Đám tang thằng Đao lớn chưa từng có ở khu phố này từ trước đến nay. Người đến phúng viếng đứng vòng trong vòng ngoài. Đó là những người đã từng đáp chuyến đò ngang của thằng Đao mỗi ngày. Những ngày sắp tới đây họ sẽ phải vất vả trong nỗi lo sợ mỗi khi băng qua đoạn đường luôn luôn có sự rình rập của hiểm nghèo, chết chóc. Thằng Đao đã từng là một cái khiên vững chắc che chắn cho họ. Nó là hiện thân của một thiên sứ. Mắt ai cũng đỏ hoe. Có người còn dắt theo cả con cái nữa. Những đứa trẻ này cũng mếu máo như thể vừa mất đi một người anh ruột thịt  đầy thương mến. Căn nhà cấp bốn nhỏ bé của ba má nó không đủ chỗ để chứa hết hằng hà sa số vòng hoa tươi trên đó có đính những dòng chữ nói lên lòng tiếc thương chân thật đối với người vừa nằm xuống .

Bức ảnh chân dung người quá cố đặt trên cỗ áo quan như mờ đi sau màn  khói nghi ngút dày đặc của những cây nhang cắm chi chít ở bát nhang phía trước quan tài. Đứng hai bên quan tài, ngoài gia đình thằng Đao, người ta còn thấy một gia đình khác gồm hai vợ chồng và một đứa bé trạc ba, bốn tuổi. Đó là gia đình đứa bé đã được thằng Đao cứu khỏi bàn tay tử thần chỉ trong gang tấc.

Những lời cầu kinh cùng những bản thánh ca không ngớt vang lên

Con đâu nuối tiếc chi giữa trần gian tội lệ, có người con thân mến và bạn bè vây kín con đây.Với những vòng khăn tang vội vã nước  mắt tiếc thương đau buồn, con vẫn trở về, trở về với Chúa, hồn trào ứ tiếng đáp ngọt ngào. Lạy Chúa con đây…*

Sự sống này chỉ thay đổi mà không mất đi. Lúc con người nằm yên giấc ngủ mắt nhắm lại rồi là thấy tương lai. Trọn kiếp người nay không còn nước mắt nụ cười, nhưng con tin rằng ngày mai trong Chúa chẳng có nỗi buồn đẹp mãi niềm vui…**

Khi Chúa thương gọi tôi về.Hồn tôi hân hoan như trong một giấc mơ.Miệng tôi nức vui tiếng cười, lưỡi tôi vang lời ca hát.Ngàn dân tung hô , tôi thật vinh phúc…***

oOo

Quốc lộ 13 một buổi sáng đầu tuần. Xe cộ nườm nượp.

Đứng ở vạch vôi dành cho người đi bộ sang đường là một hàng người.Họ cứ nhấp nha nhấp nhô chờ cho ngớt xe để sang bên kia. Thế nhưng, hễ vừa bước tới một bước thì những cái xe tai quái lại xông tới, nên họ đành phải lùi lại. Có người suýt bị xe đụng. Đoàn người cứ rụt rè, rụt rè ,rụt rè… Trong đám người ấy hình như có tiếng thở dài và vài cặp mắt thất vọng dáo dác tìm kiếm… Đám đông ô hợp này đang thiếu một bàn tay chỉ huy.Tiếng ai đó u sầu :

– Phải chi có thằng Đao…

Tức thì nhiều tiếng đáp ứng :

– Phải đó. Nếu có thằng Đao… Nếu có thằng Đao…

– Tội nghiệp nó !

Bỗng một hồi còi dài huýt lên :

“Toét…toét…toét…”

– Ồ thằng Đao !

Bao nhiêu cặp mắt đổ dồn về phía trước. Hai người dân phòng đang chặn xe lại cho bà con qua đường. Môi họ mím chặt. Mắt họ vằn lên những tia máu. Họ đứng cách xa đoàn người. Có ai chậm chạp thì họ quát tháo : “Lẹ lên coi !”. Một đứa trẻ vì bị giục giã quá, luống cuống đánh rơi cặp sách, nó cúi xuống lượm lên thì nghe tiếng thét : “Lẹ lên, nhỏ ! Có cái cặp mà không xách nổi.”

Rồi đoàn người cũng  qua được .Họ lúp xúp đi như bị ma đuổi.

Kiều Đắc Thềm

Chú thích : *Một cuộc giã từ – – Văn Chi **Sự sống thay đổi- Phanxico *** Ngày về – Kim Long

NỮ SINH VIỆT

TỪ CHỐI VÀO ĐH HARVARD

Được cả 6 đại học ở Mỹ cấp học bổng toàn phần, cựu nữ sinh THPT chuyên Hà Nội Amsterdam đã phát khóc khi phải lựa chọn ĐH Harvard hay Stanford. Cuối cùng, cô từ bỏ Harvard để đến với ước mơ ở Stanford.

Trước khi tốt nghiệp THPT, Nguyễn Hoàng Quyên gửi hồ sơ đến 6 trường đại học danh giá của Mỹ, gồm : Harvard, Stanford, Yale, Brown, Columbia và Chicago. Trong đó Harvard, Stanford là 2 trường mà Quyên “không hy vọng”. Thế nên hôm nhận điện thoại của trường Harvard gọi tới chúc mừng, Quyên lặng người vì… sốc.

Stanford, ngôi trường ước mơ từ năm lớp 10 của Quyên cũng khiến cô bất ngờ không kém vì không có bất kỳ tin tức gì từ sau khi nộp hồ sơ. Nhưng rồi cuối cùng niềm vui cũng đến khi bất ngờ cả 6 trường đều đồng ý cấp học bổng 100%.

Trước khi quyết định cấp học bổng, các trường cử người đại diện ở Hà Nội tới phỏng vấn Quyên trực tiếp. Cô chia sẻ, buổi phỏng vấn diễn ra tại quán cà phê, trong không khí thoải mái đúng kiểu “chuyện trò”.

“Trường Yale hơi căng, các trường còn lại em đều thấy thoải mái. Em ưng ý nhất buổi phỏng vấn với ĐH Harvard mặc dù lúc đầu hơi run. Họ hỏi những câu đơn giản và đời thường mục đích là để xác nhận xem con người thực của ứng viên có đúng như những gì đánh bóng trong hồ sơ không”, Quyên kể.

Lần lượt nhận được giấy báo của các trường, Hoàng Quyên rơi vào trạng thái stress vì phải lựa chọn. Nhớ lại thời điểm đó, cô nàng có phong thái tự tin và cách nói chuyện nhẹ nhàng tâm sự : “Có lúc em phát khóc vì không biết chọn trường trường nào. Harvard là ước mơ của bao người và bố mẹ em cũng thích. Nhưng sau khi tham khảo, em quyết định đi theo mong ước của mình”.

Hoàng Quyên chia sẻ, một trong số những người bạn từng học ở cả hai trường Harvard và Stanford đã giúp cô so sánh và đánh giá trước khi ra quyết định. Theo Quyên, Harvard và Stanford ngang nhau về chất lượng cũng như tiếng tăm. Nếu Harvard thiên về học thuật và nghiên cứu thì Stanford tạo môi trường thoải mái với nhiều hoạt động sôi nổi cho sinh viên. Nhận thấy đặc điểm ấy phù hợp với tính cách của bản thân, cộng với tình yêu Stanford, Quyên mạnh dạn từ chối Harvard.

Quyên chia sẻ, để sẵn sàng cho hồ sơ du học cần có quá trình tích lũy và chuẩn bị. Ước mơ du học được nữ sinh này ấp ủ từ năm lớp 10, khi tham gia Mạng lưới lãnh đạo trẻ Đông Nam Á SEALNET trụ sở ở Việt Nam (do ĐH Stanford sáng lập) với vai trò tình nguyện viên.

Là thành viên của SEALNET, Quyên có cơ hội làm quen với nhiều du học sinh Việt Nam đang học tại các trường nổi tiếng. Những câu chuyện về môi trường học tập, hoạt động ngoại khóa và sinh viên Stanford từ các anh, chị khiến Quyên mê mẩn rồi yêu ngôi trường ấy từ đó. Sau thời gian dài cùng thực hiện các dự án với SEALNET, hiện tại, cô đã là co-leader của Dự án Việt Nam 2012 ở Sài Gòn.

Năm ngoái, Quyên sang Singapore thực hiện dự án về người lao động nhập cư. Tại đây, cô tiếp xúc với những hoàn cảnh lao động bị bạo hành hoặc lạm dụng. Những chuyến đi cùng SEALNET giúp Quyên trải nghiệm và trưởng thành.

Năm lớp 11, khi đang là học sinh chuyên Anh của Hà Nội – Amsterdam, Quyên nhận được học bổng du học một năm tại trường Latin School of Chicago ở Mỹ. Quyên sống cùng gia đình người bản địa và thân với một cô bạn người Italy. Ngoài những môn văn hóa, Quyên còn được học nhiếp ảnh, lịch sử nghệ thuật. Cựu học sinh trường Ams cho hay, cô phải đọc rất nhiều và tự tìm hiểu các chủ đề lịch sử. Nhờ đó, điểm tổng kết của Quyên đạt 4.2 trong khi thang điểm cao nhất là 4.0.

Kết thúc một năm ở Latin School of Chicago, Quyên trở về học lớp 12 tại trường Amsterdam. Cô nàng tiết lộ, bạn bè, thầy cô ở Mỹ giúp đỡ rất nhiều để Quyên hoàn thành hồ sơ xin học bổng.

Có nền tảng tiếng Anh từ hồi còn học trường thực nghiệp, lên cấp 3 Quyên đỗ cả Hà Nội – Amsterdam và thủ khoa đầu vào chuyên Anh của trường Chuyên ngữ. Theo Quyên, ngoài tiếng Anh, các ứng viên cần chuẩn bị bài luận tốt và tích lũy các hoạt động xã hội. Với sinh viên Stanford tương lai, thế mạnh của cô cũng chính là những đặc điểm này.

“Hội đồng xét duyệt hồ sơ rất tinh nên chỉ cần nói quá những gì mình không làm hoặc chưa làm đều bị phát hiện. Họ đánh giá cao những ứng viên trưởng thành từ hoạt động xã hội. Có lẽ trong hồ sơ, hội đồng thấy mình phấn đấu từ thành viên lên leader ở SEALNET nên ấn tượng”, Quyên chia sẻ.

Bố Quyên làm việc cho một tổ chức văn hóa của Nhật Bản nên từ nhỏ, cô đã được bố uốn nắn và khuyên đọc nhiều sách. Nhờ đó Quyên có phông kiến thức nền và không bị sốc khi sống ở một môi trường văn hóa khác. Quyên tự nhận không biết làm việc nhà bởi đã có mẹ làm giúp. Ở nhà, cô chỉ việc học và tham gia các hoạt động tình nguyện.

Cởi mở và dễ gần nhưng Quyên hiếm khi tâm sự cùng bố hoặc mẹ. Khi có chuyện buồn, cô thích viết blog, đọc sách hoặc đi chụp ảnh cùng bạn bè. Trước khi sang Mỹ nhập học vào tháng 9 này, Quyên đang tận dụng thời gian bên gia đình, bạn bè và hối hả chuẩn bị cho dự án trong Sài Gòn.

Hiện, Quyên vẫn chưa quyết định chuyên ngành của mình tại ĐH Stanford nhưng cô nàng muốn sau này làm công việc được đi đây đó và gặp gỡ nhiều người.

IPhone 5 : CÓ NÊN

MUA HAY KHÔNG ?

Trong mấy ngày đầu ra mắt sản phẩm iPhone 5 vào ngày 21/9/2012 công ty Apple đã bán 5 triệu điện thoại di động trị giá 3 tỉ và không đáp ứng nổi lượng nhu cầu của giới tiêu thụ. Tuy không đủ hàng nhưng số lượng 5 triệu điện thoại được bán vẫn thấp hơn dự tính. Đa số các tiệm bán lẻ đã bán hết hàng và khách đặt mua điện thoại qua internet phải chờ đợi đến 4 tuần. Công ty Apple, thương nghiệp giàu nhất Hoa Kỳ, có tài thổi phồng các sản phẩm của mình qua chiến dịch quảng cáo rầm rộ cho nên mỗi lần ra mắt sản phẩm mới, giới tiêu thụ lại đổ xô đi mua. Và lần này cũng không khác gì những lần trước, mặc dù có nhiều bản phân tích cho rằng iPhone 5 không đáng tiền mua nhưng khách hàng trung thành của Apple vẫn cuồng nhiệt sắp hàng chầu chực ở các cửa tiệm bán lẻ 1 tuần trước khi iPhone 5 ra mắt thị trường.

Từ ngày ra mắt sản phẩm iPhone đầu tiên vào năm 2007, Apple đã nhắm vào giới “trẻ” với chiến dịch quảng cáo các sản phẩm của công ty là “mốt” thời thượng. Giới trẻ theo “mốt” thì giới “già” cũng theo luôn để còn được xem là trẻ và kết cuộc là công ty Apple trở thành thương nghiệp hàng đầu ở Mỹ. Ngoài ra Apple còn thi hành chiến lược ràng buộc khách hàng với sản phẩm của mình rất thành công. Điện thoại iPhone 5 ra mắt thị trường với giá bán từ $650-$850, nếu chịu ký hợp đồng 2 năm với hảng điện thoại di động thì có thể mua với giá từ $199-$399. Đây không phải là số tiền nhỏ cho nên trước khi bỏ tiền ra mua iPhone 5 ta cũng nên xem xét là có đáng tiền hay không ?

Điện thoại iPhone 5 có một chút thay đổi về hình dạng so với phiên bản iPhone 4S, nhưng về mặt kỹ thuật thì những cải tiến như màn hình lớn hơn và tốc độ kết nối 4G nhanh hơn không mấy gì đáng kể. Về ngoại hình thì iPhone 5 mỏng hơn với độ dày 7.6mm so với 9.3mm của 4S, nhẹ hơn, dài hơn, và mặt sau không còn là mặt kiếng; tuy nhiên iPhone 5 không phải là điện thoại đa năng (smart phone) mỏng nhất, địa vị đó thuộc Motorola Droid Razr (7.1mm). Những thay đổi khác về ngoại hình bao gồm cổng găm bộ ống nghe (earphone) được chuyển xuống dưới thay vì trên đỉnh máy như truyền thống và bộ thông loa to hơn. Về kỹ thuật thì Apple đã miễn cưởng tăng kích cỡ của màn hình từ 3.5 inch lên 4 inch, nhưng vẫn còn thua kém màn hình 5.5 in của điện thoại Galaxy Note II, 5 in của LG và 4.7 in của HTC. Tuy nhiên mật độ phân tử ảnh (pixel density) cùng với chiều ngang của màn hình thì vẫn y điện thoại 4S. Điện thoại iPhone 5 cài đặt sẵn hệ điều hành ios6 nhưng phiên bản này cũng có thể cài đặt vào điện thoại 4S. Những đặc điểm khác về kỹ thuật như khả năng tải dữ liệu với tốc độ 4G LTE nhanh hơn không đáng kể vì điều này còn tùy thuộc vào mạng truyền sóng của hãng điện thoại di động; ngoài ra bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên (RAM) cũng được tăng từ 512MB lên 1GB. Máy hình vẫn là 8 chấm (megapixel) nhưng Apple đã thiết kế lại ống kính cho nên tốc độ chụp hình 40% nhanh hơn so với 4S và khả năng chụp hình khi thiếu ánh sáng cũng tốt hơn. Một chức năng mới là khả năng ghép toàn hình quang cảnh (panorama) tuy nhiên điều này cũng không phải là một cách tân chấn động vì những đối thủ cạnh tranh như HTC, Nokia, và Galaxy S đã có chức năng này trước đây.

Có vài thay đổi về thiết kế khiến giới hâm mộ iPhone cũng phải nhăn mặt và tốn thêm tiền đó là kích thước của cổng kết nối (connectivity port) mới với 19 ngấn nhỏ hơn cổng kết nối cũ với 30 ngấn. Cổng kết nối này là nơi sạc pin cũng như kết nối các thiết bị Apple và máy vi tính với nhau. Dây cắm cho cổng kết nối này có 8 chân cắm cho nên ai mua điện thoại iPhone 5 phải mua luôn dây cắm mới trong khi tất cả những sản phẩm cũ của Apple đều sử dụng dây cắm cũ. Có nghĩa là sẽ không thể kết nối iPhone 5 với iPad trừ khi mua thêm thiết bị tiếp hợp (adapter) với giá bán $30. Ngoài ra sản phẩm mới nhất của phiên bản iPhone này lại sử dụng nano sim dạng siêu nhỏ hơn micro-sim được dùng cho những phiên bản trước và hơn nữa không thể cắt micro-sim nhỏ hơn để dùng như đã từng làm với các loại sim thường, cho nên người tiêu thụ phải mua sim mới. Hai thay đổi về thiết kế nói trên đã cho thấy cách kiếm tiền khôn khéo của công ty Apple khi buộc khách hàng phải bỏ thêm tiền để mua các phụ kiện liên hệ.

Tóm lại thì phiên bản iPhone 5 không có ấn tượng về công nghệ kỹ thuật cao cũng như sự sáng tạo phá cách khi ra mắt thị trường nhưng vẫn được giới hâm mộ hớn hở đón chào vì trên thực tế một sản phẩm bán chạy không hẳn là sản phẩm tốt nhất mà chỉ cần được quảng cáo và thổi phồng. Đối với những người sở hữu 4S thì phiên bản mới này không tốt hơn mấy cho nên việc nâng cấp lên iPhone 5 không cần thiết. Tuy nhiên đó là quyền chọn lựa cá nhân, những người nào mua iPhone 5 sẽ góp phần vào việc kích thích kinh tế và tăng tổng sản lượng nội địa (GDP) thì cũng là việc tốt thôi. (theo Diễm Quyên)

Yên Huỳnh post

NHỮNG CUỘC SĂN TÌNH

TRÊN SÀN NHẢY

Những ai mới tới lần đầu cũng sẽ choáng váng với cụm từ ‘Hội đổi chồng, đổi vợ’. Có bà, thậm chí còn là ‘bà xã’ của những 8 ông. Phát triển nhanh theo nhu cầu của số đông, các sàn nhảy mọc lên như nấm. Nhiều người đã tìm thấy niềm đam mê và niềm vui lành mạnh khi đến các vũ trường. Thế nhưng, phía sau các sàn nhảy vẫn còn nỗi ám ảnh về những đổ vỡ hạnh phúc, rạn nứt niềm tin đến đắng lòng.

Một nhân viên của CLB khiêu vũ ở Nhà hát Bến Thành cảnh báo : “Hầu hết quý bà, quý ông đến đây đều có địa vị trong xã hội, lẩn tránh gia đình tìm vui nên không thể mang máy ảnh vào sàn nhảy”. Sàn nhảy này trước đây từng bị báo chí phơi bày là điểm nóng của giới đồng tính tuổi mới lớn tập trung quậy phá. Sau khi dẹp yên điểm nóng này, nơi đây tổ chức sàn nhảy dành cho lớp người ở tuổi trung niên. Hầu hết khách đến sàn nhảy này đều ở tuổi 40 trở lên, trong đó có một số cô gái trẻ. Họ nhảy theo nhạc “tua”, đi từ chachacha đến rumba, slow, tango… rất điệu nghệ.

Nhiều học viên đến các lớp này mang theo ba lô, túi xách lỉnh kỉnh như đi cắm trại. Trong lúc xã hội chưa có cái nhìn thoáng và đúng đắn về khiêu vũ cũng như những lý do tế nhị của gia đình, không phải ai đi học nhảy cũng muốn công khai cho người nhà và bạn bè, cơ quan biết. Do vậy mà giày, đầm, tất có khi được giấu trong những chiếc ba lô và cả trong những chiếc giỏ với đủ thứ được các bà các chị mua từ siêu thị.

Đằng sau những mục đích tốt đẹp là tới đây để thỏa đam mê và cải thiện sức khỏe, đã có nhiều kẻ xấu lợi dụng sự nhẹ dạ của quý bà, quý cô, kể cả quý ông giàu tiền lắm của, để trục lợi. Tại không ít sàn nhảy có nhiều vũ công sẵn sàng “chiều” khách đủ mọi chuyện. Một vũ công khoe anh ta làm việc ở sàn nhảy Bến Thành đã hơn 3 tháng và lần nào cũng vậy, chỉ cần các bà, các cô chịu chi mạnh thì mọi thỏa thuận cuối cùng đều được “giải quyết” tại một điểm bí mật nào đó. Địa điểm ấy thì chỉ hai người biết.

Những trai nhảy lỡ mang kiếp “đi giày cao gót” này có một vài người từng tham gia các vũ đoàn chuyên múa minh họa cho các ca sĩ nổi tiếng. “Chán lắm anh ơi, thu nhập bèo lắm, về đây làm nhẹ nhàng hơn”, Linh, một vũ công, nói rồi hướng mắt về một quý bà đang bước vào sàn nhảy cùng 3 người bạn.

Linh tiến đến xưng hô ngọt xớt : “Mình đi với ai vậy ?”. Quý bà giới thiệu 3 người bạn và như hiểu ý, Linh nhắn tin bằng điện thoại di động, trong phút chốc 3 chàng có vóc dáng cao to, gương mặt điển trai bước vào sàn nhảy và khi sàn nhảy tắt đèn, cả nhóm kéo nhau đi.

Cậu kể : “Nguyên tắc làm trai nhảy ở những nơi này là phải chọn những quý bà kém nhan sắc. Họ đều có tâm trạng nên bên cạnh những bước nhảy điệu nghệ phải biết lắng nghe và chia sẻ. Còn chuyện lên giường thì tính sau. Tháng rồi thằng bạn của em ‘đào’ được một chiếc SH, sau đó vài chục triệu đồng để phè phỡn với con bồ của nó. Hết tiền, nó lại tìm đến sàn nhảy này”. Rồi cậu ta cười : “Mấy tháng qua em đóng vai ông xã của 4 bà”.

Không lệ thuộc vào trai nhảy hoặc gái bao, một bộ phận khách đến sàn nhảy ở các vũ trường đã tìm tình hờ theo kiểu đồng cảm và không mất tiền. Thế nhưng, cái giá phải trả còn đắt gấp bội.

Ở các sàn nhảy này, những ai mới tới lần đầu cũng sẽ choáng váng với cụm từ “Hội đổi chồng, đổi vợ”. Tất nhiên đây là những cuộc “hôn nhân” không giá thú. Họ thích thì cứ đổi cho nhau. Nếu trai nhảy và gái bao có thị phần “kinh doanh” không thể bước vào lĩnh vực hoạt động của nhau thì những “ông xã”, “bà xã” này lại có quyền “gá nghĩa” từ sàn nhảy này đến sàn nhảy khác.

Chị Phương vốn giàu có, các con du học nước ngoài, chồng qua đời để lại gia tài kếch xù. Chị học khiêu vũ ở Trung tâm Văn hóa quận 1, sau đó sang CLB Hướng Dương chơi, rồi quen nhiều “ông xã”. “Vui lắm, đổi đào, kép để chơi cho sướng. Có mất gì đâu mà sợ”, chị hồ hởi cho biết. Hội của chị có đến 16 người, ở nhiều sàn nhảy, tối đến nhắn tin là có mặt. Từ chị, các bà bạn có nhu cầu đều tìm được nhiều “ông xã”, bản thân chị cũng là “bà xã” của khoảng 8 ông.

Trong đường dây của chị Phương, những “bà xã” thường tập kết mỗi sáng cùng dùng điểm tâm, bàn tá chuyện tối qua với “ông xã” của bạn mình. Không khí trở nên nặng nề khi con của một người trong hội báo tin mẹ cô đang cấp cứu trong bệnh viện vì bị đánh ghen. Một người trong hội lại kể them : “Anh Hùng đen, một tiểu thương ở chợ Thủ Đức, vừa bị ‘bà xã’ mượn chiếc SH và số tiền mua hàng vài chục triệu đồng để trong cốp xe ra đi không hẹn ngày quay lại”.

Chàng vũ công Linh buồn bã kể : “Em bị sốt mấy ngày liền, bốn ‘bà vợ’ chẳng thèm đến thăm. Hỏi ra mới biết họ có mấy thằng mới nên vứt mình. Bà nào cũng hứa sẽ mua cho em căn hộ chung cư nhưng chỉ toàn là hứa. Ngày mai em đi xét nghiệm máu…”.

Chị Phương bộc bạch : “Cái hội lập ra để thỏa mãn tình dục thôi nhưng giờ chị bị lên án quá trời. Bực nhất là bà bạn bị đánh ghen khai với công an phường, nói chị xúi thế là địa phương gửi giấy mời lên làm việc. Biết ăn nói với các con và gia đình bên chồng sao đây”.

Còn Mai, một cô vũ công ở sàn nhảy, buồn rầu kể : “Chiếc máy vi tính có chép một số hình tươi mát của mấy gã đàn ông khoái chụp lại cảnh ân ái từ sàn nhảy đến giường ngủ đã bị các ông truyền tay nhau xem. Khuya hôm qua, nhỏ bạn làm phục vụ ở quán Lương Sơn cho biết thấy trong máy điện thoại một số ông khách có hình khỏa thân của tôi khiến tôi mất ngủ cả đêm, và chỉ cầu mong sự bình yên”.

Có vô số nguyên nhân và cách lý giải về tình trạng các quý bà, quý ông ở tuổi “xế chiều” thích đi khiêu vũ. Thế nhưng, mẫu số chung đều là thích tìm vui, cặp bồ với những đào, kép trẻ. Một quý ông ngoài 50 tuổi là chủ tịch hội đồng quản trị một công ty thành đạt, còn vợ làm giám đốc. Sau khi bà công khai cặp bồ với tài xế, ông liên tục chia tay nhiều cô bồ nhí, quyết không yêu theo kiểu phòng nhì mà tìm đào trẻ ở vũ trường. Mỗi ca nhảy vũ công nữ được ông trả 500.000 đồng, đi làm đêm từ 2 đến 3 triệu đồng. Ban đầu ông tập nhảy để giải sầu, mong nhận được sự chiều chuộng, sau đó ghiền và đêm nào cũng đến để tìm vui với nữ vũ công.

Cô nàng tên Minh từ Hậu Giang lên Sài Gòn lập nghiệp, có chút nhan sắc đã đi học khiêu vũ và làm quen vài đại gia trước khi bước vào nghề “ăn bánh trả tiền”. Minh nói : “Những cuộc tình chớp nhoáng từ những đại gia đủ để tìm một số vốn cho cuộc sống. Tôi cũng mê khiêu vũ lắm, lúc nhỏ thích được làm diễn viên múa. Nhưng đời xô đẩy mình vào cái nghiệp này, sống với cái nghề chia sẻ sự thiếu thốn tình cảm cho những người giàu có”.

Minh cho biết vừa tuyển vào sàn nhảy này 3 cô gái còn “nai tơ”, chưa biết nhảy theo nhạc “tua”, chỉ biết nhảy “nhạc rừng” (nghĩa là nhún nhảy loạn xạ theo nhạc) nhưng được cái xinh gái và có vẻ ngoài chịu chơi, lẳng lơ. Từ vũ công chuyển sang nghề huấn luyện, rồi “cai đầu dài”, Minh tự tin nói: “Cảm ơn những sàn nhảy dành cho quý bà, quý ông này. Đây là một thị phần mà không hèn lắm cũng chẳng sang hơn ai nhưng sống khỏe”.

Xuân Mai post (Theo NLĐ)

TÌNH SI & TÌNH DỤC VỚI KIM DUNG

TÌNH SI VÀ TÌNH DỤC

TRONG TIỂU THUYẾT

VÕ HIỆP KIM DUNG

Tiểu thuyến Kim Dung không còn nằm trong phạm vi của người Trung Hoa ở Đài Loan, Hồng Kông, mà trở thành một hiện tượng mang tính quốc tế, vì nó được chào đón ở nhiều quốc gia trên thế giới. Đa số người Việt Nam đều biết đến và say mê những tiểu thuyết của Kim Dung qua sách báo và phim ảnh.

Ngoài võ công của các môn phái, tiểu thuyết Kim Dung còn thể hiện những khía cạnh của tình yêu qua 15 bộ tiểu thuyết, gần giống như toàn bộ tình yêu trong cuộc sống thực tế ngoài đời.

Tình gia đình, tình tuyệt vọng, tình hận, tình ghen, tình tội lỗi, tình thù, tình mộng, tình đồng tính, tình dục và tình si được thể hiện qua những nhân vật trong tiểu thuyết Kim Dung.
Bài nầy, nói đến hai thứ tình gây ấn tượng nhất là tình si của Đoàn Dự và tình dục của Vi Tiểu Bảo.

Sự đam mê của tình si rất mãnh liệt, hướng tới một đối tượng duy nhất và làm khô héo những thứ tình khác. Đam mê cũng có thể đưa đến tình tội lỗi. Tiểu thuyết Kim Dung có những “ông thần si tình” mà đại biểu là nhân vật Đoàn Dự trong Thiên Long Bát Bộ. Về tình dục thì nhân vật Vi Tiểu Bảo trong Lộc Đỉnh Ký là một điển hình.

I/- ĐOÀN DỰ “ÔNG THẦN SI TÌNH”

Sở dĩ gọi là “ông thần” vì mức độ si tình quá cao, vượt hẳn bình thường, đam mê đến nổi xem si tình như một tôn giáo, mà đối tượng là giáo chủ. Hai nhân vật si tình thượng thừa phải kể đến là Đoàn Dự và Du Thản Chi trong Thiên Long Bát Bộ.

1/- Nói sơ về Thiên Long Bát Bộ

Thiên Long Bát Bộ được sáng tác năm 1963, khởi đăng trên Minh Báo Hồng Kông và Nam Dương Thương báo, Singapore, từ ngày 3/9/1963. Bộ truyện dài 3,000 trang, 50 hồi, đăng liên tục 4 năm. Đây là tác phẩm dài nhất của Kim Dung.

Những nhân vật chính là : Kiều Phong, Đoàn Dự, Hư Trúc, Vương Ngọc Yến, A Châu, A Tử, Mộ Dung Phục, Du Thản Chi, Cưu Ma Trí, Đinh Xuân Thu, Đoàn Chính Thuần, Mộ Dung Bác…

Cái tựa đề “Thiên Long Bát Bộ” xuất phát từ kinh Phật, đó là 8 loài, không phải là người, nhưng có sức mạnh hơn người, là : Thiên, Long, Dạ Xoa, Càn Thát Bà, ATu La, Ca Lâu La, Khẩn Na La, Ma Hầu La Gia. Tám loài nầy do Thiên, Long đứng đầu nên gọi là Thiên Long Bát Bộ.

Đoàn Dự : Đoàn Dự là con của Đoàn Chính Thuần và vương phi Đao Bạch Phượng, bác của Đoàn Dự là Đoàn Chính Minh tức Bảo Định Đế, vua nước Đại Lý. Ông nầy tu hành, trường chay, không vợ con, và ngôi vua sau cùng sẽ về tay Đoàn Dự, nhưng anh chàng nầy không thích làm vua, mà thích ngao du sơn thủy, phiêu bạt giang hồ, kết bạn bốn phương với anh hùng trong thiên hạ. Đoàn Dự đa tình và si tình trước sắc đẹp của Vương Ngọc Yến.

– Lăng Ba Vi Bộ : Trên đường đến Vạn Kiếp Cốc để cứu Chung Linh, Đoàn Dự lạc vào cấm địa của phái Vô Lượng Kiếm, rơi xuống vực thẳm, may mắn bám vào một cành cây tùng nên sống sót. Lọt vào một thạch động của núi Vô Lượng, là nơi mà chưởng môn phái Tiêu Dao là Vô Nhai Tử, trước kia đã từng sống với người yêu. Đòan Dự sững sờ trước một pho tượng tuyệt mỹ, hình một giai nhân tuyệt sắc, lớn bằng người thật.

Lòng sinh ngưỡng mộ và tôn kính sắc đẹp tuyệt trần, bất giác cảm kích, sụp lạy bức tượng một ngàn cái, bất chợt phát hiện được hai bô bí pháp là Lăng Ba Vi Bộ và Bắc Minh Thần Công. Theo lời chỉ dẫn ghi trong cẩm nang, Đoàn Dự tìm đến Lan Hoàng Phúc Địa, nơi tàng trữ võ công của các môn phái trong thiên hạ, nhưng khi vào thì “thư viện” trống rổng, bí kíp võ công đã bị mang về Mạn Đà Sơn Trang của nhà Mộ Dung và Vương phu nhân, do đó Vương Ngọc Yến và Mộ Dung Phục mới có dịp học võ công của nhiều môn phái, nên xử dụng được ngón đòn gậy ông đập lưng ông.

Sau 3 ngày luyện tập, Đoàn Dự có thể xử dụng được Lăng Ba Vi Bộ và Bắc Minh Thần Công, nhưng chưa đến mức thành thạo.

Lăng Ba Vi Bộ là phép né tránh đòn của đối phương, sự di chuyển thân hình tạo ra một ảnh ảo khiến đối phương đánh vào ảnh ảo nên Đoàn Dự thoát thân được. Bắc Minh Thần Công cũng giống như Hấp tinh đại pháp, là thu hút nội lực của đối phương qua nội lực của mình.

Một hôm, tình cờ Đoàn Dự nuốt chửng một con rít cực độc và một con cóc đỏ siêu độc. Hai con vật đệ nhất độc giúp Đoàn Dự gia tăng công lực đến mức thượng thừa và có khả năng đề kháng vạn thứ độc trên đời.

– Vương Ngọc Yến : Vương Ngọc Yến là một thiếu nữ hoàn hảo từ dung mạo đến trí tuệ và lai lịch. Nhan sắc của cô làm cho Đoàn Dự mê mẩn tâm thần, ngẩn ngơ như mất hồn mất vía ngay từ lần gặp gở đầu tiên tại Mạn Đà Sơn Trang, khi Cưu Ma Trí bắt ép Đoàn Dự, đưa đến gặp Mộ Dung Phục.

Vương Ngọc Yến rất thông minh, thuộc lòng mọi kinh sách võ thuật trong thiên hạ mà phái Tiêu Dao đã thu thập và lưu trữ ở Lan Hoàng Phúc Địa trong thạch động ở núi Vô Lượng. Nhờ đó, mà cô giúp người anh họ Mộ Dung Phục trở nên nổi tiếng sánh với vô địch đương thời là Kiều Phong. Bắc Kiều Phong, Nam Mộ Dung.

Cái khuyết điểm của Vương Ngọc Yến là yêu say đắm biểu huynh Mộ Dung Phục, người đã gạt bỏ tình yêu nam nữ qua một bên, để thực hiện giấc mộng đế vương, khôi phục ngai vàng nước Đại Yên.

Trớ trêu thay, Đoàn Dự lại si mê Vương Ngọc Yến và quyết tâm theo đuổi một mối tình xem chừng như tuyệt vọng. Biết Ngọc Yến tha thiết yêu người anh họ, nhưng Đoàn Dự vẫn tìm mọi cách theo tò tò, bám đuôi người đẹp trên đường dong ruỗi khắp nơi đi tìm Mộ Dung Phục.

Vương Ngọc Yến có nét đẹp giống bức tượng “Thần tiên tỷ tỷ” mà Đoàn Dự đã gặp ở thạch động. Bức tượng đó là hình người yêu của chưởng môn phái Tiêu Dao, Vô Nhai Tử, bà là mẹ của Vương phu nhân, tức là bà ngoại của Vương Ngọc Yến.

– Mộ Dung Phục : Mộ Dung Phục là một chàng trai khôi ngô tuấn tú, thông minh. Ngoài võ công riêng còn có thủ đoạn dùng những chiêu thức sở trường của các môn phái để đánh hạ những môn phái đó, gọi là lấy “gậy ông đập lưng ông”. (Dỉ bỉ chi đạo hoàn thi bỉ thân).

Ngay từ nhỏ, Mộ Dung Phục phải mang cái trách nhiệm khôi phục ngai vàng nước Đại Yên. Một cậu bé cốt cách thanh tú nhưng không có một tuổi thơ vô tư hạnh phúc, mà phải gánh lấy cái trách nhiệm quá nặng nề trên vai, vượt ra ngoài sức người, vì những ảo vọng của cha ông.

Trách nhiệm chính trị nặng nề khiến Mộ Dung Phục phải ngoảnh mặt với tình yêu của cô em họ vô cùng thông minh và xinh đẹp, Vương Ngọc Yến.

Trong trái tim, giấc mộng đế vương chiếm hết chỗ, không còn cho tình yêu.

Người Đông phương cho rằng tình yêu nam nữ, gia đình vợ con, cản trở khách anh hùng dựng đại nghiệp “nhi nữ tình trường, anh hùng khí đoản”. Nhưng nếu điều hòa được “hồng nhan” với “đại nghiệp”, dung hợp được “thiên hạ” với “mỹ nhân” thì mới đích thực là bản sắc tài hoa của anh hùng.

Vì thế mà Mộ Dung Phục không thể bay cao được như con rồng, con phượng, vì thiếu trí tuệ vô song và thông minh tuyệt đỉnh, là một kho tàng võ thuật của Vương Ngọc Yến, cho nên, Mộ Dung Phục từng bước, như con trùng lún sâu vào ảo vọng và trở nên thân tàn ma dại. Mộ Dung Phục xuất hiện như một hung thần gây khiếp đảm trong thiên hạ, nhưng sau những thủ đoạn hèn hạ đã lộ chân tướng là một kẻ bại trận, tầm thường, đầu tóc xổ xuống rối tung, áo quần lếch thếch của một người điên khùng mất trí.

2/- “Gậy ông đập lưng ông”

Trước khi con người bằng xương bằng thịt của Mộ Dung Phục xuất hiện, thì thủ đoạn “gậy ông đập lưng ông” của nhà Mộ Dung Cô Tô đã gây kinh hồn khiếp vía trên chốn giang hồ. Những câu chuyện được thêu dệt, thổi phồng, đồn đại, làm cho Mộ Dung Cô Tô trở thành một nhân vật thần thông quảng đại, đã thấu triệt và tinh thông những tuyệt kỹ võ thuật trong thiên hạ.

Trước tiên, nhà sư Tuệ Chân vượt đường xa vạn dặm đến nước Đại Lý để báo tin Huyền Bi đại sư, trên đường từ Thiếu Lâm tự đến Đại Lý, bị đánh chết tại chùa Thân Giới, vì chính tuyệt kỹ Đại Vi Đà Chủ của mình. Tin tức từ đó vang khắp bốn phương.

Rồi Hoàng Mi đại sư kể lại câu chuyện bản thân bị một chàng trai trẻ đánh bại bởi chính tuyệt kỹ Kim Cương Chỉ của mình. Kế đó, Kim Toán Bàn Thôi Bách Tuyền kể chuyện mình bị một cặp nam nữ thanh niên dùng con toán đánh ngay vào huyệt đạo trên cơ thể, khiến cho tay cao thủ phái Thục Ngưu nầy phải mai danh ẩn tích, đổi tên thành Hoắc tiên sinh, vào làm kẻ hầu hạ chuyên lo chuyện tạp dịch trong cung điện nước Đại Lý, làm chỗ lánh nạn an toàn tránh họa sát thân.

Lạc Thị tam hùng đất Hà Bắc chuyên dùng phi trùy thì chết về phi trùy. Chương Hư đạo nhân thường dùng thủ đọan chặt tay chân địch nhân để hành hạ, thì cuối cùng thì chết vì thủ đoạn đó.

Những cái chết bí ẩn của các cao thủ, chết bởi chính tuyệt kỹ của mình, đã phủ trùm lên võ lâm một không khí khủng bố kinh hồn, và nhà Mộ Dung Cô Tô được thêu dệt thành những nhân vật thần thông quảng đại, am tường tất cả những tuyệt học võ thuật trong thiên hạ.

3/- Mối tình của Đoàn Dự đối với Vương Ngọc Yến

Đoàn Dự yêu Vương Ngọc Yến đến độ si mê, yêu chỉ để yêu, để thoả lòng khát khao tôn thờ vẻ đẹp, để phục vụ giai nhân. Dù nhiều lần bị từ chối và xua đuổi, nhưng Đoàn Dự cứ lẽo đẽo, bám đuôi mỹ nhân, dong ruỗi khắp giang hồ như một người tùy tùng, chỉ mong được người đẹp ban cho một nụ cười, một ánh mắt là mãn nguyện. Thậm chí giữa rừng đao núi kiếm của quân Tây Hạ tại đại hội Cái bang ở rừng Hạnh, Đoàn Dự cũng dặn rằng: “Vương cô nương, nếu gặp nguy nan, xin cho tiểu sinh được cõng cô nương chạy trốn nhé”.

Và Đoàn Dự đã thật sự cõng Vương Ngọc Yến chạy trốn khi cô nầy bị trúng độc của quân Tây Hạ. Đoàn Dự cứ tò tò đi theo Vương Ngọc Yến và trái tim đau nhói như dao đâm mỗi khi thấy người đẹp liếc mắt đưa tình trao đổi lời lẻ ngọt nào với người anh họ là Mộ Dung Phục.

Đoàn Dự say mê Vương Ngọc Yến, nhưng cô ta lại say mê người anh họ và người biểu huynh nầy lại say mê ngai vàng của nước Đại Yên. Mộ Dung Phục đã tàn nhẩn đánh đổ mối tình của Vương Ngọc Yến khi anh ta quyết định dự thi kén rể, mong cưới cho được công chúa Tây Hạ, mục đích mượn sức nhà vợ để khôi phục ngai vàng nước Đại Yên.

Dã tâm được thực hiện, là Mộ Dung Phục lừa bắt Đoàn Dự ném xuống giếng sâu, để loại một đối thủ trong việc tranh tài chọn rể của Tây Hạ. Vì bị từ chối phủ phàng, tàn nhẩn, trong cơn đau khổ tuyệt vọng, Vương Ngọc Yến nhảy xuống giếng tự tử.

Vương Ngọc Yến bất tĩnh. Khi tỉnh dậy thì thấy mình nằm trong lòng của Đoàn Dự. Định mệnh đã đưa họ về với nhau trong tình yêu, và đôi trai tài gái sắc nguyện suốt đời sống bên nhau.

4/- Đoàn Chính Thuần – Tuyệt đại cao thủ về tán gái !

Đoàn Chính Thuần là khách đa tình, có nhiều cuộc tình vụng trộm, nhiều con rơi con rớt. Rồi Đoàn Dự vô cùng đau khổ, không còn muốn sống nữa khi khám phá ra Vương Ngọc Yến là em cùng cha khác mẹ với mình.

Kim Dung đã cho gia đình họ Đoàn sum họp nhau trong một thảm cảnh thương đau, khi bị Mộ Dung Phục khống chế vì đã bị trúng độc của hắn.

Vương phi Đao Bạch Phượng mẹ của Đoàn Dự. Vương Lan Hoa (Vương phu nhân) mẹ của Vương Ngọc Yến, Cam Bảo Bảo là mẹ của Chung Linh, Tần Hồng Miên là mẹ của Mộc Uyển Thanh, Nguyễn Tinh Trúc là mẹ của A Châu và A Tử. Tất cả những cô gái đã yêu Đoàn Dự đều là em cùng cha khác mẹ với anh ta.

Trước khi tắt thở, Đao Bạch Phượng tiết lộ cho Đoàn Dự biết rằng anh ta không phải là con ruột của Đoàn Chính Thuần, mà là con của Đoàn Diên KhánhMộ Dung Phục ép buộc Đoàn Chính Thuần phải ngường ngôi lại cho cha nuôi của hắn là đệ nhất ác Đoàn Diên Khánh, từ đó hắn sẽ lên làm vua nước Đại Lý. Vì Đoàn Chính Thuần từ chối, nên Mộ Dung Phục đã giết chết các tình nhân và vợ của Đoàn Chính Thuần, bao gồm Vương phu nhân là người cô đã từng nuôi dưỡng hắn từ nhỏ. Đoàn Chính Thuần tự tử chết theo những người yêu.. Sự việc xảy ra là, do bà ta quá ghen nên trả thù chồng bằng cách “ông ăn chả, bà ăn nem” cho bỏ ghét, chớ không thương yêu gì Đoàn Diên Khánh cả.

Lời trối trăn sau cùng là, những những người con gái đã yêu Đoàn Dự không phải là anh em ruột, mà theo tập quán của nước Đại Lý thì họ có thể kết hôn với nhau, mặc dù hai người cha cùng họ Đoàn. Cuối cùng, Đoàn Dự có ba vợ, là Vương Ngọc Yến, Mộc Uyển Thanh và Chung Linh.

Đoàn Dự là trường hợp hiếm có, vua si tình Du Thản Chi thì không được cái diễm phúc đó. Du Thản Chi yêu mê mệt A Tử đến nổi bị hành hạ, ruồng rẫy mà vẫn một mực yêu thương, chấp nhận hy sinh mọi thứ cốt để làm vui lòng người mình yêu. Si mê đến cuồng dại. Tự nguyện chịu bị hành hạ làm trò chơi để A Tử mua vui. Hy sinh chịu làm vật thí nghiệm cho A Tử luyện độc chưởng, thậm chí tự móc mắt trao tặng mỹ nhân. Và tàn nhẩn nhất là khi A Tử tự móc mắt trả lại để chính mắt Du Thản Chi chứng kiến cảnh đau lòng, là A Tử âu yếm ôm vào lòng xác của Kiều Phong rồi nhảy xuống vực thẳm.

Ở đời sao lại có người phụ nữ độc ác đến thế ? Sao lại cũng có người thanh niên dại gái đến thế? Hết nước nói.

II/- TÌNH DỤC TRONG TIỂU THUYẾT KIM DUNG

Nhân vật Vi Tiểu Bảo thể hiện rõ nét tình dục trong tiểu thuyết của Kim Dung.

1/- Vi Tiểu Bảo trong phim truyện Lộc đỉnh ký 1987

– Vài nét về Vi Tiểu Bảo : Vi Tiểu Bảo là nhân vật chính trong tiểu thuyết Lộc Đỉnh Ký của Kim Dung. Vi Tiểu Bảo sinh vào khoảng năm Thuận Trị thứ 13 (1656), tại một kỷ viện tên Lệ Xuân Viện ở thành Dương Châu, tỉnh Giang Tô. Mẹ là Vi Xuân Phương, một gái mãi dâm chuyên nghiệp.

Năm 13 tuổi, trải qua một cuộc phiêu lưu mạo hiểm từ thành Dương Châu đến Bắc Kinh, rồi bị bắt cóc vào Tử Cấm Thành, đội lốt thái giám tên Tiểu Quế Tử sau khi giết chết tên tiểu thái giám nầy.

Một hôm, tình cờ gặp hoàng đế trẻ tuổi Khang Hy và trở thành đôi bạn trẻ chí thân. Vi Tiểu Bảo xuất thân và sống ở hai nơi gian trá nhất là động mãi dâm và hoàng cung, nên về mặt khôn ngoan, gian xảo hơn hẳn người thường. Gian nhưng không ác, xảo trá nhưng trọng nghĩa khí, tham ô nhưng không tiếc của, ăn chia song phẳng, không biết chữ, không biết võ công, thường nói tục và chửi thề…

– Những chức vụ : Nhờ miệng lưỡi và tài nịnh hót, bản thân cũng đã lập được công trạng nên việc thăng quan tiến chức không ngừng. Từ Tổng Quản thái giám Ngự Trừu phòng, đến Đô thống chánh Hoàng kỳ, sứ giả tứ hôn Vân Nam, đại sứ đi xây dựng Trung Liệt đường ở Dương Châu, Phó trụ trì chùa Thiếu Lâm, chánh trụ trì chùa Ngũ Đài Sơn, Tư lịnh mặt trận đánh Thần Long giáo, Bá tước kiêm Tư lịnh đánh quân La Sát, Công tước xứ Lộc Đỉnh (Lộc Đỉnh công).

Là một đại quan nhà Thanh mà trong quá trình công tác đã hoạt động gián điệp “ba mang”, giữ chức vụ quan trọng trong hai tổ chức tạo phản chống triều đình Mãn Thanh. Đó là Hương chủ Mộc Thanh đường của Thiên Địa hội (Phản Thanh phục Minh) và chức Bạch Long sứ của Thần Long giáo, một tổ chức chống triều đình ở Liêu Đông.

Gia đình Vi Tiểu Bảo : Vi Tiểu Bảo có 7 vợ là những thiếu nữ tuyệt sắc thuộc con nhà quyền quý. A Kha, (con gái của Ngô Tam Quế và Trần Viên Viên), Kiến Ninh công chúa, Mộc Kiếm Bình (quận chúa Mộc Vương Phủ thời nhà Minh), Tăng Nhu (con gái của một thủ lãnh kháng Thanh), Phương Di, Tô Thuyên (vợ của Hồng giáo chủ Thần Long giáo) và Song Nhi (tỳ nữ).

Vi Tiểu Bảo có 3 con, 2 trai một gái. Trong đó, con ruột là Vi Song Song (với Kiến Ninh công chúa), con trai Vi Hổ Đầu (con của A Kha và Trịnh Khắc Sản), Vi Đông Trùy (con của Tô Thuyên bị nghi ngờ có cha là những thanh niên trong Thần Long giáo).

2/- Vi Tiểu Bảo và 7 bà vợ

– Những hành động dâm ô của Vi Tiểu Bảo : Vi Tiểu Bảo là một nhân vật dâm đảng nổi tiếng với những hành động dâm ô, cưỡng bức, sàm sở đối với phụ nữ.

Đối với Kiến Ninh công chúa : Lúc 14 tuổi, khi làm bạn với vua Khang Hy, Vi Tiểu Bảo quen biết với Kiến Ninh công chúa, 13 tuổi. Lợi dụng khung cảnh vắng vẻ của cung Khôn Ninh, Tiểu Bảo bắt trói công chúa lại, cởi áo ra, miệng nói lời tục tĩu, tay thì sờ soạn làm trò bỉ ổi.

Đối với quận chúa Mộc Kiếm Bình : Mộc Kiếm Bình là quận chúa của Mộc Vương phủ thời nhà Minh, bị người của Thiên Địa Hội bắt đưa vào hoàng cung cho Vi Tiểu Bảo canh giữ. Cũng với những hành động đã thực hiện với Kiến Ninh, Vi Tiểu Bảo sờ soạn trên thân thể cô gái và vẽ hình con rùa trên má cô ta. Xuất thân từ kỷ viện, tức là động mãi dâm, cho nên mới 14 tuổi mà Tiểu Bảo quen thói dâm ô đối với trẻ vị thành niên.
Vi Tiểu Bảo luôn luôn giữ bên mình tập Cung Xuân đồ gồm 4 tấm, vẽ hình phụ nữ khỏa thân và cảnh nam nữ quan hệ tình dục, để giải trí. Vi Tiểu Bảo đã tặng tập hình đó cho Tổng quản Thị vệ Đa Long, khiến cho hắn mãi mê ngắm nghía mất cảnh giác, nên Tiểu Bảo thừa lúc cho bộ hạ tráo đổi tử tù để cứu người bạn là Mao Thập Bát.

Dâm tặc Vi Tiểu Bảo : Vi Tiểu Bảo được cử vào chùa Thiếu Lâm học làm nhà sư để chuẩn bị lên giữ chức phương trượng chùa Ngũ Đài Sơn, bảo vệ Hoàng đế Thuận Trị đang ẩn tu trên đó. Ở Thiếu Lâm tự, với pháp danh Hối Minh thiền sư, phó chủ trì, trong bộ áo nhà sư, Vi Tiểu Bảo chọc gái giữa đường, dê đạo lộ, tán tỉnh và giở trò sàm sở với A Kha, đệ tử của Bạch Y nữ hiệp, nguyên là Trường Bình công chúa, đã bị vua cha là Sùng Chính nhà Minh, chặt đứt một tay.

Tiểu Bảo bị mắng nhiều lần là dâm tặc, nhưng cố tình theo đuổi quyết chiếm cho được, trong khi A Kha mê công tử Trịnh Khắc Sản, thuộc dòng dõi nhà Minh chạy ra Đài Loan.

Vi Tiểu Bảo cưỡng dâm một lúc sáu phụ nữ : Khi được vua Khang Hy cử về Dương Châu xây dựng toà nhà Trung Liệt, Vi Tiểu Bảo mang theo 4 cô gái là Tăng Nhu, Phương Di, Mộc Kiếm Bình và Song Nhi. Tiểu Bảo đổ thuốc mê vào rượu cho A Kha và Tô Thuyên cùng 4 cô gái đi theo uống vào, lợi dụng những người nầy nửa tỉnh nửa mê, Tiểu Bảo chất 6 người lên một cái giường lớn, miệng hát bài Thập Bát mô, cưỡng dâm tất cả 6 phụ nữ đó. Thập Bát mô là bài hát của dân làng chơi mô tả thân thể trần truồng của phụ nữ.

III/- LỘC ĐỈNH KÝ

– Vi Tiểu Bảo gian dâm với công chúa Kiến Ninh : Khi được vua Khang Hy cử làm sứ giả đưa công chúa Kiến Ninh, 15 tuổi, xuống Vân Nam kết hôn với con trai của Ngô Tam Quế là Ngô Ứng Hùng. Vi Tiểu Bảo lợi dụng đường xa, dọc đường dựng lên những hành cung để cho công chúa nghỉ ngơi. Tiểu Bảo đuổi hết đám thị vệ vào phòng riêng, rồi cùng công chúa quan hệ tình dục nhiều lần. Công chúa cũng yêu thích Vi Tiểu Bảo. Hậu quả động trời là công chúa đã dàn cảnh để cắt cái của quý của Ngô Ứng Hùng, và đã mang thai trước khi về làm vợ của người đàn ông không còn bửu bối, nên chả làm ăn gì được cả.

Tiểu Bảo là thái giám giả, nên đã làm những chuyện động trời mà nhiều người không nghĩ tới được.

Trong một lần sang Nga, Tiểu Bảo cũng giở bản chất dâm đảng sở trường ra hành lạc với công chúa Sa Hoàng là Tô Phi Á (Sophia). Ngoài Vi Tiểu Bảo ra, nhân vật dâm đảng trong tiểu thuyết Kim Dung còn có Âu Dương công tử, con của Tây Độc Âu Dương Phong ở Bạch Đà Sơn, Tây Vực. Công tử nầy chuyên bắt gái đẹp về hành lạc.

Lại còn có tên dâm tặc Điền Bá Quang, hắn có khinh công tuyệt đỉnh, chạy nhanh như bay, có danh hiệu là Vạn Lý Độc Hành Điền Bá Quang.

Ban đầu, Điền Bá Quang nổi tiếng là một tên dâm tặc, chuyên bắt cóc hãm hiếp phụ nữ, cướp của giết người. Hắn xử dụng tài tình khoái đao, nên có tên gọi đầy đủ là Thái hoa Dâm tặc Giang dương đại đạo Khoái đao Điền Bá Quang.

Sau bị Bất Giới hoà thượng cấy “sinh tử phù” vào bộ đồ lòng nên bữu bối trở nên bất khả cục cựa, chả còn làm ăn gì được nữa. Điền Bá Quang bị ép phải đi tu và phải nhận ni cô Nghi Lâm của phái Hằng Sơn làm sư phụ.

IV/- Kết

Qua những nhân vật trong tiểu thuyết, Kim Dung đã thể hiện những khía cạnh của tình yêu, gần giống như bên ngoài thực tế cuộc đời. Tình gia đình của Tạ Tốn Kim Mao Sư Vương, tình đồng tính của Đông Phương Bất Bại với Dương Lê Đình trong Tiếu Ngạo Giang Hồ, tình hận của Quách Phù, con gái của Quách Tĩnh – Hoàng Dung, đã chặt đứt cánh tay của Dương Quá, trong Thần Điêu Đại Hiệp. Tình thù của Chu Chỉ Nhược, trong Cô Gái Đồ Long, tình tội lỗi của Tây Độc Âu Dương Phong với người chị dâu, sinh ra dâm tặc Âu Dương Công Tử, tình vô duyên của Lão Ngoan Đồng với vương phi Anh Cô nước Đại Lý.

Và cuối cùng, Lý Mạc Sầu phải đặt câu hỏi: “Tình là cái chi chi?” trước khi nhảy xuống vực thẳm.

Yên Huỳnh post (theo Trúc Giang – Minnesota tháng 10 năm 2012)

SỰ NGHIỆP SÁCH

KIM DUNG

Trong các nhà văn viết truyện vỏ hiệp kỳ tình được người đọc châu Á hâm mộ nhất, phải kể đến nhà văn Kim Dung, ông người Trung Quốc và sinh sống tại Hồng Kông. Nay với các tiểu thuyết đó, ông nổi tiếng khắp thế giới qua các bản dịch và phim ảnh được khai thác từ các cuốn tiểu thuyết này.

Người ta có thể thống kê được các tác phẩm của Kim Dung chỉ gồm 14 cuốn, và mỗi cuốn dầy độ từ 400 đến 800 trang khổ 14 x 20 cm. 14 cuốn tiểu thuyết trường thiên vỏ hiệp kỳ tình đó, gồm có :

 1- Thư kiếm ân cừu lục  2- Thiên long bát bộ (Hay Lục mạch thần kiếm)  3- Tuyết sơn phi hồ  4- Hiệp khách hành  5- Võ lâm ngũ bá  6- Anh hùng xạ điêu  7- Thần điêu đại hiệp 8- Ỷ thiên đồ long kiếm  (Hay Cô gái đồ long)  9- Liên thành quyết  10- Bích huyết kiếm 11- Bạch mã tiêu tây phong 12- Phi hồ ngoại truyện 13- Tiếu ngạo giang hồ  14- Lộc đỉnh ký

Ngoài ra Kim Dung có một cuốn đoản thiên mang tựa Việt nữ kiếm.

Sự nghiệp viết sách của Kim Dung chỉ có 20 năm, bắt đầu từ năm 1955 đến năm 1975 là kết thúc. Cụ thể ban đầu với cuốn Thư kiếm ân cừu lục (1955) kết thúc với cuốn Lộc đỉnh ký (1975), mặc dù sức bật vẫn dồi dào nhưng ông quyết định “rửa tay gác kiếm”, chuyên chú vào việc đi dạy học (hiện Kim Dung là giảng viên Đại học môn sử học Trung Quốc, dạy tại Hồng Kong và Anh quốc, là Viện sĩ hàn lâm của Trung Quốc.

Nhiều quốc gia Âu – Á khác cũng phong tặng ông tước vị hàn lâm văn học). Ngoài thời giờ rảnh rỗi, Kim Dung đang hiệu đính lại toàn bộ 14 cuốn trường thiên vỏ hiệp nói trên, và cho tái bản tại Bắc Kinh, cũng như những nhà xuất bản ở những quốc gia khác muốn mua bản quyền mang về dịch thuật và in bán trong nước (ở Việt Nam có nhà xuất bản Văn Học cùng Cty Phương Nam xuất bản sách của Kim Dung ).

Thực ra trước đó 10 năm (1947 – năm ông 23 tuổi), Kim Dung đã làm báo nhưng chưa viết văn, ông cộng tác với Đông Nam nhật báo ở Hàng Châu, sau đó vào vị trí biên tập cho tờ Đại Công báo tại Hồng Kông từ năm 1952, rồi phụ trách thêm tờ Báo chiều một phụ san của tờ Đại Công báo, chuyên về văn hóa nghệ thuật. Kim Dung thường viết những bài phê bình về điện ảnh.

Chính do sống trong môi trường văn hóa nghệ thuật này, Công ty điện ảnh Trường Thành biết đến và đề nghị ông viết kịch bản phim, như phim Tuyệt thế giai nhân phóng tác từ tác phẩm Hổ phù của Quách Mạc Nhược, sau đó Bông hoa lam, Nàng bồ câu, Tình yêu tay ba, Cô gái dậy thì v.v…

Do tích lũy kinh nghiệm trong việc viết kịch bản phim, Kim Dung đã cùng Thẩm Bảo Tân hợp tác ra tờ Minh Báo, và từ đó những cuốn trường thiên tiểu thuyết của ông ra đời từ tờ Minh báo này.

Trong một cuộc phỏng vấn, Kim Dung cho biết ông không biết gì về vỏ thuật, nhưng sách ông viết lại toàn đặc thù về kiếm hiệp, vỏ hiệp và chưởng phong. Kim Dung cho biết, ông tự tìm tòi trong các cuốn sách dạy vỏ thuật của Trung Quốc và phóng tác chúng thành những ngón vỏ trong truyện của mình, còn về địa lý và lịch sử Trung Quốc với ông tỏ ra am tường hơn, bởi ông là giáo sư môn sử học nhân văn.

Kim Dung viết truyện dựa vào tài liệu lịch sử và các quyển chỉ dẫn về địa lý đất nước. Mỏi lần viết đến địa phương nào, ông cũng nghiên cứu qua sách vở cổ kim, và là người viết tiểu thuyết đăng báo hàng ngày nên ông bố cục tạo tình tiết thật hấp dẫn, lôi cuốn (action) người đọc phải tò mò tìm đọc trong số báo phát hành vào ngày mai.

Ngoài cốt truyện có bố cục hoàn chỉnh, nội dung súc tích trong ngày, nếu về kiếm hiệp, vỏ thuật ông phải cho ra đời những ngón đòn tuyệt thế; về tình cảm ông cũng đưa ra những nhân vật nam nữ có những chuyện tình éo le. Qua những sự kiện lôi cuốn đó (từ  chất vỏ hiệp đến chuyện tình cảm), theo Kim Dung nói, nhờ vậy mà tiểu thuyết của tôi nổi tiếng, chứ ban đầu với cuốn trung thiên tiểu thuyết Thư kiếm ân cừu lục, Thiên long bát bộ… cho xuất bản không qua tiểu thuyết đăng hàng ngày (feuilleton), nên lúc đó thu hoạch qua sự nghiệp viết sách cũng chỉ vào bậc trung, tiếng tăm không lớn như sau này, từ cuốn Thần điêu đại hiệp Kim Dung mới được bạn đọc tìm lại những bộ sách cũ trước kia mua về xem, đồng thời các nhà xuất bản rất hài lòng khi cho tái bản chúng liên tục.

Trong số 14 tác phẩm của Kim Dung, có một bộ truyện mang tính liên kết gồm 4 tựa là : Vỏ lâm ngũ bá, Thần điêu đại hiệp, Anh hùng xạ điêu và Ỷ thiên đồ long kiếm làm nổi bật tính cách của Kim Dung, để rồi sau đó ông thành công liên tục với các tác phẩm mới như Tiếu ngạo giang hồ , Lộc đỉnh ký.

Nhưng không hiểu sao từ khi bộ tiểu thuyết Lộc đỉnh ký kết thúc, ông không tiếp tục viết sách (trái với nhà văn nữ Quỳnh Dao của Đài Loan, đến nay vẫn tiếp tục cho ra đời những sáng tác mới, vừa cho xuất bản vừa cho ra phim truyện bộ).

Ở Trung Quốc khi Kim Dung cho phát hành cuốn đầu tiên tại Bắc Kinh, đã gây ra làn sóng mến mộ ông lan rộng khắp cả nước.

Người đọc đang chờ đón những cuốn tiểu thuyết ông đang hiệu đính lại, Kim Dung cho biết, từ năm 2001 (năm ông 78 tuổi) ông sẽ sửa cuốn Thư kiếm ân cừu lục, đưa nhân vật Trần Gia Lạc hiểu biết thêm về kinh Koran của đạo Hồi, vì trong truyện này có nhắc nhở đến tôn giáo này nhiều, mà khi đó ông viết lại quá vắn tắt, một nhân vật nữ là công chúa Hắc Thanh Đồng sẽ có số phận rõ ràng hơn v.v… (Cuốn này đã in phát hành trong năm 2002 tại Hồng Kông), sau đó ông sẽ hiệu đính tiếp cuốn Thần điêu đại hiệp, nói rỏ 16 năm của Tiểu Long Nữ sống dưới hang động…

Nguyễn Việt

(Trích trong cuốn Almanach “Kiến thức dành cho mọi người” cùng tác giả, đã xuất bản)

VĂN HÓA VĂN NGHỆ (21)

TỪ CA KHÚC ‘LÒNG MẸ’

TỚI ĐỜI THƯỜNG NHẠC SĨ Y VÂN

Về thời điểm ra đời của ca khúc “Lòng Mẹ” mà, cá nhân tôi muốn được gọi là “quốc ca của lòng từ mẫu,” đến nay, đã có tới ba ghi nhận khác nhau.

Trước hết, theo trang mạng Wikipedia/Bách khoa toàn thư mở, phần tiểu sử của cố nhạc sĩ Y Vân, có đoạn ghi nhận nguyên văn như sau :

“Năm 1952 (trước di cư 1954) ông (nhạc sĩ Y Vân) vào Nam, tại đây tiếp tục sáng tác, chơi nhạc và dạy nhạc, ngoài ra còn viết sách dạy nhạc và đàn guitar. Những ca khúc nổi tiếng thời điểm này là : Lòng Mẹ, Hồn Quê, Ðò Nghèo,… ngoài ra ông còn là người đi tiên phong cho dòng nhạc nhẹ với những bài hát có giai điệu Cha cha cha, Disco như : Sài Gòn, Ảo Ảnh, Sáu Mươi Năm Cuộc Ðời, Thôi…”

Ðoạn văn trên mở ra một cánh cửa mơ hồ khá to lớn ! Căn cứ vào mạch văn, không ít người suy diễn rằng, ca khúc “Lòng Mẹ” của cố nhạc sĩ Y Vân, đã được sáng tác vào năm 1952.

Nhưng trong bài viết nhan đề “Vài nét về cuộc đời của nhạc sĩ Y Vân,” tác giả Nguyễn Việt viết :

“…Sau một buổi trình diễn với Phủ Tổng Ủy Di Cư về, Y Vân bị mưa ướt như chuột lột, quần áo dơ hết. Mới di cư còn nghèo, chỉ có một bộ đồ coi được nhất để trình diễn, Y Vân rất lo lắng vì ngay sáng hôm sau lại phải đi đàn nữa. Khuya hôm đó, mẹ ông đã đem bộ quần áo ra máy nước công cộng đầu hẻm giặt sạch rồi về nhà đốt than lên hơ cho chóng khô.”

“Sáng hôm sau, Y Vân đã nghiễm nhiên có được bộ quần áo sạch sẽ mặc đi diễn. Ông cảm động lắm và cảm hứng viết nhạc phẩm đầu tay “Lòng Mẹ,” một bài hát đã đi vào lòng hằng triệu người dân nước Việt. Và đó là khởi đầu cho sự nghiệp âm nhạc của một trong những nhạc sĩ tài hoa nhất của Việt Nam…” (2)

Trên thực tế, Phủ Tổng Ủy Di Cư được chính quyền miền Nam thành lập vào năm 1954, với nhiệm vụ lo giúp đỡ thiết thực cho hơn một triệu đồng bào miền Bắc di cư vào Nam.

Tài liệu chính thức ghi nhận rằng :

“Sau khoảng một tháng, làn sóng di cư trở nên ồ ạt khiến chính phủ phải thành lập Phủ Tổng Ủy Di Cư Tị Nạn. Phủ Tổng Ủy lần lượt do các ông Nguyễn Văn Thoại (từ ngày10/8/1954), GS Ngô Ngọc Ðối (từ ngày 21/8/1954), BS Phạm Văn Huyến (từ ngày 4/12/1954), ông Bùi Văn Lương (từ ngày17/5/1955) làm tổng ủy trưởng. Tới ngày 21 tháng 8. Mỗi ban ngành đều có đại diện của Phủ Tổng Ủy. Phủ Tổng Ủy có 3 nhiệm vụ : Cứu trợ và di chuyển; Kiểm soát và tiếp cư; Giúp đỡ định cư… (3)

Nếu tư liệu của tác giả Nguyễn Việt về ca khúc “Lòng Mẹ” của Y Vân là chính xác thì, thời điểm sáng tác của ca khúc phải nằm trong khoảng thời gian từ 1954, tới 1955. Bởi vì, sau đó, Phủ Tổng Ủy Di Cư không còn nữa.

Chưa hết, nhạc sĩ Y Vũ, em ruột của cố nhạc sĩ Y Vân, lại kể với phái viên báo Thanh Niên rằng :

“Cuối thập niên 1950, anh Y Vân là nhạc công chơi cho các nhà hàng ở Sài Gòn. Hằng đêm, mẹ ở nhà giặt quần áo ở máy nước công cộng, có lần giặt đến 2 giờ sáng thì bị cảnh sát chế độ cũ bắt vì tội phá lệnh giới nghiêm. Ðến sáng, anh tôi về nhà, biết chuyện đã khóc và viết ra ‘Lòng Mẹ,’” em trai của nhạc sĩ kể lại.

“Câu hát tha thiết : ‘Lòng mẹ thương con như vầng trăng tròn mùa thu. Tình mẹ yêu mến như làn gió đùa mặt hồ. Lời ru man mác êm như sáo diều dật dờ. Nắng mưa sớm chiều vui cùng tiếng hát trẻ thơ… Thương con thao thức bao đêm dài, con đà yên giấc, mẹ hiền vui sướng biết bao. Thương con khuya sớm bao tháng ngày, lặn lội gieo neo, mái tóc trót đành đẫm sương… ’ ’Viết xong, anh hát cho mẹ nghe và bà đã khóc…” (4)

Giống như tác giả Nguyễn Việt, nhạc sĩ Y Vũ cũng không xác định rõ thời gian ra đời của ca khúc “Lòng Mẹ.” Nhưng khi ông nói đó là “cuối thập niên 1950…” thì, chắc chắn không phải là khoảng thời gian 1954-1955. Nó càng rất xa điểm mốc 1952 như tài liệu của Wikipedia, khiến nhiều người ngộ nhận (?).

Tuy nhiên, dù “Lòng Mẹ” ra đời ở thời điểm nào thì, căn cứ vào những tư liệu có được, (luôn cả lời kể của người em ruột, Y Vũ), tất cả đều cho thấy, nhạc sĩ Y Vân xuất thân từ một gia đình ngặt nghèo về vật chất. Ông sống với một bà mẹ đơn chiếc, tần tảo, ngược xuôi, một mình nuôi bầy con.

Ở điểm này, tác giả Nguyễn Việt, trong bài viết của mình cho hay, ông biết khá rõ về gia cảnh của cố nhạc sĩ Y Vân; cũng như nguồn gốc của bút hiệu “Y Vân.” Họ Nguyễn viết:

“Nhạc sĩ Y Vân tên thật là Trần Tấn Hậu, sinh năm 1933 tại Hà Nội nhưng quê gốc ở Thanh Hóa. Thuở thiếu niên ông từng theo học nhạc với giáo sư-nhạc sĩ Tạ Phước, và đã tập tành sáng tác từ rất sớm nhưng không mấy thành công.

“Mồ côi cha, nhà nghèo, mấy mẹ con dắt díu nhau nương náu trong một túp lều xiêu vẹo ở ngõ chợ Khâm Thiên. Chính vì thế, Trần Tấn Hậu rất thương mẹ và các em.

“Lúc đó chàng nhạc sĩ nghèo chưa lấy nghệ danh Y Vân, ông phải đi dạy đàn để nuôi gia đình. Có một người bạn thân giới thiệu anh đến dạy đàn cho một tiểu thư khuê các, nàng tên là Tường Vân. Rồi giữa họ hé nở một mối tình đằm thắm. Nhưng… tình đầu tan vỡ cũng là lẽ thường, huống chi chàng chỉ là anh ‘Trương Chi’ si tình khốn khổ, còn nàng lại là một ‘Mỵ Nương’ danh gia vọng tộc. Không thành duyên nhưng… thành danh, một loạt các ca khúc của Y Vân (có nghĩa là Yêu Vân) ra đời từ đó như : Ðò Nghèo, Ảo Ảnh, Nhạt Nắng… với phong cách tha thiết, trữ tình rất được công chúng yêu thích (…).

“Năm 1954, ông cùng 2 em và mẹ di cư vào Nam với hai bàn tay trắng, lúc vừa 21 tuổi. Mẹ hiền buôn bán nuôi 3 con. Còn Y Vân thì đã thích nhạc từ nhỏ, học đàn, sáng tác, hòa âm từ trước năm 54 nên vào Nam đã có thể đi trình diễn giúp vui cho đồng bào di cư…” (5)

Tôi không biết có phải vì gia cảnh ngặt nghèo và, mối tình đầu sớm tan vỡ, đã là hai động lực lớn, thúc đẩy tài năng tiềm ẩn của Y Vân/Trần Tấn Hậu, sớm phát tiết và thăng hoa ?

Nếu quan điểm này có phần đúng thì, chúng ta cũng nên cám ơn hai bất hạnh kia của họ Trần. Và trước khi từ trần ngày 28 tháng 11 năm 1992 tại Saigon, tôi tin, dù bản chất khiêm tốn, thâm tâm cố nhạc sĩ Y Vân cũng hài lòng, hãnh diện về những năm, tháng cơ cực của gia đình và, cá nhân ông – Qua những gì ông đã cống hiến cho kho tàng tân nhạc Việt Nam. Một cống hiến nghệ thuật lớn lao mà, không phải nhạc sĩ nào cũng có thể đạt được. Dù cho họ may mắn có hoàn cảnh sống đầy đủ, tốt đẹp hơn ông !

Chú thích : (2), (3), (4), (5): Nguồn đd.

Nguyễn Toàn(chuyển tiếp từ Du Tử Lê)

“ĐI KÉO GHẾ” Ở HUẾ

HƠN 40 NĂM VỀ TRƯỚC…

Nếu bạn là người Bắc hay Nam chưa từng ở Huế, bạn sẽ không hiểu được ba chữ “đi kéo ghế” là nghĩa như thế nào hay sẽ tự hỏi thầm : “Cái dzì dzậy cà ?” hay “Cái gì thế nhỉ ?”

Cho dù bạn là người Huế 100% nhưng ở vào khoảng tuổi 40 trở lại, e rằng bạn cũng sẽ phân vân. “Đi kéo ghế là đi mô rứa hè ?”. Điều đó cũng dễ hiểu, bởi vì nhóm chữ này hình như chỉ tồn tại một thời gian ngắn, sau đó dần dần biến mất và không ai dùng đến nữa. Ngôn ngữ cũng biến đổi theo thời gian cùng điều kiện sống của xã hội. Đi kéo ghế là đi ăn tiệm, đi ăn nhà hàng, mà người Huế vốn bản tính kín đáo và tế nhị không muốn nói đến chuyện ăn uống thông tục, nên dùng một số chữ khác để chỉ cùng một sự việc. Bốn năm mươi năm trước đây, người Huế ít khi đi ăn tiệm hoặc hàng quán vì nhiều lý do. Trước hết là vì bản chất và nếp sống khép kín trong gia đình, không thích phô trương hoặc la cà ngoài hàng quán trong tiệm ăn mà họ thường chê là “cơm đường cháo chợ”. Thứ đến là vì lý do kinh tế cá nhân eo hẹp trong hoàn cảnh xã hội khó khăn thời chiến. Vừa mới hồi cư sau khi cuộc chiến tranh Việt-Pháp bùng nổ (1945-1946), mọi người đều gặp khó khăn, đời sống bấp bênh, công ăn việc làm chưa ổn định.Thành ra đối với đa phần dân Huế, đi ăn hàng quán là xa xỉ, là phí phạm hoặc là vì họ không có nhu cầu đó. Hơn nữa trong mỗi gia đình người Huế, đều có một người vợ, người mẹ truyền thống, đầy đủ tứ đức: công, dung, ngôn, hạnh. Bà nội tướng Huế dù giàu hay nghèo cũng đảm đương tròn nhiệm vụ một ngươi dâu thảo, một người vợ hiền. Họ luôn luôn lo lắng và sẵn sàng săn sóc gia đình mọi mặt từ cây kim sợi chỉ, manh quần tấm áo cho đến bữa cơm gia đình ngon lành và ấm cúng hàng ngày.

Thế nên có thể nói mà không sợ “trật” lắm là, người đàn ông Huế thích ăn cơm nhà hơn là cơm tiệm. Và những trường hợp đặc biệt của những người phải đi ăn cơm tháng hay cơm tiệm dài dài, thường là những người thiếu may mắn, đang ôm ấp một nỗi cô đơn thầm kín hoặc đang chịu đựng một thảm kịch gia đình nào đó.

Thời kỳ sau 1945 và trước 1960, người Huế chỉ đi ăn tiệm hay thường gọi là đi kéo ghế khi có những dịp đặc biệt : Bạn bè, khách quý ở xa về thăm hay trong gia đình có những điều vui mừng cần tưởng thưởng. Ví dụ như con thi đậu Ri-me (Primaire) tiểu học, thi đậu Càng Cua (Concours) vô học trường nhà nước, thi đậu Dit Lôm (Diplôme) hay Tú Tài (Bạc l-2), v.v… Hoặc là dịp tiễn con đi Sài Gòn học Đại Học, đi du học ở Pháp, ở Anh v.v… Nói tóm lại là chỉ những khi có dịp mừng vui đặc biệt như vậy thì cả nhà, toàn bộ đại gia đình, bao gồm ông bà cha mẹ, con cái, chọn lựa một tiệm ăn lớn trong thành phố hợp với khẩu vị, hợp với túi tiền là kéo nhau tới đó kéo ghế kêu rột, rột, rột rất chi là rộn ràng…

Bạn thấy chữ “kéo ghế” cũng tượng thanh và tượng hình lắm đó chứ !!!

Thời kỳ hậu tản cư, những năm 1947, 48, 49, 50, v.v… ở Huế tiệm ăn có thể đếm trên đầu ngón tay chứ đâu có trăm hoa đua nở như ngày nay, những hơn 50 năm sau. Khách muốn ăn cơm Tây, xin mời đến “Restaurant Au Bon Goût” tên Việt Nam là Như Ý ở đầu cầu Trường Tiền, bên cạnh Ty Thông Tin Huế với ông chủ tiệm có bộ râu cá chốt rất chi là ngộ nghĩnh. Khách có thể ăn điểm tâm đơn sơ với Pâté chaud, thịt nguội xúc xích (saucisson), trứng chiên (oeufs sur plat) hay chả trứng (omelette) hoặc bánh mì nướng phết bơ đường (beurre Bretel) vàng óng thơm phức và uống cà phê Pháp pha rượu Rhum Saint James đậm đà, nồng nàn. Trưa chiều, dùng cơm phần (repas) theo thực đơn thay đổi hàng ngày. Hay muốn sang hơn thì đặt trước những món như Heo Sữa (Cochon de Lait), Thỏ nấu rượu chát (Civet Lapin) hoặc tôm hùm xốt trứng gà (Langoustine sauce mayonnaise), v.v… Quý ông uống rượu mạnh thì có Martell, Courvoisier, Bourbon với Soda Perrier. Quý bà thì Champagne Monopole, rượu chát đỏ Beaujolais, Mâcon, rượu chát trắng Sauterne, rượu khai vị, rượu mùi Dubonnet, Cointreau, Saint Raphael, Anis, Pernod hoặc uống bia Kronenbourg.

Bên kia cầu Trường Tiền, phía Hữu Ngạn Sông Hương, trong khu Morin có Khách Sạn Huế (Hôtel de Huế), đủ các món ăn chơi kể cả nhảy đầm (dancing) dành cho người Pháp và các quan chức liên hệ, người Việt Nam ít ai bén mảng qua đó. Đi ngược đường Lê Lợi về phía cầu Ga có nhà Thủy Tạ (Cercle Sportif de Huế), có sân đánh quần vợt (tennis), có hồ bơi, có thuyền chèo (périssoires), dĩ nhiên là có tiệm ăn và quán rượu, nhưng cũng chỉ dành riêng cho người Pháp, trước năm 1954, người Việt Nam ít ai có dịp bước vào chốn nầy. Người dân Huế những năm 1940 và 1950 hầu như chỉ sinh hoạt thực sự bên khu Tả Ngạn Sông Hương và trong Thành Nội. Khách muốn ăn cơm Tàu có thể chọn lựa một trong hai tiệm. Trước hết là Tiệm Khê Ký ở chân cầu Gia Hội, gần bùng binh ngã ba đường Bạch Đằng – Chi Lăng với cầu Gia Hội. Tiệm thứ hai là Tiệm ăn Quốc Tế ở đường Ngã Giữa (sau này đổi tên là đường Gia Long rồi Phan Bội Châu). Cả hai tiệm đều nổi tiếng một thời với các món ăn Tàu do các đầu bếp Chợ Lớn và Hồng Kông đảm trách.

Tuy các món ăn không được đa dạng và phong phú như ngày nay nhưng vào thời chiến tranh đó và lúc thế giới còn quá bao la chứ không nhỏ hẹp như bây giờ (nhờ khoa học kỹ thuật quá tiến bộ), mà chúng ta cũng có thể ăn gà Hải Nam, những con ốc (bào ngư) hay vi cá đuối hay vi cá mập ở Thượng Hải, Phúc Kiến hay có thể thưởng thức những con đỉa biển gọi là Hải Sâm ở Hải Sâm Uy (?). Có thể nói khách muốn ăn cơm Tàu giản dị cũng có, muốn sơn hào hải vị chi cũng có cả. Khách có thể uống bất cứ thứ rượu Tây nào mà khách muốn.

Tuy tiệm không có Bồ Đào Mỹ Tửu như người thời xưa Mao Đài Tửu thời đương đại, xin khách tạm dùng Mai Quế Lộ hay Ngũ Gia Bì là hồn cũng đủ lâng lâng bay bổng lên gặp Hằng Nga trên Cung Quế. Tiếc thay không hiểu vì lý do gì mà hai tiệm ăn Tàu nổi tiếng một thời này lần lượt đóng cửa dẹp tiệm, nhường sân chơi cho một tiệm ăn Việt có đủ cả 3 thực đơn Việt – Tây – Tàu ở cửa Thượng Tứ. Đó là tiệm Lạc Thành, chủ nhân là người Huế. Tiệm Lạc Thành nổi bật hẳn lên và tồn tại hơn 20 năm, từ năm 1947 cho đến ngày miền Nam sụp đổ thì tiệm ăn Lạc Thành cũng sập tiệm theo luôn! Con đường Thượng Tứ thời Tây gọi là Rue de La Citadelle thực sự dài khoảng 300 thước, bắt đầu từ Ngã Ba Thương Bạc cho đến cửa Thượng Tứ là hết.

Đoạn đường này qua nhiều thời kỳ là con đường một chiều, lại xa chợ Đông Ba nên người Huế thường nói là “trái đường”, rất khó bán buôn. Nhưng Tiệm ăn Lạc Thành lại đông khách lạ lùng. Một tiệm ăn ở Huế mà tồn tại gần 30 năm là một điều rất hiếm có. Tiệm ăn thường ngày có sẵn 3 thực đơn Việt Tây Tàu với ba đầu bếp phụ trách. Khách muốn ăn cơm Tàu như Khê Ký, Quốc Tế cũng có mà muốn ăn cơm Tây như “Au Bon Goût” khách cũng sẽ hài lòng. Có những món ăn được nhiều người ưa thích mà mãi cho đến nay, những người Huế lưu lạc phương xa, ở khắp nơi trên thế giới vẫn còn nhắc nhở khi nói đến tiệm ăn Lạc Thành như : Phở Xào Mềm, Phở Áp Chảo, Y Phủ Mỳ Thánh, Cơm Chiên Dương Châu, Vịt Bát Bửu, Gà Rút Xương, Cháo Bột Báng, Thịt Bò Vằm v.v…

Khách có thể tự do chọn lựa bất cứ món ăn nào mà khách ưa thích trong 3 cái thực đơn dài dằng dặc trước mắt. Khách muốn nhắm thử dĩa thịt gà bóp rau răm kiệu Huế xem có khác chi với gà xé phay hay gà chặt kiểu Nam, kiểu Bắc hay không. Khách muốn dùng món xúp măng cua gạch, món Tả Pí Lù của Tàu xem có thích hơn món xúp rau cải (soupe légume) hay món cháo Bouillabaisse của Tây chăng. Xin mời khách đến tiệm ăn Lạc Thành, khách sẽ toại nguyện. Không những có tiếng về những món ăn ngon, mà tiệm Lạc Thành đặc biệt được anh chị em học trò Đồng Khánh, Khải Định thập niên 50 nhắc nhở về các món tráng miệng (dessert) tuyệt vời như chè đậu xanh đánh, chè hột sen, bánh kem sữa (Crème Flanc) v.v… Ngày nay nhiều người Huế ở khắp năm châu bốn bể vẫn còn nhắc nhở chén chè đậu xanh vàng óng, thơm mùi đậu xanh quyện với mùi vang trong chiếc chén thủy tinh trong vắt với mấy viên đá đập vụn, đã từng làm mát lòng mát dạ bao người một thời trai trẻ. Đó là một số tiệm ăn lớn và lâu đời ở Huế mà người Huế thường nghĩ đến mỗi lần có ý định đi kéo ghế. Về sau càng ngày càng có nhiều tiệm ăn lớn nhỏ hoặc chỉ chuyên bán một vài thứ đặc sản cũng rất nên ghi lại ở đây.

Trên đường Ngã Giữa bên cạnh rạp Hát Bội Bà Tuần có một tiệm chuyên bán thịt bò tái, tên tiệm là “Cháu Bò Tái”. Vì ông chủ tên là Mai Văn Cháu và quán chủ yếu bán thịt bò tái mà người Bắc gọi là Bê Thui. Bên dưới bảng hiệu có thêm hàng chữ “Năm Dê – Bảy Bò”, các bạn có hiểu hàng chữ ấy có nghĩa chi không ? Rất đơn giản, ngày thứ năm bán thịt dê, ngày thứ bảy bán thịt bò. Dê nướng, Dê xào lăn, Cà ri Dê, Bò Tái, Bò Nhúng Dấm, Bò Xào Hành-Khoai Tây Chiên (pomme de terre frite) là những “món ruột” của ông chủ và cũng là đầu bếp của quán ni.

Hình ảnh mà khách qua đường còn ghi nhớ dù đã hơn 40 năm qua là, cái cảnh ông chủ quán ở trần trùng trục, mặc cái quần xà lỏn, ngồi bên lề đường quạt lò thịt nướng, không biết dê bò chi mà thơm phưng phức “bắt rệu nước miếng”, khói bay mịt mù. Tuy không đói lắm, khách cũng đành bước chân vào quán kéo ghế cái rột, dù đang đi một mình, chưa có cái ý định đi kéo ghế theo cái nghĩa mà người Huế thường dùng.

Quán có món đặc biệt Thịt Dê mà Đàn ông Huế có một số người không ăn vì không dám “phản phúc” ăn thịt “thầy mình”, còn Đàn Bà Huế, mà nghe chữ dê là đã “kỵ”, là không ưa gần gũi giữa ban ngày ban mặt chứ đừng nói chi đến chuyện ăn uống sợ lây bịnh. Có lẽ vì rứa mà quán ế khách, nên một ít lâu sau, tiệm đành đóng cửa, và ông chủ đổi nghề trở thành ông chủ kiêm tài xế, cho mướn xe du lịch, cho thuê xe đám ma, đám hỏi, đám cưới.

Bước qua xéo xéo bên kia đường, trước mặt rạp xinê Việt Nam Phim (lúc trước mang tên Rạp Richard) là Tiệm Cháo Lòng Đồng Ý. Khách sẽ hài lòng với dĩa lòng chay hấp dẫn và tô cháo nóng hổi thơm lừng, nước cháo trong veo ngọt dịu. Quán từng vang bóng một thời dù sau này cũng có vài nơi hay vài gánh cháo lòng rất ngon, nhưng người Huế khi nhắc tới Cháo lòng là nhớ tới Cháo Lòng Đồng Ý. Cũng như nói đến Mè Xửng Huế, người ta nhắc đến ngay Mè Xửng Song Hỷ, dù cho sau này Mè Xửng Nam Thuận hay Song Nhân cũng nổi tiếng ngon không kém bao nhiêu. Những năm về sau vì xứ Huế là nơi giáp địa đầu giới tuyến Bến Hải, tình hình chiến sự sôi động nên nhiều người Huế sợ hãi, di cư vào Nam tìm đường sinh sống. Trong số này có ông chủ tiệm Cháo Lòng Đồng Ý, ông ta cũng mở một tiệm cháo mang cùng tên để phục vụ dân Sài Gòn và dân Huế tha hương. Cháo không ngon, không đắt khách như ở Huế. Khi được hỏi lý do, ông Giáp, nếu tôi nhớ không lầm là tên ông chủ, đã trả lời chắc nịch như ri : “Cháo lòng cũng như Nem Huế mà nấu hay làm ở Sài Gòn không cách chi ngon bằng nấu cháo hay làm nem ở Huế, bởi vì con heo Sài Gòn không ngon bằng con heo Huế. Con heo Sài Gòn nuôi trong chuồng, ăn thực phẩm gia súc pha chế sẵn, không hoạt động, thiếu chất tươi, thịt bở. Con heo Huế, thả trong vườn, ăn cám và cơm thừa cá cặn, uống nước mả, thịt chắc nên làm thức chi cũng ngon cả”.

Một số người thông thạo đông y cho rằng thịt lươn rất bổ dưỡng, nên thường lai vãng quán cháo lươn Lưu Hương ở trên đường Hộ Thành, trong cửa Thượng Tứ, trước mặt vườn hoa Ba Viên. Ngoài món cháo lươn đặc biệt ra còn có đủ các món Lươn um, Lươn xào lăn, Lẩu lươn, v.v… Nhưng quán ni cũng chỉ bán được cho một số đàn ông Huế, còn con gái đàn bà Huế ít khi ghé lại vì quý cô, quý bà không thích ăn những con vật lạ như rắn, lươn, chình, chuột chó, nai dê, v.v… mà chuyện chi các bà đã không muốn rồi thì các ông mà có thèm chảy nước miếng thì cũng đành dang ra, đành bấm bụng chịu thua thôi. Tuy chuyện đi kéo ghế hồi đó chủ yếu là có tính cách gia đình, nhưng càng về sau thì chuyện đi kéo ghế có tính cách nhẹ nhàng hơn. Bạn bè học trò, trai gái khi hẹn hò hay khi đói lòng cũng rủ nhau đi kéo ghế đơn sơ, cũng vui vẻ và hợp với túi tiền học trò.

Họ thường kéo nhau đến hiệu Mỹ Châu Anh ở ngoài cửa Đông Ba, vừa ngon vừa rẻ ơi là rẻ. Tiệm bán chỉ có hai món hoành thánh và mì sợi mà khi mô cũng đông khách, nhất là các cô cậu học trò các trường công tư thục ở Huế. Ngày nay ở Huế còn có tiệm bánh khoái nổi tiếng khắp nước kể cả nước ngoài, đó là tiệm Bánh Khoái Thượng Tứ mà bào muội cũng là bào muội ông chủ Hiệu Ăn Lạc Thành. Nhưng nói đến Bánh Khoái thì không thể quên được tiệm Bánh Khoái dưới chân cầu Đông Ba, nằm trên đường Võ Tánh hơn nửa thế kỷ trước. Có thể nói người Huế sành ăn uống thuở đó ai cũng có thưởng thức bánh khoái của Đông Ba ít ra là một lần. Sẽ bị chê trách là có óc địa phương, cục bộ, hoặc thiếu công bình, nếu không nhắc đến Kiốt (Kiosque) Phở Bắc Thăng Long ở bến xe Nguyễn Hoàng, gần Cửa Ngăn. Năm 1954, theo làn sóng Người Bắc di cư sau Hiệp Định Genève, Phở Bắc cũng xuất hiện và dừng chân ở Huế một thời gian. Ban đầu vì tính hiếu kỳ, người Huế cũng đua nhau đi ăn thử cho biết món ngon vật lạ của đất ngàn năm văn vật, nhưng không lâu tiệm đóng cửa và chủ nhân cũng xuôi Nam tìm đường mưu sinh thoát hiểm khác. Có lẽ một phần vì tay nghề của chủ nhân kiêm đầu bếp chưa cao, hoặc đụng phải tính bảo thủ của người Huế, nên món phở Bắc chưa vượt qua được món bún bò giò heo mà người Huế hằng ưa thích.

Món phở Bắc sau khi du nhập vào thực đơn của người Huế, đã được người Huế pha trộn, biến chế thành một thứ phở lai căng là Phở Huế, Phở Tàu, chứ không thuần túy là Phở Bắc nữa. Nhất là các xe phở rong, bán về đêm trên khắp các nẻo đường thành phố Huế… Phở ông Trọc, khác mùi vị phở ông Bếp Phi, phở ông Bếp Phi khác phở anh Biên dù cho cả hai đều là đầu bếp cũ của Tiệm Ăn Lạc Thành. Đúng là tự biên, tự diễn. Tuy thua keo đầu ở Huế nhưng về sau cuộc chiến giành ngôi vị minh chủ trong làng ăn uống giữa các đấu thủ Phở Bắc, Bún Bò Huế, Mỳ Quảng, Hủ Tiếu Mỹ Tho, e phần thắng lợi nghiêng hẳn về phía Phở Bắc. Ngày nay ở khắp nơi trên thế giới, ở đâu có nhiều người Việt định cư là có Phở Bắc có rau húng quế. Dù là Phở Chiến hay Phở Hòa cũng đều mọc lên như nấm hùng dũng bên cạnh một vài tiệm Bún Bò Huế hay Hủ Tiếu Sài Gòn rất khiêm nhường. Cũng sẽ là một thiếu sót nếu bài viết này không nhắc đến một quán ăn rất độc đáo từ tên hiệu cho đến món ăn đặc biệt Huế. Đó là Quán Cơm Âm Phủ, ở sau lưng sân Vận Động Bảo Long (sau này đổi tên là Tự Do). Quán chuyên bán cho khách có công ăn việc làm về đêm hoặc khách ăn chơi suốt sáng khi đã đói lòng. Cái tên lạ lùng này đã khơi dậy sự hiếu kỳ không những cho người dân Huế mà cả du khách tự phương xa. Cái tên lạ lùng này đã góp phần cho sự tồn tại lâu dài của quán cơm cho đến ngày hôm nay theo truyền thống “cha truyền con nối… nghiệp”. Đến Quán Âm Phủ khách sẽ được thưởng thức một dĩa cơm gạo trắng muốt với thịt nướng thơm phức kiểu Huế, cùng tôm chấy tươi, dưa gang bóp với nước mắm chanh với tỏi và nem nướng đặc biệt Huế. Cơm và thức ăn đã ngon mà khách lại đang đói lòng sau những giờ phút truy hoan trác táng thâu đêm nên càng cảm thấy ngon hơn bội phần. Và có người nghĩ rằng nếu ở dưới Âm Phủ mà có cơm nem, thịt nướng ngon miệng như ri thì chẳng ai sợ phải sa vào Âm Ty, Địa Ngục A Tì nữa cả.

Bài viết này giới hạn từ sau năm 45 đến những năm cuối thập niên 50 và đầu thập niên 60 nên đã không nhắc đến những quán hàng về sau cũng rất nổi tiếng như : Bún Bò Mụ Rớt ở đường Trung Bộ hay Bánh Khoái Lạc Thiện ở cửa Thượng Tứ. Ngoài ra cũng có những hàng quán nổi tiếng nhưng không phù hợp với ý nghĩa “đi kéo ghế” nên không được nhắc đến trong bài như: Bún Bò Cà Phê Lạc Sơn, Cà Phê Phấn (cũng có bán ăn) trước mặt rạp ciné Tân Tân, quán ăn Hiệp Thành trước mặt hiệu tạp phẩm Thái Lợi, v.v… Tất cả đều nằm trên đường Trần Hưng Đạo.

Ngày nay, bèo mây trôi giạt, được định cư ở vùng Tây Bắc nước Mỹ lạnh giá và mưa gió dầm dề như mùa đông ở Huế. Dù xa cách ngàn trùng quê cũ, hình ảnh những lần “đi kéo ghế” ở thành phố quê hương vẫn thường đêm hiển hiện trong tôi với mùi mỡ hành, mùi thịt nướng khói bay mịt mùng ngào ngạt. Cứ mỗi cuối tuần hai vợ chồng già hỏi nhau:

“Chừ mình đi kéo ghế ở chỗ mô hè ?” Rứa là các con tôi nhao nhao reo ầm lên :

“Dim Sum, Hongkong Seafood, Yankee Grill…” Và chúng tôi đành gật đầu OK ! OK ! với nhiều ngậm ngùi thương nhớ một thời đã qua, nơi quê nhà xa tắp.. . . .

CƠM HẾN

Đã nghe ớt đỏ cay nồng

Tìm trong vị hến một dòng Hương xanh

Ruốc thơm, cơm nguội, rau lành…

Mời anh buổi sang chân thành món quê

BÁNH BÈO

Tôm chấy hồng thắm cánh bèo

Dẻo thơm bột gạo quê nghèo nên thương

Hẹn em ngồi quán ven đường

Bánh bèo kết mối tơ duyên đôi lòng

BÁNH NẬM

Mảnh mai xanh sắc lá dong

Mềm mại bánh nậm ấm trong tay người

Nhụy hồng bột trắng tươi mươi

Xuýt xoa nước mắm ngọt lời tỉ tê

BÁNH BỘT LỌC

Bột trong bọc thịt tôm hồng

Lá xanh em gói ươm nồng hương yêu

Bánh ngon nước mắm cay nhiều

Mời anh bữa lỡ ban chiều cùng em

BÁNH PHU THÊ

Lá dừa ôm bột lọc trong

Ngọt ngào thơm nhụy đậu xanh ửng vàng

Phu thê vui chuyện xóm làng

Mừng nhau tác hợp thiếp chàng hòa duyên

BÁNH RAM ÍT

Này em ăn ngậm mà nghe

Ram vàng ít dẻo càng mê vị tình

Mới hay đặc sản Huế mình

Sắc hương dân dã cung đình tìm nhau

MÈ XỮNG

Thơm tho mềm dẻo ngọt ngào

Mè vàng bột nhuyễn ôi chao! Tuyệt vời!

Món quà xứ Huế em ơi

Kẹo ngon mẽ xững tặng người tình chung

TÔM CHUA

Nguyên là đặc sản Gò Công

Theo bà Từ Dũ ra cùng Hương Giang

Tôm hồng, ớt đỏ, riềng vàng…

Vị chua thấm lưỡi nhớ hàng thịt phay (thịt heo luộc)

NEM HUẾ

Mời em khai vị món nem

Em nem anh chả tình thêm mặn mà

Nem thơm, chua, ngọt đậm đà

Nhờ ai quết nhuyễn thịt thà đêm đêm

CHẢ HUẾ

Mời anh thử miếng chả này

Nâng ly hào sảng hương say tận lòng

Cung đình chả phượng nem công

Đôi ta nem chả vốn dòng dân gian

CHÈ HẠT SEN

Hạt sen vừa bổ vừa thanh

Tan trên đầu lưỡi ngọt lành hương xưa

Chè sen mời gọi người thơ

Mát lòng du khách ngẩn ngơ bạn tình

CHÈ BỘT LỌC BỌC THỊT QUAY

Ngọt ngào bùi béo tìm nhau

Thịt quay nằm giữa trắng phau bột mềm

Quen nhau tình đã nên duyên

Chè ngon xứ Huế ngỡ quên đường về

CHÈ ĐẬU NGỰ

Thức ngon xưa tiến quân vương

Tinh hoa trời đất đượm hương kinh thành

Chè đậu ngự mát và thanh

Đêm, dâng chén ngọc an lành châu thân

De Nguyen post

(theo Quế Chi Hồ – Đăng Định)