NHỮNG CHUYỆN KỂ VỀ TT HOA KỲ

NHỮNG ĐẶC QUYỀN

CỦA TỔNG THỐNG MỸ

Kể từ lúc giành được độc lập, Mỹ đã ấp ủ đi theo khuynh hướng dân chủ, bỏ lớp vỏ quý tộc. Song người điều hành trung ương – tổng thống – đã trở thành một con người khác so với đại bộ phận dân cư.

Thời gian trôi qua, những đặc quyền dành cho tổng thống ngày càng nhiều hơn. Mặc dù một số đặc quyền gây tranh cãi song nhìn chung người Mỹ dường như chấp nhận cách đối xử đặc biệt này.

Nghỉ hưu : Các cựu tổng thống đã nhận được khoản lương hưu lên đến 191.300 USD/năm. Ngoài số tiền đó, họ còn có một đội ngũ nhân viên được ăn lương và văn phòng làm việc, được miễn tiền điện thoại, được chu cấp phí đi lại. Họ nhận được khoản bồi thường trong trường hợp phải dời văn phòng làm việc. Được chăm sóc y tế rất  tốt tại những bệnh viện quân đội.

Các cựu tổng thống có thể ngủ ngon giấc nhờ dịch vụ an ninh tuyệt vời, dịch vụ này sẽ hỗ trợ  suốt 10 năm sau khi họ rời Nhà Trắng. Sau cùng, họ được hưởng một nghi thức lễ tang theo cấp nhà nước.

Lương bổng : Vào năm 2001, Quốc hội Mỹ đã nâng mức lương tổng thống từ 200.000 USD/năm lên thành 400.000 USD/năm. Nhưng chưa hết. Các tổng thống còn nhận thêm khoản tiền 100.000USD cho các chi phí đi lại. Ngoài ra, họ còn được 19.000USD cho các mục  giải trí. Mặc dù mức lương phải chịu thuế, nhưng những khoản tiền này không hề bị đánh thuế một xu nào.

Air Force One và Marine One : Khi tổng thống đi lại, họ cũng có phương tiện riêng. Mặc dù bất kỳ máy bay nào chở tổng thống cũng đều được gọi là “Air Force One”, nhưng cái tên này được ám chỉ cho hai chiếc máy bay phản lực Boeing 747-200B, chúng được thiết kế đặc biệt chỉ để dành cho tổng thống. Trung bình chiếc máy bay này có thể chở 70 hành khách và 26 nhân viên phi hành đoàn.

Nửa sau của máy bay là các phòng dành cho nhân viên, khu vực truyền thông và các khu vực an ninh, dưới buồng lái của máy bay là phòng của tổng thống nó bao gồm văn phòng, phòng tắm, phòng ngủ và phòng thể thao.

Tầng trên của máy bay là trung tâm viễn thông, trong khi đáy máy bay là kho chứa hàng. Riêng chiếc máy bay chở hàng mang tên C141 Starlifter chuyên chở các loại xe như những chiếc xe hơi Limousine bọc thép, sẽ chở tổng thống đến bất kỳ nơi đâu ông muốn.

Trong những chặng hành trình ngắn như từ Trại David hoặc khu Căn cứ không quân Andrews, tổng thống thường sử dụng trực thăng, nó gọi là Marine One. Hạm đội máy bay trực thăng hiện tại của tổng thống Mỹ bao gồm Sikorsky VH-3D Sea Kings và VH-60N Black Hawks. Các kế hoạch trang bị những chiếc trực thăng Marine One mới đang còn gây tranh cãi khi Lầu Năm Góc công bố vào năm 2008 rằng mỗi chiếc sẽ có giá thành khoảng 400 triệu USD

Khi các tổng thống cần thư giãn dài ngày, bao giờ họ cũng nghĩ đến việc sẽ đến khu Trại David hẻo lánh.

Vào năm 1942, cố Tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt đã xây dựng khu trang trại xinh đẹp này, trị giá 25.000USD. Trại David nằm trên đỉnh ngọn núi Catoctin, ngoại ô thành phố Thurmont, bang Maryland. Khu trang trại này nằm chỉ cách Washington D.C khoảng 113km, một nơi nghỉ ngơi yên tĩnh, hoàn toàn tách rời với khung cảnh đô thị ồn ào, sầm uất, rất lý tưởng cho tổng thống.

Vào mùa hè, nhiệt độ tại Trại David cũng mát mẻ hơn so với những khu vực xung quanh. Tổng thống Roosevelt đã thường xuyên lui tới đây trước khi ông qua đời, tên ban đầu của nó là Shangri-la – nguyên nghĩa là tên của một vùng đất thiêng ở Tây Tạng, cái tên xuất hiện trong cuốn tiểu thuyết “Chân trời đã mất”.

Tổng thống Eisenhower sau đó trùng tu khu trang trại và đổi tên nó là Trại David nhằm tưởng nhớ đến người cháu trai của mình. Tổng thống Carter sử dụng Trại David làm nơi tổ chức những buổi nói chuyện hòa bình giữa tổng thống Ai Cập và thủ tướng Israel vào năm 1978.

Ngày nay, Trại David không đón tiếp công chúng và rất  an toàn. Sau vài lần trùng tu, tại đây có 11 phòng ngủ và văn phòng, hồ bơi, khu săn bắn và sân chơi bowling. Các tổng thống đến đây bằng trực thăng.

Cadillac One : Chiếc limousine đang sử dụng cho tổng thống đương nhiệm gọi là Cadillac One. Lớp bọc thép trên cỗ xe Cadillac One này dầy đến 12,7cm, các cánh cửa xe nặng như cánh cửa của máy bay Boeing 757. Tổng thống Barack Obama đi chiếc limousine Cadillac Presidential đời mới. Hình ảnh chiếc xe này đã xuất hiện trên nhiều tờ báo quốc tế nhưng tính năng bí mật của nó thì chưa mấy người biết.

Chiếc Cadillac Presidential mới này cao hơn nhiều so với chiếc Cadillac của Tổng thống tiền nhiệm George Bush mặc dù chiều dài và chiều rộng hệt như nhau. Điều này không có nghĩa ông Obama muốn ngồi cao hơn người tiền nhiệm của ông mà chỉ đơn giản là vì ông Obama đề ra những yêu cầu cao hơn đối với vấn đề an ninh.

Chẳng hạn, người lái xe và các nhân viên bảo vệ ngồi trên xe cần có tầm nhìn bao quát hơn.

Bên trong xe được bố trí có sự phối hợp chặt chẽ với Nội các mới của Tổng thống và chẳng khác gì một văn phòng xa hoa với đủ mọi loại thiết bị liên lạc tối tân. Các ghế ngồi đương nhiên được bọc bằng da tự nhiên và trên lưng ghế có thêu hình Quốc huy Mỹ. Xe được thiết kế và thử nghiệm bởi các chuyên gia của Hãng Cadillac, có lưu ý đến một số lượng lớn những yêu cầu đối với các tính năng của xe.

Trên cánh gờ bên phải mũi xe có cắm Quốc kỳ Mỹ. Khi có Tổng thống ngồi trên xe, trên cánh gờ bên trái mũi xe có cắm thêm cờ của Tổng thống. Vào lúc trời tối, các lá cờ này được chiếu sáng bởi một hệ thống đèn .

Để bảo đảm an toàn cho Tổng thống, xe có một lớp bọc thép dầy loại B6-B7, kể cả sàn và trần, chống được lựu đạn và đạn pháo. Ngoài lớp bọc thép này, xe còn được bọc một lớp vật liệu đặc biệt.

Nếu chẳng may sa vào ổ phục kích thì sau khi bị vài trăm viên đạn bắn vào, lớp vật liệu đặc biệt này sẽ tự tỏa khói và vài giây sau sẽ bùng lên một đám lửa tạo thành môt màn khói dầy đặc có tác dụng ngụy trang cho xe.

Hơn thế nữa, cũng như bất kỳ chiếc xe nào của các Tổng thống Mỹ, chiếc Cadillac Presidential của Tổng thống Obama có một loạt chi tiết bổ sung bí mật cho phép nâng cao đáng kể khả năng bảo vệ trong trường hợp bị các loại vũ khí phi truyền thống tấn công.

Chẳng hạn, nếu bị tấn công bằng vũ khí hóa học, hòm xe lập tức được bịt kín, không để không khí lọt qua, còn nếu bị mắc kẹt một thời gian dài trong khu vực nguy hiểm thì hệ thống cung cấp không khí tự động sẽ bắt đầu hoạt động.

Đấy là chưa kể lốp xe cho phép xe tiếp tục chạy ngay cả trong trường hợp bị bắn thủng nhiều chỗ. Để làm được điều này, ở phía bên trong lốp, người ta hàn mộtvòng cao su vào vành bánh xe, nhờ đó xe có thể an toàn chạy khỏi khu vực bị bắn.

Bình xăng của xe cũng khác thường. Nếu ngẫu nhiên bị đạn hoặc mảnh đạn bắn vào thì bình xăng cũng không nổ tung hoặc bốc cháy. Đó là vì thành bình được phủ một lớp keo bịt kín đặc biệt có tác dụng bịt ngay lỗ thủng và mau chóng ngăn chặn dòng xăng chảy. Khoang động cơ và ngay cả bộ tảng nhiệt cũng được bọc thép để bảo đảm khả năng hoạt động của xe trong những tình trạng nguy hiểm.

Nhưng chiếc xe của đội cận vệ Tổng thống còn ghê gớm hơn. Chạy ngay sau chiếc limousine bọc thép của ông Obama là chiếc Chevrolet Suburban cỡ lớn có gắn súng máy trên mui xe.

Trong những trường hợp bình thường, khi đoàn xe hộ tống Tổng thống chạy trên đoạn đường đến Nhà Trắng hoặc trong các chuyến công du nước ngoài, chiếc Suburban này lặng lẽ chạy, không hề thu hút sự chú ý. Nhưng chỉ cần đội bảo vệ cảm thấy có chuyện gì đó không ổn là cửa khoang mui xe lập tức mở ra và trên mui xe lập tức xuất hiện một khẩu súng máy Gatlington 6 nòng cỡ lớn quay tròn được.

Ưu điểm của loại súng máy này là nòng súng vì quay tròn được nên mau chóng nguội đi, nhờ đó, có thể bắn trong một thời gian lâu hơn nhiều. Tốc độ bắn : 3.000 viên đạn trong một phút, bởi vậy, nó có thể phá hủy một chiếc xe chỉ trong vài giây.

Ngoài đạn chì và đạn thép, loại súng máy Gatlington còn thường sử dụng đạn uran, đạn phá và đạn xuyên để xạ thủ nhằm đúng mục tiêu dễ dàng hơn và tăng được đáng kể hiệu quả bắn.

Nhà Trắng : Nhà Trắng là một trong những biểu tượng dễ nhận biết nhất về uy tín và quyền lực của tổng thống Mỹ. Tòa nhà này được xây dựng vào những năm đầu 1800, nơi cư trú tiếng tăm này đã trải qua nhiều lần biến đổi. Cái tên Nhà Trắng được Tổng thống Theodore Roosevelt chính thức đặt năm 1901.Ngày nay, nó gồm có 132 phòng các loại và 35 phòng tắm.

Nhà Trắng gồm 6 tầng : 2 tầng hầm, 2 tầng dành cho khách du lịch và 2 tầng dành cho gia đình tổng thống. Mỗi ngày Nhà Trắng đón khoảng 6.000 du khách. Chi phí cho Nhà Trắng khá tốn kém, đắt đỏ, chỉ riêng hoa tươi dùng để trang trí cho các căn phòng đã ngốn khoảng 252.000USD/năm.Chi phí bảo trì cho Nhà Trắng hàng năm tốn xấp xỉ 4 triệu USD.

Nhân sự : Người đứng đầu các nhân viên quản gia và điều hành hoạt động tại Nhà Trắng được gọi bằng cái tên “Trưởng trợ giáo”. Người này chịu trách nhiệm giám sát các nhân viên tại 3 khu vực chính, điều phối cuộc sống riêng tư và công cộng của tổng thống.
Bếp trưởng tại Nhà Trắng là Cristeta Comerford, người phụ nữ đầu tiên giữ vững cương vị này kể từ năm 2005. Đội ngũ bác sĩ tại Nhà Trắng điều trị cho gia đình tổng thống, phó tổng thống, nhân viên Nhà Trắng và khách. Nhà Trắng có khoảng 450 nhân viên, lương trung bình 82.000USD/năm/người. Hơn 20 người được hưởng mức lương cao 170.000 USD/năm, trong đó thư ký báo chí Jay Carney.

Nhà Blair : Nhà Blair là nhà khách chính thức dành cho tổng thống Mỹ. Nó là một  gồm 4 căn nhà liên kết với nhau. Nhà Blair thực sự còn lớn hơn cả Nhà Trắng với diện tích hơn 21.336m2.

Khối nhà này có hơn 119 phòng các loại bao gồm hơn 20 phòng ngủ dành cho khách khứa và nhân viên, 35 phòng tắm, 4 phòng ăn, 1 phòng tập thể dục, một cửa hàng hoa và một tiệm làm đầu. Đã từng có một vài vị tân tổng thống và gia đình của họ đã nghỉ vài đêm tại Nhà Blair trước khi đặt chân vào Nhà Trắng. Khi các nguyên thủ nước ngoài nghỉ tại Nhà Blair, thì mặt trước ngôi nhà này sẽ tung bay lá quốc kỳ của nước họ.

NHỮNG ĐẶC ĐIỂM BÍ MẬT

CỦA CÁC TỔNG THỐNG MỸ

Từ George Washington, vị Tổng thống đầu tiên cho tới người đương nhiệm Barack Obama đều chứa đựng nhiều bí mật lý thú và gây tò mò cho công chúng.

1/. Ít ai biết George Washington, vị Tổng thống đầu tiên đồng thời cũng là người anh hùng của nước Mỹ, không thích bắt tay người khác. ông cho rằng, hành động bắt tay hạ thấp vị thế của một tổng thống. Do đó, thay vì bắt tay, ông thường cúi chào các vị khách của mình. Để tránh tình huống khó xử trong trường hợp khách đưa tay ra bắt trước, Tổng thống Mỹ thường đặt một tay lên thanh gươm của mình và tay kia giữ mũ.

2/. John Adams, Tổng thống thứ 2 và Thomas Jefferson, Tổng thống thứ 3 của Mỹ đều chết cùng một ngày. Hơn nữa, đó lại là một ngày đặc biệt của nước Mỹ, 4/7/1826, vừa tròn 50 năm ngày Mỹ ký Tuyên ngôn độc lập.

3/. Tổng thống Thomas Jefferson, (Tổng thống thứ 3) xuất thân là một nhà văn nổi tiếng, đồng thời cũng là tác giả chính của bản Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ, không thích phát biểu trước công chúng và thường tránh đọc diễn văn ở nơi công cộng. Ngoài ra, Thomas Jefferson cũng được xem là một trong những tổng thống nghèo nhất của Mỹ. Ông phải vay nợ trong suốt cuộc đời mình, trong đó có cả một khoản nợ của bố vợ mà ông có trách nhiệm phải trả thay. Sau khi ông chết, bất động sản của Tổng thống được đấu giá để trả nợ và con gái ông phải sống dựa vào trợ cấp từ một quỹ từ thiện.

4/. James Madison là Tổng thống thứ 4, có thể chất yếu ớt nhất trong số các tổng thống Mỹ. Chỉ cao nhỉnh hơn 1m6, ông nặng chưa đầy 45 kg, chỉ gần bằng 1/4 cân nặng của Tổng thống Taft, Tổng thống béo nhất của Mỹ.

5/. Tổng thống John Quincy Adams (Tổng thống thứ 6) thích bơi khỏa thân ở Potomac. Một lần, một nữ phóng viên dũng cảm muốn thực hiện cuộc phỏng vấn với Adams nên đã liều đánh cắp quần áo của ông cho đến khi nhận được cái gật đầu đồng ý trả lời phỏng vấn của Tổng thống mới thôi.

6/. Tổng thống Andrew Jackson (Tổng thống thứ 7) từng là một tay đấu súng có tiếng. Một lần, một người đàn ông nọ công kích vợ của Tổng thống Jackson, họ đấu súng. Người đàn ông bắn một phát trúng phía trên trái tim của Tổng thống Jackson. Tuy nhiên, Tổng thống vẫn giữ bình tĩnh, ngắm mục tiêu và bắn chết đối thủ. Do việc gắp viên đạn ra quá nguy hiểm cho tính mạng nên Tổng thống Jackson đành phải sống chung với nó cho đến cuối đời.

7/. Tổng thống Martin Van Buren (Tổng thống thứ 8), từng không nói được tiếng Anh. Ông được nuôi dưỡng và trưởng thành trong văn hóa và ngôn ngữ Hà Lan.

8/. William Henry Harrison là Tổng thống nổi tiếng với bài diễn văn nhậm chức dài nhất nhưng lại giữ nhiệm kỳ tổng thống ngắn nhất. Cụ thể, bài diễn văn dài dòng của ông đọc dưới điều kiện thời tiết tồi tệ. Do đó, ông bị cảm lạnh trầm trọng và qua đời chỉ sau một tháng nhậm chức. Ông là Tổng thống thứ 9 của Mỹ.

9/. John Tyler (Tổng thống thứ 10) là Phó Tổng thống đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ nhậm chức sau khi đương kim Tổng thống qua đời. Ông cũng là tổng thống có nhiều con hơn so với bất cứ đồng nhiệm nào với 15 người con tất cả.

10/. Tổng thống James Polk (Tổng thống thứ 11) được bầu làm Tổng thống Mỹ bởi lời hứa không tái tranh cử nhiệm kỳ thứ 2.

11/. Tổng thống Zachary Taylor (Tổng thống thứ 12) qua đời do mắc phải bệnh tả bởi trót ăn một bát anh đào với sữa lạnh.

13/. Tổng thống Millard Fillmore (Tổng thống thứ 13) từng từ chối nhận tấm bằng danh dự của Đại học Oxford với lý do, ông không thể đọc được những gì mà tấm bằng viết bởi nó sử dụng chữ Latin. Ông từng nói rằng: “Người ta không nên nhận một tấm bằng mà mình không thể đọc nổi nó viết những gì”.

14/. Tổng thống James Buchanan (Tổng thống thứ 15) bị đánh giá là tổng thống tồi nhất trong lịch sử nước Mỹ trong cuộc thăm dò ý kiến các sử gia bởi nhu nhược và lãnh đạo kém cỏi. Trong nhiệm kỳ của mình, James Buchanan đã không đủ kiên quyết và mạnh mẽ để chống lại âm mưu của các bang miền Nam đòi ly khai dẫn đến cuộc nội chiến đẫm máu của Mỹ. Đồng thời, ông cũng không chứng tỏ được tài lãnh đạo khi để nước Mỹ chìm trong suy thoái. Tổng thống James Buchanan cũng được cho là bị trầm cảm nặng và là tổng thống đồng tính đầu tiên của Mỹ. Ông cũng là Tổng thống Mỹ duy nhất độc thân khi đang đương nhiệm.

15/. Tổng thống Abraham Lincoln (Tổng thống thứ 16) trong các bức ảnh rõ ràng là một người đàn ông có dung mạo không ưa nhìn nhưng những người từng tiếp xúc với ông đều nhận xét, ông sở hữu khuôn mặt thông minh và điển trai. Ông là Tổng thống đầu tiên của Mỹ để một chùm râu rậm. Ông nuôi râu theo lời góp ý của một cô gái trẻ tên là Grace Bedell chứ không phải phu nhân của mình.

16/. Tổng thống James Garfield (Tổng thống thứ 20) có thể viết tiếng Latin bằng tay trái trong khi tay phải đang viết đồng thời một văn bản khác bằng tiếng Hy Lạp.

17/. Tổng thống Chester A. Arthur (Tổng thống thứ 21) đã bán toàn bộ nội thất bên trong Nhà Trắng trước khi phải rời khỏi dinh thự này. Nay nhiều đồ đạc trong số đó dù có thể lỗi mốt so với kiến trúc của Nhà Trắng hiện nay nhưng lại có giá trị kếch xù.

18/. Grover Cleveland là Tổng thống Mỹ thứ 22 và 24 đồng thời là Tổng thống duy nhất phục vụ hai nhiệm kỳ không liên tục (1885–1889 và 1893–1897). Ngoài ra, ông cũng là Tổng thống đảng Dân chủ đầu tiên được bầu sau Nội chiến Mỹ. Đặc biệt, Tổng thống Grover Cleveland có sở thích nghe điện thoại và luôn đích thân trả lời các cuộc điện thoại ở Nhà Trắng.

19/. Tổng thống Benjamin Harrison (Tổng thống thứ 23) có nỗi ám ảnh với điện. Ông và vợ không bao giờ chạm vào các công tắc điện vì lo sợ bị điện giật. Đồng thời, họ luôn bật đèn sáng trưng khi ngủ.

20/. William Howard Taft (Tổng thống thứ 27) là Tổng thống béo nhất của Mỹ nhưng đồng thời cũng giữ một danh hiệu liên quan đến thể thao. Ông là người đầu tiên khởi xướng trò ném bóng xuống sân mở đầu một mùa giải bóng chày (giống như phát bóng danh dự trong bong đá). Sau lần ném đầu tiên của Tổng thống Taft ngày 14/4/1910, hành động này trở thành nghi thức truyền thống của các tổng thống Mỹ dù không có văn bản nào quy định điều này.

21/. Tổng thống Woodrow Wilson (Tổng thống thứ 28) là Tổng thống có học vị cao nhất của Mỹ với một tấm bằng tiến sĩ dù ông không được học đọc cho tới khi tròn 7 tuổi.

22/. Tổng thống thứ 30 của Calvin Coolidge là người rất kiệm lời. Do đó, ông có tên thân mật là “Cal ít nói”.Mỹ

23/. Tổng thống thứ 31 của Mỹ Herbert Hoover và vợ có khả năng nói thông thạo tiếng Quan Thoại. Khi họ trao đổi riêng tư và không muốn người khác nghe được, họ sẽ nói chuyện bằng tiếng Quan thoại.

24/. Tổng thống thứ 32 của Mỹ Franklin Delano Roosevelt có vợ cũng mang họ Roosevelt. Do đó, Đệ nhất phu nhân không cần thay tên họ khi kết hôn với Tổng thống Franklin.

25/. Khi tàu bị đánh chìm trong Chiến tranh thế giới thứ 2, Tổng thống thứ 35 của Mỹ, John F. Kennedy đã cố cứu sống một thủy thủ bị thương bằng cách buộc một sợi dây vào răng và kéo người này vào bờ. Tổng thống đã bơi một chặng đường 3,5 km.

26/. Tổng thống thứ 36 của Mỹ, Lyndon Johnson nghiện uống Fresca đến nỗi cho xây hẳn một vòi phun Fresca trong Nhà Trắng.

27/. Tổng thống thứ 37 của Mỹ Richard Nixon thích chơi bowling đến nỗi lấp hồ bơi trong Nhà Trắng để xây một làn bowling.

28/. Tổng thống thứ 38 của Mỹ, Gerald Ford là người duy nhất không được bầu vào cương vị tổng thống hay phó tổng thống. Ông được Tổng thống Richard Nixon bổ nhiệm làm phó tổng thống và sau đó đảm nhận cương vị TT Mỹ sau khi Nixon từ chức.

29/. Tổng thống thứ 41 của Mỹ, George HW Bush đã “nôn thốc nôn tháo” ngay giữa bữa tiệc chào đón ông đến thăm Nhật Bản được tổ chức bởi Thủ tướng nước này.

30/. Tổng thống thứ 42 của Mỹ, Bill Clinton từng là thành viên của một ban nhạc Jazz gồm 4 thành viên hồi còn học phổ thông. Ban nhạc này có tên Three Blind Mice (a chú chuột mù) và luôn biểu diễn với những cặp kính râm.

31/. Tổng thống thứ 43, George W. Bush giữ kỷ lục là tổng thống có tỷ lệ ủng hộ cao nhất và thấp nhất của Mỹ. Tỷ lệ ủng hộ đối với ông Bush tăng lên đỉnh điểm sau sự kiện 11/9 và giảm xuống mức thấp thảm hại so với bất cứ tổng thống nào của Mỹ sau thảm họa siêu bão Katrina tàn phá Mỹ.

32/. Tổng thống đương nhiệm Barack Obama thường thích đọc những bài báo có nội dung phê bình về mình hơn là các bài toàn lời khen ngợi. Ngoài ra, Tổng thống thứ 44 của Mỹ cũng rất thích sưu tập truyện tranh và có thể nói trôi chảy tiếng Tây Ban Nha.

Mai Trung Tín post (theo Phương Đăng)

VŨ KHÍ CỦA ĐÀN BÀ

Bóng hồng làm cựu

Bộ trưởng Quốc phòng Nga mất chức

Chân dung người phụ nữ là trung tâm của vụ bê bối khiến cựu Bộ trưởng Quốc phòng Nga Anatoly Serdyukov mất chức và dẫn đến một cuộc cải tổ lớn trong lực lượng vũ trang nước này lần đầu tiên được tiết lộ.

Bà Yevgeniya Vasilyeva, 33 tuổi, được cho là người tình của ông Anatoly Serdyukov, 50 tuổi, người bị Tổng thống Nga Vladimir Putin cách chức tuần trước. Cơ quan điều tra nhà nước đã phát hiện vụ tham nhũng 60 triệu bảng Anh ở Oboronservis, một công ty thuộc quốc phòng, nơi ông giữ chức chủ tịch hội đồng quản trị cho đến năm ngoái.

Cả ông Serdyukov và bà Vasilyeva, giám đốc của Oboronservis đều không bị buộc tội, nhưng bà là nghi can chính trong vụ việc. Các nhà phân tích ở Moscow cho rằng cựu Bộ trưởng Quốc phòng sẽ sớm bị triệu tập thẩm vấn.

Khi cảnh sát lục soát căn hộ sang trọng của bà Vasilyeva tại thủ đô Moscow tháng trước, họ phát hiện ra ông Serdyukov đang ở trong nhà, theo Life News, hãng tin có mối quan hệ thân thiết với điện Kremlin và các cơ quan thực thi pháp luật.

Các nhà điều tra nhà nước đã thu giữ một số kim cương, ngọc, trang sức, đồ cổ và tiền mặt trị giá lên tới 620.000 bảng Anh.

Trong bức ảnh, bà Vasilyeva, tóc màu vàng, mặc chiếc váy lấp lánh nghiêng về phía người bạn có mái tóc màu hạt dẻ trong một nhà hàng. Người chụp cùng bà trong bức ảnh là bà Yekaterina Smetanova, chuyên gia trước đây làm việc cho Bộ Quốc phòng, người bị buộc tội gian lận vào hôm thứ tư tuần trước trong vụ Obronservis cùng chồng là Maxim Zakutaylo.

Tất cả những người ngày bị cáo buộc giúp đỡ mua bán bất hợp pháp tài sản của Bộ Quốc phòng cho các công ty trực thuộc và bán các tài sản của Bộ với giá thấp hơn nhiều so với thị trường cho các công ty trên để ăn tiền lại quả.

Người ta cho rằng thông tin về mối quan hệ của cựu Bộ trưởng và bà Vasilyeva được ông Viktor Zubkov, bố vợ ông Serdyukov, tiết lộ. ông Zubkov, 71 tuổi, là Chủ tịch đầy quyền lực của Tập đoàn dầu khí Nga Gazprom, đồng minh thân cận của Tổng thống Putin. Ông Zubkov rất có thể tức giận vì cựu Bộ trưởng đối xử ghẻ lạnh với con gái mình là Yulia, 42 tuổi.

Cô Vasilyeva hiện đang trị bệnh trong bệnh viện, song sẽ sớm bị thẩm vấn.

(theo Phan Yến Telegraph)

TT OBAMA

GIẤU VỤ NGOẠI TÌNH

CỦA GIÁM ĐỐC CIA ?

Tổng thống Mỹ Barack Obama đang phải đối mặt cáo buộc liên quan vụ từ chức của Giám đốc CIA David Petraeus : Vụ đại tướng Petraeus quan hệ với gái có chồng được FBI phát hiện mấy tháng trước, nhưng bị ỉm đi do bầu cử ? Nhiều khả năng Quốc hội Mỹ sẽ điều tra cáo buộc rằng, vụ ngoại tình của Giám đốc Cục Tình báo Trung ương (CIA) bị bưng bít để bảo vệ chiến dịch tái tranh cử của Tổng thống Obama.

Nhiều người cho rằng, vụ việc được Cục Điều tra Liên bang (FBI) phát hiện hồi đầu năm, nhưng chỉ được công bố sau ngày bầu cử tổng thống.

FBI bắt đầu điều tra hồi tháng 2 sau khi phát hiện máy tính của tướng Petraeus (60 tuổi) bị một người khác truy cập, dấy lên lo ngại về một lỗ hổng bảo mật lớn. Các điều tra viên tin rằng, người truy cập là người tình của ông Petraeus – bà Paula Broadwell (40 tuổi). Vụ điều tra dẫn tới việc phát hiện hàng trăm thư điện tử có nội dung tình cảm, trong đó có một email ngụ ý việc “quan hệ tình dục dưới gầm bàn”.

Ông Frances Townsend, cựu quan chức an ninh chính phủ Mỹ, nay là thành viên Ủy ban Tư vấn CIA, nhận định : “Mỗi khi FBI mở cuộc điều tra về một quan chức cấp cao, họ phải thông báo về việc đó, đặc biệt khi liên quan lĩnh vực tình báo. Rất khó tin rằng Nhà Trắng không biết việc này trước bầu cử”.

Các quan chức Nhà Trắng luôn khẳng định rằng, chỉ đến hôm 7/11 (một ngày sau ngày bầu cử), Tổng thống Obama mới biết vụ ngoại tình của Giám đốc CIA David Petraeus. Ngày 8/11, ông Obama chấp nhận đơn từ chức của đại tướng Petraeus. Vụ việc được công bố ngày 9/11.

Một số chuyên gia cho rằng, vụ bê bối tình ái chỉ là màn khói để ông Petraeus không phải giải trình trước một ủy ban Thượng viện (dự kiến diễn ra trong tuần này) về việc đại sứ Mỹ và ba nhân viên sứ quán thiệt mạng hồi tháng 9 ở thành phố Benghazi của Libya.

Nhà Trắng bị cáo buộc bỏ qua những cảnh báo liên tiếp về một vụ tấn công khủng bố của Al Qaeda nhằm vào Lãnh sự quán Mỹ ở Benghazi.

Một quan chức trong Quốc hội Mỹ nói : “Việc từ chức rất tiện lợi cho chính quyền. Liệu ông ấy (tướng Petraeus) sẽ tiết lộ rằng, CIA biết tòa nhà lãnh sự ở Benghazi có nguy cơ bị tấn công, nhưng Washington không làm gì để bảo đảm an toàn ?”. Các thành viên của Ủy ban Tình báo Thượng viện có thể vẫn bỏ phiếu buộc ông Petraeus phải giải trình.

Một nguồn tin giấu tên nhận định : “Đây có thể là một vụ Watergate nữa, nhưng không phải là sự kiện khiến tổng thống về vườn mà là về việc bưng bít thông tin”.

Bà mẹ hai con Broadwell, người chuyên viết tiểu sử, bắt đầu quan hệ tình ái với tướng Petraeus (chung sống với vợ là Holly 37 năm qua) từ năm 2010, khi bà gặp ông ở Afghanistan. Thời điểm đó, bà Broadwell đang làm nghiên cứu về tiểu sử. Bà nói, tình cảm của họ nảy nở qua những lần tập chống đẩy và chạy 5 dặm trong sa mạc.

Trong thời gian bà Broadwell phỏng vấn ông Petreaus cho cuốn sách của mình, hai người thường chạy trong vùng đồi núi ở thủ đô Kabul của Afghanistan. “Đó là nền tảng mối quan hệ của chúng tôi”, bà nói. Tuy nhiên, bà nói rằng, quan hệ của hai người bắt đầu khi họ ở Washington. Tướng Petraeus chỉ huy các lượng lượng quân sự Mỹ ở Afghanistan và Iraq trước khi dẫn dắt CIA.

Bà Broadwell nói mình đang nghiên cứu tại Trung tâm Lãnh đạo công của Đại học Harvard, và là nghiên cứu sinh về chính sách công tại Trường King’s College London (Anh). Bà nhận bằng thạc sĩ quản lý cộng đồng từ trường Kennedy thuộc Harvard. Bà Broadwell có bằng về địa chính trị và kỹ thuật hệ thống của Học viện Quân sự Mỹ ở West Point. Tại đây, bà đứng đầu trong lớp về xếp loại thể lực. Hồi học phổ thông, bà là người đọc diễn văn từ biệt trong lễ tốt nghiệp. Bà từng làm người mẫu cho một nhà sản xuất súng máy.

(theo Thái AnDaily Mail, New York Times, AP)

Nguyễn Văn Danh post

NHỚ VỀ NGUYỄN TẤT NHIÊN

NGUYỄN TẤT NHIÊN     

20 NĂM TỪ GIÃ

CÕI HỒNG TRẦN

3/8/1992 -3/8/2012

Đinh Mỹ Chơn là phu nhân Trịnh Đức Phú bạn đồng môn với tôi, anh là CHS.HNC/P2/6067, còn chị là bạn học cùng lớp với nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên, khi đó còn với tên Nguyễn Hoàng Hải, cùng ngồi trên ghế trường công lập Ngô Quyền tại thành phố Biên Hòa. Và hiện nay vợ chồng Trịnh Đức Phú – Đinh Mỹ Chơn vẫn còn sinh sống tại Biên Hòa.

Chị Đinh Mỹ Chơn vừa gửi cho tôi bài viết về “Nguyễn Tất Nhiên 20 Năm Từ Giã Cõi Hồng Trần” của tác giả Diamond Bích-Ngọc; như là một bài tưởng niệm về một nhà thơ trẻ sớm bạc phận. Trang “Hồ Ngọc Cẩn Group” xin trân trọng giới thiệu đến các bạn.

HNCgroup2012

Nhớ Nhiêncựu học sinh Ngô Quyền – Biên Hòa 

 “…Ta phải khổ cho đời ta chết trẻ

Phải ê chề cho tóc bạc với thời-gian

Phải đau theo từng hớp rượu tàn

Phải khép mắt sớm hơn giờ thiên định…”

(Trích trong bài : “Giữa Trần Gian Tuyệt Vọng” – 1972).

Phải chăng là một điềm báo khi thi-sĩ họa bút viết bài thơ này lúc tròn 20 tuổi ? Đúng 20 năm sau anh ra đi từ giã cõi hồng trần : ngày 3 tháng 8, năm 1992… Hưởng dương 40 tuổi. Và hôm nay: 3 tháng 8, năm 2012 ngày giỗ thứ 20 của Nguyễn-Tất-Nhiên đa tài – bạc mệnh; tôi có duyên may viết về anh thay cho lời tạ-ơn thống-thiết; vì thi-sĩ đã để lại cho hàng triệu nhân-sinh những bài thơ tình tuyệt-tác, những dấu ấn thời-gian không bao giờ phai nhạt của một đời người. Từ những ngày khoác áo trắng Trưng-Vương, chúng tôi đã len-lén thầy-cô truyền tay nhau trong giờ học những vần thơ :

“…Em hãy ra bờ sông nhìn nắng trải

Nhớ cho mình dáng dấp một người yêu

(Lỡ dòng đời tóc có điểm muối tiêu

Còn giây phút chạnh lòng như … mới lớn) …

Tình cứ đuổi theo người như chiếc bóng

Người thì không bắt bóng được bao giờ

Anh muốn khóc trong buổi đầu niên học

Bởi yêu em nên sầu khổ dịu dàng.”

(Nên Sầu Khổ Dịu Dàng – 1970) “…

Cô Bắc Kỳ nho nhỏ

tóc “demi-garcon”

chiều đạp xe vô chợ.

mắt như trời bao dung

anh vì mê mải ngó

nên quên thù đám đông !

đời chia muôn nhánh khổ

anh tận gốc gian nan

cửa chùa tuy rộng mở

tà đạo khó nương thân

anh đành xưng quỉ sứ

lãnh đủ ngọn dao trần !

qua giáo đường kiếm Chúa

xin được làm chiên ngoan

Chúa cười rung thánh giá

bảo : đầu ngươi có sừng !

đời chia muôn nhánh khổ

anh tận gốc gian nan…”

(Đám Đông – 1973).

Nguyễn Tất Nhiên sinh ngày 30 tháng 5, năm 1952 tại quận Đức-Tu, tỉnh Biên-Hòa. Gia-đình có bốn người con trai : Nguyễn-Hoàng-Hải (tên thật của Nguyễn-Tất-Nhiên), Nguyễn-Hoàng-Đệ (đã mất thưở nhỏ), Nguyễn-Hoàng-Nam và Nguyễn-Hoàng-Thi (hiện cùng Cha-Mẹ sống ở California. Hoa-Kỳ).

Anh là học-sinh tại trường Ngô-Quyền từ năm 1963-1970. Biên Hòa lúc xưa có hai trường trung-học lớn : tư-thục Khiết-Tâm (của cố linh mục An-Tôn Lê-Hoàng-Yến) và trường công-lập Ngô Quyền.

Theo nguồn từ Link : http://www.tinmoi.vn/tiet-lo-moi-tinh-don-phuong-cua-nha-tho-nguyen-tat-nhien-07987004.html

“… Qua kho tàng thơ Nguyễn Tất Nhiên, người ta biết đến mối tình của thi-sĩ với một cô gái tên Bùi-Thị-Duyên, dân miền Bắc vào định cư trong Nam. Tình yêu này của Hải dành cho Duyên cả trường trung học Ngô-Quyền ai cũng biết.

“…Em nhớ giữ tính tình con gái Bắc

nhớ điêu ngoa nhưng giả bộ ngoan hiền

nhớ dịu dàng nhưng thầm ý khoe khoang

nhớ duyên dáng, ngây thơ…mà xảo quyệt !

ta sẽ nhớ dặn lòng nên tha thiết

nên vội vàng tin tưởng chuyện vu vơ

nên yêu đương bằng khuôn mặt khờ khờ

nên hùng hổ…để đợi giờ thua thiệt !…”

Tình đơn phương hay tình dang dở khiến người ta nghĩ đến nhau nhiều. Những vần thơ đã sống cùng thời gian để rồi người con gái tên Duyên đã thành một biểu tượng và có một vị-trí rất đặc biệt trong thơ Nguyễn-Tất-Nhiên. Bài : “Khúc Buồn Tình – Thà Như Giọt Mưa” (do Hoàng-Thi phổ nhạc sau này)(1) thi-sĩ đã thấy “người từ trăm năm về khơi tình động”. Yêu nhưng không thể đến gần, bởi Duyên cứ cách xa… “trùng trùng gió lộng”.

Một người bạn của Nguyễn Tất Nhiên đã hỏi tại sao lại “Thà Như Giọt Mưa” thì anh trả lời hết sức cắc cớ : “Ai biểu Duyên không yêu tôi thì tôi xin làm giọt mưa… để được khô trên mặt nàng”. “…Thà như giọt mưa vỡ trên mặt Duyên thà như giọt mưa khô trên mặt Duyên để ta nghe thoáng tiếng mưa vội đến những giọt run run ướt ngọn lông măng …. khiến người trăm năm đau khổ ăn năn khiến người tên Duyên đau khổ muôn niên.”

Cô gái xứ Bắc mang tên Bùi-Thị-Duyên ngày nào, nay sống tại Michigan, Hoa Kỳ. Sau này, qua lời kể của những người quen; Duyên đã nhớ lại những kỷ niệm thật đẹp của tuổi học trò áo trắng và tâm-sự rằng : “Tụi này học chung với nhau từ năm đệ tứ. Nhưng lúc đó, tôi ngây thơ chưa nghĩ gì hết, còn Hải nghĩ gì thì tôi không biết. Gặp nhau, biết nhau từ lúc 14, 15 tuổi. Tôi được tặng một quyển thơ nghe nói là có ba bản chính. Một bản của Hải, một bản cho tôi và một bản cho ai tôi quên mất rồi. In ra khoảng chừng 100 quyển thôi. Tôi biết sự hình thành quyển thơ này, tất cả bạn bè trong lớp ai cũng biết, nhưng đó là chuyện hồi nhỏ… Dĩ nhiên là phải xúc động bởi nguyên một quyển thơ viết cho tôi. Nhưng tôi đã nói với anh ấy ngay từ đầu là mình làm bạn thôi ! Nếu có ý gì đó thì tôi không gặp nữa. Về sau Hải phải công nhận là muốn làm bạn, để còn được tiếp tục gặp nhau. Chắc anh ấy cũng quý tôi lắm !”… (ngưng trích).

Âu cũng là một cơ-duyên khi tôi gặp và quen với thân-mẫu cùng bào-đệ của cố thi-sĩ vào năm 1998, trong một buổi thâu hình đại nhạc hội tại Vancouver (Canada) cho “Mây Productions”. Một năm sau đó, tôi về Việt-Nam làm từ-thiện với các Soeur dòng “Nữ-Tử-Bác-Ái” (Daughter of Charity) đã được dịp đến thăm mộ, đốt nhang cầu-nguyện cho Nguyễn-Hoàng-Đệ (em kế Nguyễn-Tất-Nhiên) cùng ghé xem ngôi nhà xưa của cố thi-sĩ tại Biên-Hòa. Sau hôm ấy, tôi tìm đến Nghĩa-Trang Quân-Đội để đọc kinh cầu cho linh-hồn các tử-sĩ Quân-Lực Việt-Nam-Cộng-Hòa; đi giữa những hàng mộ hoang-tàn không nhan, không khói của các chiến-sĩ vô-danh. Chợt nhớ đến bài thơ “Chiều Mệnh Danh Tổ-Quốc” của Nguyễn-Tất-Nhiên mà rơi lệ :

“Người yêu tôi khóc ngất

Chiều quân đội nghĩa trang

Rạt rào hơi gió nóng

Cho đau tà áo tang

Người yêu tôi khóc ngất

Chiều quân đội nghĩa trang

Ngập ngừng hơi xác ướp

Bay pha mùi áo nhang

Người yêu tôi khóc ngất

Trước quan tài sĩ quan

Trước hai chàng lính đứng

Thao diễn nghỉ lạnh lùng

Người yêu tôi khóc ngất

Trung úy thản nhiên cười

Lồng trong khung ảnh đẹp

Dựng sau bình bông tươi

Sự vinh thăng bất ngờ

Là đem theo nước mắt

Là danh dự xót xa

Là một lần đắp mặt

Một lá cờ quốc gia …

Chiều quân đội nghĩa trang

Chiều mệnh danh tổ quốc

Có muôn ngàn câu kinh

Có muôn ngàn tiếng khóc

Có chuyến xe nhà binh

Đưa “Thiên Thần” xuống đất

Còn ai, còn ai chăng ?

Mua cờ bằng tính mệnh

Cho tôi đừng biết tên

Cho tôi đừng nhận diện

Cho tôi đừng chứng kiến

Xác “thiên thần” rã manh

Người yêu tôi khóc ngất

Chiều quân đội nghĩa trang

Vài dặm bụi lang thang ... (1971)

Rồi đến đầu tháng 8 năm 2000, ca-nhạc-sĩ Nguyễn-Hoàng-Thi, Mẹ anh và tôi tổ chức một buổi đi tảo mộ Nguyễn-Tất-Nhiên tại nghĩa-trang Westminster Memorial Park, khu Little Saigon – California. Tôi còn nhớ tự tay mình đã đi mua một ly café đen đá không đường (là thức uống thi-sĩ rất thích lúc sinh thời), một bao thuốc lá và bó hoa huệ trắng đến thăm nơi an nghỉ ngàn thu của anh lần đầu. Tôi đã không cầm được nước mắt khi nghe kể về những năm cuối đời vô cùng nghiệt-ngã, giống y hệt những lời thơ Nguyễn-Tất-Nhiên đã viết trong bài “Hai Hàng Me Đường Gia-Long” – 1973 : “Đời, vốn không nương người thất thế, Thì thôi, ô nhục cũng là danh !”

Trong “Link”: http://chutluulai.net/forums/showthread.php?p=14516 Tác-giả Nguyễn-Mạnh-Trinh ghi nhận rằng: “… Cái bi thiết của một người nuôi nhiều mơ mộng nhưng thực tế lại mênh mông những bóng tối thẳm sâu. Cuộc sống như trải dài từ những nợ này đến nợ khác, để thi sĩ phải tự than thân “Ta mấy kiếp vẫn là ta mắc nợ”. Nợ tình, nợ đời, thành những câu thơ bi thiết, thành những tâm tình đầy dằn vặt thảm thê. Thơ, là nỗi niềm tràn ra từ những lời ân hận, những cấu xé của thâm tâm…

Lạ lùng, thơ như trải ra trước những phận số, nói trước những bi đát trong đời Nguyễn-Tất-Nhiên. Làm thơ trong ngày sinh-nhật của người yêu sắp cưới thành vợ, sao lại có những câu như lời sám hối :

“Khổ đau oằn nặng sinh thời

yêu ai tôi chỉ có lời thở than

có môi hôn trộm vội vàng

khiến em hoảng hốt trong cơn tình đầu

nụ cười giữ được bao lâu

nhân sinh là một dòng sầu miên man

sông dài rồi cũng chia phân

tình bao nhiêu lớn cũng tàn phai thôi

tôi đam mê siết thân người

hay đâu đá tảng đeo đời trăm năm

em gầy guộc, em mong manh

em chưa đủ sức long đong cùng chàng

em ngây thơ đến rỡ ràng

em chưa đủ lượng khoan hồng thứ dung

em tội nghiệp, em tủi thân

Em chưa tự chủ kịp ngăn lệ tràn

lôi người té sấp. Gian nan

lỗi tôi, ừ đó, muôn phần lỗi tôi !”

Khi thành vợ thành chồng rồi hai người ly thân, Nguyễn-Tất-Nhiên buồn bã (vì xa vợ và hai người con trai còn thơ bé) mang đời sống tình cảm của một phận số không may… Những bài thơ của chia ly, nhớ thương và của những nỗi niềm ăn năn thống hối. Như trong bài “Minh Khúc, 90.” Nói lên những não lòng, nỗi niềm bời bời trong tim trong óc. Tôi đọc và vì nghĩ tim mình không phải là gỗ đá nên cũng thấy một phút se long :

“Đường không gian – đã phân ly

đường thời gian – đã một đi không về

những con đường mịt sương che

tôi vô định lái chuyến xe mù đời

cu tí ngủ gục đâu rồi ?

Băng sau, ngoái lại, bời bời nhớ con !

Đường trăm năm – nát tan lòng

Đường ngàn năm – hận, xin đừng trả nhau !

Những con đường cuối năm nào

Cho tôi tìm lại cành đào ba sinh

Khi em lễ mễ với tình

Thắp nhang tạ tội sinh thành con đi

Đường chung đôi – đã chia đời

Đường chia đôi – vẫn hơi người quẩn quanh

Chim đêm hót tiếng đau tình

Đau tim tôi chở lòng thành kiếm em.”

(Westminster, CA, 2.1.1990)

Chiếc xe, có phải là nơi chốn mà chàng thi sĩ thở hơi thở cuối cùng rồi đi vào miên-viễn. Nơi đó, trong một phút thảng thốt, nhìn lại băng sau để thấy “bời bời nhớ con”. Cũng chiếc xe ấy, đã có lúc chung đường chung đôi mà bây giờ thì chia đời … vạn dặm… Nguyễn Tất Nhiên, muôn thuở vẫn là một người xa lạ với cuộc sống dưới đất và gần gũi với trăng sao trên trời. Và, cũng phải có một lúc, để trở về với nơi chốn thân quen, mà bất hạnh cũng nở hoa kết trái giống như hạnh phúc. Cái kinh nghiệm khổ đau của kiếp người có phải là một ấn chứng để tâm hồn vượt lên trên bão dông, để ngôn ngữ yêu nhau vẫn còn dù đã nhiều nghịch cảnh.

Theo tôi, Nguyễn Tất Nhiên là một thi sĩ thực sự mang đời sống mình làm ví dụ cho một trường hợp của khoan dung và từ ái ?…” (Ngưng trích).

Ngày 7 tháng 8, năm 1992. Bốn ngày sau khi Nguyễn-Tất-Nhiên lìa đời nơi sân chùa Việt-Nam (đường Magnolia, thành-phố Garden Grove. California). Ký-giả Lily Dizon của nhật báo Los Angeles đã đăng bài tường-trình trong trang tin địa-phương với nhan đề : “Popular Local Poet Nhien Tat Nguyen Dead : Obituary: His melancholic Vietnamese verse intertwined religion and romantic love. An apparent suicide ends a poor and painful life.”

Link: http://articles.latimes.com/1992-08-07/local/me-4915_1_romantic-love

Nguyễn-Tất-Nhiên sau những năm tháng dài lang thang như kẻ Homeless không cửa, không nhà; (trên xe anh lúc nào cũng có những bịch khoai tây sống để khi đói thì dùng). Ngày 3 tháng 8, 1992 Nguyễn-Tất-Nhiên đã tự chọn cho mình một phương cách rời bỏ loài người cùng cuộc đời ô-trọc : “Mỗi một người một lý lẽ bất an, Mỗi cái chết có một hình thức khác… 20 năm rồi, chàng đã về cùng bụi cát trùng khơi, mà sao những lời thơ còn vương vấn mãi cõi dương-trần, để người đời như tôi mỗi lần nhớ tới thơ anh phải bàng-hoàng, phải thống-khổ, cảm-nhận đến tận cùng nỗi cam-chịu của một kiếp người :

“Sớt Cho Ai Một Chút Buồn.

Sao Ta Không Nỡ Nên Thầm Cạn Ly”. “…

Sao thiên thu không là thiên thu ?

nên những người yêu là những ngôi mồ

tôi đứng một mình trong nghĩa địa

và chắc không đành quên khổ đau !…”

(Thiên-Thu – 1970)

Chiều nay, lang thang trên hè phố xứ người. Tôi thấy tim mình bỗng nhớ quắt-quay; nhớ thơ tình Nguyễn-Tất-Nhiên, nhớ anh Nguyễn-Hoàng-Hải; dù chưa bao giờ được diện-kiến thi-sĩ trong đời : “…Cây xanh nói với lòng đường, Mỗi khi vắng bóng ta thường nhớ nhau. . .” Xin mượn bài thơ “Minh Khúc 9” của chính anh để tặng cho tất-cả những ai đã, đang hoặc chưa từng biết về cố thi-sĩ Nguyễn-Tất-Nhiên :

“Đong tình đong nghĩa cho nhau

Trái tim nhân loại dù sao cũng còn

Đâu đây, đâu đó bên đường

Có thêm một tấm lòng thương tấm lòng

Nợ đời trả kiếp chưa xong

Ai đem đổ biển đổ sông nợ tình

Cho nhau nhiều ít chân thành

Cũng như hương hỏa ba sinh

vẫn còn Sẻ chia khúc ruột đoạn trường

Kẻo vua Lê trách chàng Trương phũ phàng

Nợ đời trả chút văn chương

Nợ tình, ừ, trả con đường em đi

Sống không trách móc không về

Qua sao trách bậu lỗi nghì trúc mai

Chỉ xin sợi vắn sợi dài

tóc mai nhắn gió thương hoài ngàn năm

bữa qua qua bỗng đau lòng

nhớ hôm bậu hát bài đừng xa nhau..”

(Westminster, CA 27 tháng 4, năm 1990).

Đinh Mỹ Chơn – CHS Ngô quyền – Biên Hòa

(chuyển tiếp từ Diamond Bích-Ngọc).

(1)/- có lẽ người viết sai tên người nhạc sĩ đã phổ nhạc “Thà như giọt mưa” là Phạm Duy. Hoặc sau này có thêm nhạc sĩ Hoàng Thi cũng phổ nhạc bài thơ này ?

MỘT TÀI DANH

SỚM BẠC MỆNH

– Bài Nguyễn Việt

– Bài này tôi đã post vào ngày 13/9/2009 trên trang “Văn Nghệ Người Sài Gòn” qua đường dẫn http://my.opera.com/khaisang2002  hoặc bấm vào đường link sau đây :

Nhà thơ NGUYỄN TẤT NHIÊN

Người chủ trương trang blog “Văn nghệ người Sài Gòn” đã đón nhận được nhiều phản hồi từ người đọc blog, đề nghị tôi viết về nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên, một người làm thơ được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc rất nhiều. Những nhạc phẩm phổ thơ Nguyễn Tất Nhiên từng cuốn hút giới trẻ thời gian trước những năm 1975, như : “Em Hiền Như Ma Soeur”, “Thà Như Giọt Mưa”, “Hai Năm Tình Lận Ðận”, “Cô Bắc Kỳ Nho Nhỏ”, “Vì tôi là linh mục” v.v…

Đồng thời quanh nhà thơ khi sống và lúc chết đã để lại nhiều tranh cãi, Nguyễn Tất Nhiên có phải là một nhà thơ điên như một Bùi Giáng, hoặc cái chết của anh do ngẫu nhiên hay là tự tử ? Và còn nhắc nhở ngày Nguyễn Tất Nhiên qua đời (3 tháng 8 năm 1992) như để tưởng niệm 17 năm ngày anh mất.

Bây giờ tuy có trễ tràng, vì đã quá ngày giỗ 17 năm của nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên, nhưng nên có một bài viết về anh theo như yêu cầu, vì anh cũng là một người của “Văn nghệ người Sài Gòn” xưa.

Một chút tiểu sử.

Tất Nhiên tên thật là Lê Hoàng Hải, sinh ngày 30 tháng 5 năm 1952 tại quận Đức Tu, tỉnh Biên Hòa và mất ngày 3 tháng 8 năm 1992 tại California.

Thời thanh niên, Nguyễn Tất Nhiên theo học trường trung học Ngô Quyền (Biên Hòa) từ năm 1963 cho tới năm 1970.

Lúc vừa lên trung học đệ nhất cấp, anh đã làm thơ. Và theo lời những người bạn cùng trường, thơ anh rất hay. Lúc đó Nguyễn Tất Nhiên thành lập thi văn đoàn cùng với Đinh Thiên Phương. Cả hai cùng xuất bản tập thơ đầu tay “Nàng thơ trong mắt” vào năm 1966, khi đó anh mới được 14 tuổi. Trong tập thơ nầy Nguyễn Tất Nhiên lấy bút hiệu Hoài Thi Yên Thi. Khi còn học ở trường anh từng là Trưởng Ban Báo Chí. Còn với tập thơ mang tựa “Thiên Tai” (1970) do chính anh xuất bản, lúc bấy giờ anh mới 18 tuổi, là một tập thơ đánh dấu một khúc quanh quan trọng trong sự nghiệp thi ca sau này.

Tuy nhiên sự nghiệp thi ca của Nguyễn Tất Nhiên trong thời gian đầu không mấy thành công. Mọi người khi đọc thơ Nguyễn Tất Nhiên và biết về anh, nhận thấy trong anh có tính tình hơi kỳ quặc, mơ mơ mộng mộng như người cõi trên, thích làm thơ ở mọi nơi, mọi lúc. Tương truyền, có một buổi sáng Nguyễn Tất Nhiên đứng giữa ngã tư ở Biên Hòa như chổ không người, bỏ tay trong túi quần nhìn lên trời như đang mơ mộng điều gì hoặc đang có thi hứng làm thơ.

Cũng vào thời còn học sinh, thơ được anh cho in ronéo tặng không, nhất là cho các nữ sinh đều bị các nàng quăng vào thùng rác. Còn việc học hành không được xuất sắc, nên bạn bè hay gọi anh là “Hải khùng“ hay “Hải Ngố“… Và những tập thơ được gửi bán trong các tiệm sách trong thành phố Biên Hòa vẩn ế ẩm, không bán được.
Cho đến khi thơ Nguyễn Tất Nhiên được một số người đỡ đầu gửi đăng trên tạp chí Sáng tạo của Mai Thảo, rồi Phạm Duy, Nguyễn Đức Quang lấy đó phổ nhạc, anh mới bắt đầu thành danh.

Nhạc sĩ đầu tiên biết đến thơ Nguyễn Tất Nhiên là Nguyễn Ðức Quang, có lần người nhạc sĩ này tâm sự, “Những bài thơ của cậu học trò quần xanh áo trắng ấy đã làm tôi bàng hoàng vì tính chất mới lạ của nó. Tôi có cảm hứng ngay và phổ thành bài “Vì Tôi Là Linh Mục” thật nhanh chóng. Cho tới bây giờ, đó vẫn là một trong những bài nhạc mà tôi rất thích”.

Rồi từ năm 1972, nhạc sĩ Phạm Duy – người có tài trong việc phổ thơ thành nhạc – đã phổ nhiều thơ của Nguyễn Tất Nhiên. Như các bài “Em Hiền Như Ma Soeur”, “Thà Như Giọt Mưa”, “Hai Năm Tình Lận Ðận”, “Cô Bắc Kỳ Nho Nhỏ”… đưa tên tuổi anh trở thành một nhà thơ có tiếng trên văn đàn thi ca.

Ai đã từng sống ở Sài Gòn vào thời đó mà chưa từng nghe qua những câu hát “thà như giọt mưa, vỡ trên tượng đá”, hay “đưa em về dưới mưa, nói năng chi cũng thừa”, hoặc “này cô em Bắc Kỳ nho nhỏ, tóc demi-garcon”… mới biết có nhà thơ mang tên Nguyễn Tất Nhiên, vì thấy tâm hồn thi ca của anh thật trữ tình, lãng mạn và rất dạt dào tình cảm.

Vào khoảng năm 1972, Nguyễn Tất Nhiên nhận được giấy gọi nhập ngũ, tuy nhiên mới vào Trung Tâm 3 tức quân trường Quang Trung, anh đã được cho về vì lý do có bệnh “tâm thần bất ổn”.

Năm 1978, Nguyễn Tất Nhiên vượt biên và định cư tại Pháp. Tại đây, nhà xuất bản Sud-Asie đã ấn hành tập “Thơ Nguyễn Tất Nhiên” gồm những bài từ tập “Thiên Tai” và những bài thơ sáng tác từ 1970 đến 1980. Sau đó, anh sang Mỹ, sáng tác thơ và nhạc, cho ra đời băng nhạc “Tình Khúc Nguyễn Tất Nhiên” và lần lượt những tập thơ “Chuông Mơ” (1987), “Tâm Dung” (1989). Cho tới giờ này, các nhà sách cho biết “Thơ Nguyễn Tất Nhiên” vẫn là một trong số những cuốn thơ bán chạy nhất, bên cạnh thơ Xuân Diệu, Huy Cận, Ðinh Hùng, Nguyên Sa, Du Tử Lê…

Sau anh lấy vợ có tên Minh Thủy và có 2 đứa con trai.

Ngày 3 tháng 8 năm 1992, tức vừa qua sinh nhật lần thứ 40, người ta thấy Nguyễn Tất Nhiên nằm chết trong một chiếc xe hơi cũ, đậu dưới bóng cây trong sân chùa tại California. Nhưng có dư luận cho rằng anh đã treo cổ tự tử tại đây.

Nhiều người cho rằng cái chết của Nguyễn Tất Nhiên không hoàn toàn do khách quan, lý do anh từng có bệnh “tâm thần”, từng được hoãn dịch vì lý do “tâm thần bất ổn”, còn theo nhạc sĩ Phạm Duy cho biết, Nguyễn Tất Nhiên đã có thời gian phải vào nằm trong Dưỡng Trí Viện Biên Hòa (thường được gọi nhà thương điên Biên Hòa) để trị bệnh. Nên mọi người cho rằng anh treo cổ tự tử là đúng hơn.

Hiện nay mộ nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên nằm trong Vườn Vĩnh Cửu trong nghĩa trang Westminster phía tây Little Saigon, bang California. Rất thường xuyên có những du khách khi đến thăm khu Bolsa Little Saigon đều có ghé ngang thăm mộ anh. Trên đó có tấm bia được khắc bốn câu thơ :

Ta phải khổ cho đời ta chết trẻ

Phải ê chề cho tóc bạc với thời gian

Phải đau theo từng hớp rượu tàn

Phải khép mắt sớm hơn giờ thiên định.

Đây là bốn câu thơ tiền định trích trong bài “Giữa trần gian tuyệt vọng” của Nguyễn Tất Nhiên làm vào năm 1972, lúc anh mới 20 tuổi. Nhiều người so sánh Nguyễn Tất Nhiên với họa sĩ Van Gogh, cả hai cũng mang bệnh tâm thần và cùng ra đi khi tuổi đời 40 còn quá trẻ với một đời người.

Mộng ảo thành thơ

Hồi còn học Ngô Quyền, bấy giờ Nguyễn Tất Nhiên có quen một cô gái Bắc tên Duyên, nhưng tình cảm giữa hai người chẳng đi đến đâu vì tính “man man” lừng khừng của anh.

Nhưng cô gái Bắc Kỳ tên Duyên này lại là nguồn cảm hứng bất tận cho chàng thi sĩ trẻ, anh sáng tác khá nhiều thơ như Khúc tình buồn, hay các bài Cô Bắc Kỳ nho nhỏ, Linh mục, Em hiền như ma sơ. Với những ý tưởng kỳ lạ : Người yêu là dao nhọn (trong bài Khúc buồn tình), là tín đồ duy nhất : “Tín đồ là người tình, người tình là ác quỷ, ác quỷ đầy quyền năng”, còn tôi “là linh mục, giảng lời tình nhân gian”, một cách ẩn dụ táo bạo để nói về tình cảm âu yếm trong đau khổ, hay lạc quan trong bi thiết của tình yêu. Vì Duyên là người có đạo, và Biên Hoà có một nhà thờ lớn nằm bên trong trường Khiết Tâm.

Những buổi sáng hay trưa, Nguyễn Tất Nhiên thường ngồi trong quán cafe mang tên Quán Tuyệt, nằm dọc theo quốc lộ 1, để nhìn Duyên đi nhà thờ, để rồi có bài Linh Mục.

Và mối tình vô vọng giữa anh với Duyên, với nỗi đam mê, niềm đau khổ trong tương tư, thất tình, đã được anh thể hiện qua nhiều bài thơ tình rất lãng mạn. Theo lời kể của một nhà thơ : “hồi chưa nổi tiếng, trời đang nắng chang chang mà anh ta ưa mặc cái manteau mua ở khu Dân sinh, mồ hôi nhễ nhại, đạp xe đạp đi cua cô em Bắc Kỳ nho nhỏ tên Duyên…” Thế mới biết mối tình si có thể làm một con người thất tình trở thành một thi sĩ lớn.

Tác phẩm đã in :

– Nàng thơ trong mắt (thơ, Biên Hòa, 1966, cùng với Đinh Thiên Phương)

– Dấu mưa qua đất (thơ, Biên Hòa, 1968, cùng với bút đoàn Tiếng Tâm Tình)

– Thiên Tai (Thơ, 1970)

– Thơ Nguyễn Tất Nhiên (thơ góp nhặt từ 1969-1980, nhà xuất bản Nam Á – Paris in lần đầu tiên năm 1980)

– Những năm tình lận đận (tập nhạc 1977-1984, nhà xuất bản Tiếng Hoài Nam, Mỹ, 1984)

– Chuông mơ (Thơ từ năm 1972-1987, nhà xuất bản Văn Nghệ – California, 1987)

– Tâm Dung (thơ, Người Việt 1989)

Ngoài sáng tác thơ, Nguyễn Tất Nhiên còn viết một số bài nhạc, nổi tiếng trong số đó là bài Chiều trên đường Hồng Thập Tự.

Nguyễn Việt

LÝ TOÉT – XàXỆ

ĐI TÌM GỐC GÁC

LÝ TOÉT – XÃ XỆ

– Phạm Thảo Nguyên

LTS. Người ta biết nhiều đến Nhất Linh như một nhà văn thủ lĩnh nhóm Tự Lực Văn đoàn, người đã cùng các bạn văn tạo ra một cuộc cách mạng trong văn chương và ngôn ngữ Việt Nam những năm 30 của thế kỷ trước, mà ảnh hưởng còn sâu rộng cho tới bây giờ. Nhưng có lẽ ít người biết hơn, tờ tuần báo mà ông làm làm chủ bút, tờ Phong Hoá (và hậu thân của nó là tờ Ngày Nay), nơi quy tụ các cây bút của TLVĐ và bè bạn, cũng là tờ báo trào phúng đầu tiên của nước ta. Mục đích này của báo được quảng bá lần đầu trong Phong Hoá số 13 (số cuối cùng do ông Phạm Hữu Ninh, người sáng lập báo điều khiển, sau đó bán lại cho Nhất Linh) : Bàn một cách vui về các vấn đề cần thiết – Xã hội, chính trị, kinh tế – nói rõ về hiện tình trong nước.

Hai “nhân vật” chủ chốt của biếm hoạ Việt Nam chính cũng được sinh ra trên các trang báo Phong Hoá và từ đó đi vào văn học, vào đời sống thường ngày của người Việt : Lý Toét và Xã Xệ. Nhất Linh, dưới tên hoạ sĩ Đông Sơn, chính là cha đẻ của Lý Toét. Nhân kỉ niệm lần thứ 49 ngày ông qua đời (7/7/1963 – 7/7/2012), Diễn Đàn trân trọng giới thiệu với bạn đọc bài biên khảo dưới đây của tác giả Phạm Thảo Nguyên, cùng với bài của Nguyễn Tường Thiết về cái chết của ông và của Thái Kim Lan, hồi ức về cuộc tiễn đưa nhà văn của nhân dân Huế.

Cùng với cụm ba bài viết này, chúng tôi cũng vui mừng thông báo với bạn đọc, hai tờ Phong Hoá và Ngày Nay đã được một nhóm bạn tâm huyết với TLVĐ (trong đó có chị Phạm Thảo Nguyên) số hoá hoàn toàn, và sẽ được công bố trên mạng từ ngày 22/9 năm nay, kỷ niệm 80 năm ngày tờ Phong Hoá ra số đầu tiên dưới quyền điều khiển của chủ bút Nhất Linh (số 14, ra ngày 22/9/.1932). Chi tiết sẽ được thông báo

Lý Toét

Họa sĩ Đông Sơn vẽ ra Lý Toét vào đầu thập niên 1930, và tờ báo đầu tiên đăng tranh Lý Toét, là Phong Hóa. Đó là hai điểm chính, về cụ Lý được dân chúng yêu chuộng đặc biệt từ gần tám chục năm nay. Tìm đọc lại báo Ngày Nay Xuân 1940, cũ, mới biết Nhất Linh có giải thích rõ ràng chi tiết về lý lịch của cụ, trong bài viết “Lịch sử Lý Toét…”, Báo Xuân Ngày Nay 1940, tóm tắt như sau : tên Lý Toét ra đời trước, rồi hình người Lý Toét mới ra đời sau.

Năm 1930, trong báo Tứ Dân, người đẻ ra “tên-Lý Toét” lại là Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu (chuyên viên thơ trào phúng của Tự Lực Văn Đoàn), từ “đẻ ra” sáng tác bởi Nhất Linh. Họa sĩ Đông Sơn và bà Phụ Nữ Thời Đàm đẻ ra “hình-Lý Toét” sau. Sự tích là : Đông Sơn một hôm đang xem báo Phụ Nữ, vẽ nghịch một ngườì nhà quê, thấy hay hay nên xé ra vứt vào ô kéo, chưa biết để làm gì. “Quý vị ơi ! Nhìn hình dưới đây đi ! Nó đấy, chính nó đấy, mảnh giấy nhật trình có chân dung “thủy tổ” của tất cả các Lý Toét sau này đấy !” :

Đúng là không có bà Phụ Nữ Thời Đàm thì không có Lý Toét, Nhất Linh nói chí lý thật ! Trên bức hình đó Lý Toét trẻ hơn sau này nhiều, đã được mặc áo dài khăn đóng, như mọi cụ già thời đó. Lại có đủ cả râu ria, búi tóc, cụ xách thêm đôi dép da gia định và cắp cái ô đen: Cá tính được định hình. Cụ thường xách dép lên, đi đất, vì ngại chóng hỏng đôi dép cũ. Cái ô cũng ít khi mở ra, cụ để dành đánh chó và đeo lên vai cho oai. Nhưng chúng cũng làm khổ cụ, vì cứ bị tụi trộm nhỏ nhít đặt vào tầm ngắm, quấy phá luôn luôn. Nào dép, nào ô, nào khăn cứ bị trộm rình!

Chắc các bạn còn nhớ: Bắt đầu từ Phong Hóa số 14, ra ngày 2 tháng 9/1932 chủ bút mới là Nguyễn Tường Tam. Cùng các em là Hoàng Đạo Nguyễn Tường Long và các bạn như Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu, Khái Hưng Trần Khánh Giư… mới phụ trách tờ Phong Hóa. Ngay trong số 14 này, ta bắt gặp Đông Sơn đưa hình cụ (chưa có tên) về Hà Nội trên một chuyến xe đò đông như nêm cối. Các bạn có nhìn thấy cụ ngồi trên mui xe ngay trên đầu tài xế đó không ? Họa sĩ Đông Sơn thật hóm, giấu kỹ chẳng cho ai biết tin gì cả ! Nhưng lòi đuôi ! Tuy nhiên, rất có thể chính ông cũng không biết là mình đã cho cụ về thành hôm đó, trên chiếc xe đò đó ! (Mà này, nhỡ ông vẽ mà không biết là có cụ trốn trên mui đó thì oan cho ông nhỉ !?)

Nhất Linh còn kể là Lý Toét ra mắt độc giả ngay từ số Phong Hóa 14, nhưng còn ngơ ngác vì chưa có tên. Sau đó Đông Sơn dính thêm cái tên Lý Toét vào hình vẽ, thế là Phong Hóa có trong tay một nhân vật hý họa hoàn chỉnh. Lý Toét nom thật có duyên : Nguyễn văn Lý Toét là người Việt Nam.

Lần đầu tiên Tứ Ly đem Lý Toét-tên (không có hình), lên báo Phong Hóa trong số 35, trong bài viết “Cuộc Chợ Phiên của Phong Hóa tổ chức”. Lúc đó, Lý Toét-hình, không tên, chỉ dùng để trang trí cho mục Vui Cười mà thôi.

Tới số 48, năm 1933, Phong Hóa có tranh “Lý Toét ra tỉnh” thứ nhất. Đó là lần đầu cụ Lý có đủ tên+hình, cùng cái dáng lom khom hay đặt câu hỏi lạ lung.

Thế rồi tới Phong Hóa số 59, bức vẽ “Lý Toét ra tỉnh” thứ hai, do Đông Sơn vẽ (ký tên chữ nho) chiếm ngay trang bìa : Lý Toét lẩm bẩm : Quái ! người ta chôn ai mà đào dài vậy ??

Đông Sơn Nhất Linh biết rằng nhân vật này sẽ chinh phục độc giả toàn quốc ! Quả như vậy, Lý Toét đã làm mưa làm gió trên văn đàn nước ta trong suốt thập niên 1930. Trước hết, về cá nhân Lý Toét, tính chất tổng quát được mọi người cùng chấp nhận bất thành văn, là : Lý Toét là một ông già nhà quê, có chức phận trong làng, chức Lý trưởng, nên được goi là Lý, mắt bị bệnh đau-mắt-hột từ bé, thành ra nó cứ kèm nhèm, như viền vải tây đỏ, ta gọi là mắt toét. Nhập hai chữ Lý và Toét vào nhau thành tên luôn, chứ Lý Toét không phải là tên cúng cơm, bố mẹ đặt cho.

Lý Toét nghèo, sống ở thôn quê, chưa từng được thấy những thứ văn minh ngoài phố do người Pháp mang lại. Lý biết đọc chữ quốc ngữ, biết ít chữ nôm, chữ nho, nhưng không hiểu tiếng Pháp, nên có nhiều phen không thông về chữ nghĩa, nhầm chữ nọ sang chữ kia tí chút. Vì nghèo nên Lý Toét tham ăn, lại nghiện rượu, nên ích kỷ, chỉ muốn mình được phần to, thêm nữa, không hiểu gì về vệ sinh, ăn ở dơ bẩn, nên cả tin, sợ hãi đủ mọi thứ. Lý Toét rât mê tín, thờ đủ mọi loại thần thánh, từ con cóc sành trên bể nước ngoài vườn hoa, đến con hổ sống trong chuồng Vườn Bách Thú…

Vợ con ở quê rất lếch thếch. Lý Toét có một cô con gái lớn tên là Ba Vành, cô này xưa bỏ nhà ra đi, rồi lấy tây. Thỉnh thoảng cụ Lý có xuống vùng mỏ thăm con gái, báo Xuân Phong Hóa, số 85 tường thuật thế. Cô có con, thỉnh thoảng con bị sài đẹn cũng mang vào bệnh viện chữa, làm cụ Lý đi tìm thăm thật khốn khổ. Phong Hóa có tranh chân dung của cô, cô mặc áo tân thời, nom cũng đẹp ra phết (khi trước còn ở dưới quê thì vẫn vận áo tứ thân).

Nhân vật ảo Lý Toét với đầy đủ tính cách như vậy, được họa sĩ Đông Sơn sáng tác ra. Nhưng cha đẻ của Lý Toét đã rất hào phóng không giữ tác phẩm cho riêng mình, mà rủ tất cả mọi người cùng tham dự vẽ Lý Toét ! Do đó, cùng với Đông Sơn Nhất Linh, các họa sĩ của Phong Hóa nhẩy vào vẽ Lý Toét với đầy hứng thú trong các tranh vui của báo Phong Hóa. Thế là : Cuộc Vui “Vẽ Lý Toét” bắt đầu !

Mỗi họa sĩ anh tài của Phong Hóa vẽ ra một Lý Toét dung mạo khác hẳn nhau, nhưng cùng tính cách, vẫn nhận ra được. Độc giả có thể ngắm các Lý Toét khác nhau trong hình trên của các họa sĩ Đông Sơn, Nhất Sách, Tô Tử tức Ái Mỹ Tô Ngọc Vân, Lemur tức Nguyễn Cát Tường, Bloc tức Trần Bình Lộc, Ngym tức Ngạc Mai tức Trần Quang Trân, Trần An….

Nhân vật Lý Toét với rất nhiều tranh chân dung đó, đã nổi lên vững vàng thân ái như một vì sao mới mọc trong lòng độc giả báo Phong Hóa. Sau này có thêm danh họa Nguyễn Gia Trí (lúc đó mới ra trường) tức Rigt, tức Gtri, cùng nhiều người khác, kể cả Lê Ta Thế Lữ cùng vẽ chân dung Lý Toét (vẽ chữ số thành hình cụ Lý).

Xã Xệ

Nhưng ngắm tranh Lý Toét lâu, ta thấy cụ có vẻ hơi… cô độc, thiếu bạn. Và việc phải đến, đã đến : Xã Xệ xuất hiện. Nhất Linh gọi đó là do tự nhiên phải thế. Xã Xệ là một nhân vật bằng vai phải lứa với Lý Toét. Xã Xệ béo ịt, thấp lè tè, đầu trọc lông lốc, còn độc một sơi tóc quăn xoắn ốc trên đỉnh. Hình ảnh Xã Xệ hoàn toàn đối chọi với Lý Toét gầy đét và cao lênh khênh. Xã ra đời để đấu láo với Lý, cãi chầy cãi cối với Lý, chung buồn chung vui với Lý… Ngớ ngẩn, lẩn thẩn sống cuộc đời mới của dân nô lệ mất nước, dưới sự bảo hộ của mẫu quốc Phờ Lăng Xa cùng Lý.

Cha đẻ của Xã Xệ là họa sĩ Bút Sơn, từ Saigon gửi tranh vẽ ra Hà Nội. Tôi nghĩ vị này là một độc giả yêu quý Phong Hóa, nên tạo ra nhân vật Xã Xệ đối kháng với Lý Toét. Ông lấy hiệu Bút Sơn để nhái Đông Sơn. Nhưng Nhất Linh đến tận khi mất, vẫn chưa biết tên thật của Bút Sơn. Trên tờ di cảo “Đời làm báo” ghi tất cả tên và bút hiệu các cộng sự viên, trong cũng như ngoài Tự Lực Văn Đoàn, Nhất Linh có hàng chữ sau : “Bút Sơn ở Saigon (Người đẻ ra Xã Xệ), tên thật chưa biết. Xin ông Bút Sơn (nếu ông còn sống) hoặc các bạn, cho biết tên thật”.

Hiện nay chúng tôi được biết tên thật họa sĩ Bút Sơn là Lê Minh Đức. “Theo nhà báo nhà thơ trào phúng Tú Kềnh viết trên Báo Bình Minh Xuân Mậu Thân 1968 xuất bản ở Saigon thì : Vào năm 1936 báo Phong Hóa, nhóm Tự Lực Văn Ðoàn, ở Hà Nội, có tổ chức cuộc thi vẽ tranh hài hước, họa sĩ chuyên vẽ tranh hài hước Bút Sơn Lê Minh Ðức ở Saigòn vẽ một bức tranh gửi ra Bắc dự thi” (1).

Thật ra, lần đầu tiên Xã Xệ xuất hiện trong tranh Bút Sơn là ngày 16/3/1934, trên báo Phong Hóa số 89. Xã Xệ đã được đón tiếp thật nồng hậu. Xã cùng Lý lên ngay trang bìa của báo. Một bức tranh trên Phong Hóa, Xã Xệ ra mắt toàn dân An Nam, cõi Đông Pháp, với lối lý luận hạng nhất :

Lý Toét : Thế này là nhất cử lưỡng tiện. Cân một lần hai đứa rồi chia hai ra thì cũng được chứ lị !

Vậy là báo Phong Hóa đã tạo dựng được cặp đôi hý họa Lý Toét, Xã Xệ, mang rất nhiều “đặc tính dân tộc”, đi vào lịch sử văn học Việt Nam.

Tranh Lý Toét Xã Xệ không của riêng ai, thật là thú vị. Mỗi bức tranh có khi là một tấm, có khi là một loạt nhiều tấm như phim hoạt họa, với lời chú giải ngắn gọn hoặc vài câu thoại, chính là một câu chuyện nhỏ, nhiều khi rất thâm trầm, nhiều khi mộc mạc…. Ai có một vài ý nghĩ chủ đạo là có thể vẽ ra một tranh hay, nếu không biết vẽ thì viết thành truyện cười Lý Toét cũng không kém phần dí dỏm.

Trong khi đó, nhờ những cuộc thi tranh khôi hài của Phong Hóa, nhiều họa sĩ bên ngoài tòa soạn đã tới vẽ cho Phong Hóa như NG9, HKB, DLAN, Trần An, 2TTG, Mạnh Quỳnh…. và rất nhiều người không chuyên cũng vẽ. Thêm nữa, các họa sĩ còn mang hình ảnh Lý Toét Xã Xệ phổ biến, nhân rộng ra khắp các báo thời bấy giờ, từ ngoài Bắc tới trong Trung, trong Nam. Họa sĩ thích vẽ, người thường thích kể chuyện, báo nào có Lý Xã thì có nhiều người đọc. Đến nỗi cặp đôi này đã trở thành những nhân vật để quảng cáo ! Có những bài quảng cáo thuốc, quảng cáo rượu của Lý Toét … đăng ngay trên Phong Hóa, Ngày Nay rất nhiều lần.

Để cạnh tranh, báo Thanh Niên số #2, ra ngày 27/1/34 cho ra đời “Xã Dù”một anh em họ hàng với Lý Toét. Nhưng tiếng tăm của Xã Dù quá lu mờ, nay không ai còn biết, nhớ đến (bài Cuộc Điểm Báo, Phong Hóa số 84).

Như vậy là Đông Sơn Nhất Linh đã dựng ra được một phong trào có vô số họa sĩ trong, ngoài tòa báo, cùng độc giả “dấn thân”, đua nhau sáng tác ra vô số tranh Lý Toét Xã Xệ kể chuyện vui đùa !

Còn gì thú vị hơn !

Từ đó, Lý Toét Xã Xệ xuất hiện đều đặn trên báo Phong Hóa và Ngày Nay, qua những truyện vui lý sự cù nhầy. Thỉnh thoảng Lý Toét có bài viết riêng như “Điều thỉnh cầu của Lý Toét” (Phong Hóa số 68), bài thơ Vợ Lý Toét Khuyên Chồng, trong mục Dòng Nước Ngược, thơ trào phúng của Tú Mỡ, rồi Lý Toét Trả Lời, Lý Sự Cùn viết…

Lâu lâu báo có đăng Lý Toét Phú, Xã Xệ Phú, Ván Cờ Lý Toét, cả Văn Tế Lý Toét (của Đỗ Đức Thu, làm trước, phòng khi…), …

Nhưng nhiều nhất, được chú ý nhất, vẫn là những bức tranh Lý Toét Xã Xệ, với những cảnh trông thấy, gặp thấy trên tỉnh. Có nhiều kỳ báo Phong Hóa, Ngày Nay có cả năm, bảy tranh Lý Xã trên cùng một số báo. Tranh nào cũng kể những chuyện ngây ngô, những suy nghĩ, suy luận chéo cẳng ngỗng, những hiểu lầm về ngôn ngữ tây ta tầu… Những câu chuyện vui vu vơ, vô tội này, ngày một lan rộng, ngày một thu hút. Những tính tình xấu xí, gàn bướng, cù nhầy, đáng cười… của người đời được diễn tả, phô bầy dưới hình thức khôi hài rất duyên, rất khéo… Trong đó, Lý, Xã rất “nghệ”, với những phản ứng không giống ai, diễn tả được biết bao khía cạnh khác nhau của cuộc sống…. Quý vị độc giả đừng tưởng hai cụ nhà quê này luôn luôn khù khờ, trái lại, có khi rất láu đấy ! Và trong nhiều tranh các cụ lý luận hay đáo để! mời các bạn xem tranh Lý toét trả lời quan tòa Tây :

Khi Lý Toét phải ra tòa trả lời tội gửi thư với tem đã đóng dấu. Cụ Lý trả lời : “Lần nào nhận thư của con gái, là cô Ba Vành, gửi về cũng thấy tem đã đóng dấu”.

Đúng quá chứ!

Cặp bài trùng Lý Xã của Phong Hóa Ngày Nay dần dần trở nên vô cùng nổi tiếng, được sự ủng hộ triệt để của quốc dân, từ trẻ con tới người lớn. Người coi tranh, mê tranh mỗi ngày một nhiều, tạo ra một hiện tượng xã hội chưa từng có. Năm 1933, Georges Mignon, trong Nụ Cười Tân Á, khen ngợi Lý Toét của Phong Hóa (2). Và năm 2007, tại Mỹ có bài nghiên cứu của George Dutton : Lý Toét in the City (3),.. Còn ở Việt Nam thì tới ngày nay vẫn có lai rai bài viết, khảo cứu, kịch, chèo… về Lý Toét.

Ròng rã từ 1932 tới cuối năm 1940, tranh Lý Toét là những cú đâm xầm vào đời sống văn minh mới, do “mẫu quốc” mang tới, của hai cụ nhà quê cổ hủ “đẫm đặc dân tộc tính”… Đó cũng là lúc dân ta đang gặp phải cái “chạm trán tóe lửa” của hai nền văn hóa Đông Tây. Như bà văn sĩ Pearl Buck (giải thưởng Nobel về văn chương 1938) trong truyện ngắn ‘Bà Mẹ Già”, Huyền Hà dịch, Ngày Nay số 200, 1940, kể chuyện bên Tầu : Cô con dâu đi du học về, trong bữa cơm đại gia đình, đã : “hét inh lên vì sợ, khi thấy bà cụ mẹ chồng đưa đôi đũa đã liếm nghiêm chỉnh thật sạch trước, chọc vào đĩa thức ăn chung của cả nhà”.

Đồng thời trong những bức tranh nhỏ Lý Xã, các ý tưởng được đào sâu dần, nói lên được nhiều điều muốn nói. Người đọc ngày một thấm thía về thân phận người dân nhược tiểu mất nước, khi đa số dân chúng còn chưa được giáo dục, vô kỷ luật, hay sợ hãi, mê tín, và cam chịu tủi nhục dưới ách nô lệ của Pháp. Những bức tranh hý họa nhẹ nhàng hóm hỉnh đó phơi bầy dần dần những thói hư tật xấu của dân ta. Có người cho rằng báo PH NN đã bôi xấu người nhà quê ! Không ! ta phải hiểu rằng nếu dân ta còn nghèo đói, vô học, sống khổ sở như thế, chịu bao nhiêu bóc lột đè nén như thế, thì lẽ dĩ nhiên hủ lậu mê tín phải sinh ra tham lam, ích kỷ, …Nhưng tới đó thì chúng ta phải tự hỏi: “Phải làm gì đây?”

Đó là chủ ý của Tự Lực Văn Đoàn: dùng văn chương, báo chí để vận động cải tạo xã hội.

Trong bài Trả lời Tân Xã Hội, Hoàng Đạo viết trên Ngày Nay số 30, năm 1936 : “Ông sẽ phải công nhận như chúng tôi, là dân chúng – hầu hết là dân quê – chỉ biết mình khổ cực, đói rét, chứ chưa biết đường tự bênh vực lấy mình. Vậy công việc tối quan trọng của ta, của chúng tôi, của ông, là làm thế nào cho họ hiểu hết quyền lợi nghĩa vụ của họ. Công cuộc to tát không phải một ngày mà nên: công cuộc ấy có thành cũng nhờ một phần lớn ở sự tự do báo chí và tự do kết đoàn”(4).

Thực vậy, muốn dân chúng hiểu nghĩa vụ và quyền lợi của họ, thì việc đầu tiên là phải thu hút dân chúng bằng báo chí, phải tìm cách làm dân muốn nghe, thích nghe ta nói. Vậy trước hết, hãy xét lại chính mình. Hẳn trước khi thành người thành thị, ai chẳng có gốc gác nhà quê, không là ta, thì bố mẹ ông bà… ta, đã từng ngớ ngẩn “nhà quê lên tỉnh” như thế. Mà người Việt nào cũng có quê, như Nguyễn Trãi quê Nhị Khê, Nguyễn Du quê Tiên Điền, Hồ Xuân Hương quê Nghi Tàm, Cao Bá Quát quê Phú Thị… Mồ mả các cụ tổ tiên chúng ta đều còn ngay ở giữa những cánh đồng lúa lầy lội đó, chứ đâu ? Mà cũng những nơi nhà quê đó, có kho tàng vốn cổ ai cũng say mê, đó là những tranh khôi hài, các chuyện cười, chuyện diễu, chuyện tiếu lâm, phóng đại, nói khoác… Chuyện được truyền khẩu từ ngàn xưa, từ các bác dân quê như Ba Giai, Tú Xuất ngoài Bắc, tới bác Ba Phi trong Nam, cùng các vị trí thức không theo lề lối quan trường như các Trạng, Trạng Quỳnh, Trạng Lợn,… rất nhiều. Những chuyện đối đáp với sứ Tầu của các vị thiền sư từ hơn nghìn năm trước, hay giai thoại những câu đối đáp giữa Chiêu Hổ, Hồ Xuân Hương ai mà chẳng mê. Và các tranh cổ ngộ nghĩnh được bán trong những phiên chợ quê, chợ Tết, như Đám cưới chuột, Vinh quy, Đánh ghen, Hứng dừa … của làng Đông Hồ, ai mà chẳng thích ?

Ta hãy ngắm lại hai tấm tranh Đông Hồ bên đây.

Trong khi đó, người đầu đàn của Tự Lực văn đoàn Nhất Linh Đông Sơn là một họa sĩ. Các thành viên khác như Thế Lữ, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam… cũng có thú vẽ tranh không phải thường. (Nếu bạn đọc tinh ý thỉnh thoảng có thể bắt gặp trong Phong Hóa hoặc Ngày Nay những bức vẽ rất đẹp ký tên Khái Hưng, Tứ Ly… Đặc biệt, Ngày Nay số 198, xuân 1940, có in tranh vẽ của nhiều thành viên Tự Lực Văn Đoàn: Khái Hưng, Tú Mỡ, Thế Lữ, Hoàng Đạo, Thạch Lam)… Với tinh thần mỹ thuật từ bản chất của ban biên tập như thế, hai báo Phong Hóa, Ngày Nay sử dụng tranh ảnh trang trí rất nhiều, luôn luôn có họa sĩ nhà nghề làm việc minh họa. Những họa sĩ lớp mới này được học rất bài bản, họ học được kỹ thuật hội họa Tây phương tại trường Mỹ Thuật Đông Dương tại Hà Nội (Khóa đầu của trường tốt nghiệp năm 1930). Vì vậy, họ sử dụng rất thông thạo kỹ thuật hý họa kiểu tây phương, để đùa rỡn các ông dân biểu, các quan thượng thư …với mục đích sửa lưng các ông, xin các ông nhớ đến dân đến nước, và làm cho công chúng hiểu đời sống chính trị hơn… Những năm sau có thêm Bang Bạnh và Ba Ếch trong thể giới hoạt kê đó, giúp các họa sĩ tạo được nhiều màu sắc, nhiều khía cạnh sâu xa hơn trước. Tuy nhiên, hai nhân vật này không được yêu thích bằng Lý Xã.

Cũng với lý tưởng làm thay đổi bộ mặt xã hội, dân sinh, TLVĐ và các họa sĩ, kiến trúc sư đã giới thiệu cách sống mới hợp vệ sinh, kiểu nhà mới Ánh Sáng và nhất là việc sáng tác áo dài kiểu mới Lemur cho phụ nữ, một thành công vang dội, tới ngày nay “áo dài” còn chịu nhiều ảnh hưởng.

Trong khi đó Tứ Ly Hoàng Đạo viết hàng loạt bài trên Phong Hóa Ngày Nay như Trước Vành Móng Ngựa, Bùn Lầy Nước Đọng, Công Dân Giáo Dục, Có Cứng Mới Đứng Đầu Gió (ký tên Tường Vân),… kể chuyện trong tòa án, giải nghĩa nhiệm vụ công dân, chỉ dẫn cho dân chúng về pháp luật, để họ hiểu và biết cách sống, cách cư sử cho khỏi bị ép buộc vô lý, và cũng để tờ báo mưu tính những cải cách về xã hội.

(Trong bài viết ngắn này, chúng tôi không nói tới sự nghiệp văn chương lừng lẫy của các văn hào, thi bá, thành viên Tự Lực Văn Đoàn, mà chỉ xin nhắc thêm rằng các tiểu thuyết, thơ mới, kịch nói… của các vị, đã làm say mê bao thế hệ người Việt, đã thay đổi cách viết, cách sử dụng chữ Việt, văn chương Việt, đã trợ giúp rất nhiều cho công việc cải tạo xã hội về mọi mặt).

Ngắm lại những bức tranh Lý Toét thật lý thú, báo Phong Hóa Ngày Nay có khá nhiều : gần 1000 tấm. Hai khía cạnh mỹ thuật và khôi hài, đã trộn vào nhau rất ăn ý. Chúng là một sáng tạo tài tình gồm cả đông lẫn tây, cả xưa lẫn nay, trong suốt một thập niên đã nở rộ đến không ngờ: Phong Hóa và Ngày Nay càng ngày càng càng đông người đọc, đã trở thành một tờ báo không đối thủ trong làng báo lúc đó, mà cũng có lẽ cả lịch sử báo chí Việt Nam xưa nay. Có lần tờ báo Xuân Phong Hóa đã phải xuất bản lần thứ hai, vì nhu cầu bạn đọc. Trong tinh thần phản đối Khổng giáo lỗi thời hành hạ con người, đả phá thái độ phong kiến quan lại cũ, chế diễu lòng mê tín ngu muội, tố cáo sưu cao thuế nặng của tờ báo, những tấm tranh bé nhỏ đã đụng được tới rất nhiều vấn đề, rất nhiều hủ tục, thói xấu, đã phá bớt “những ý kiến cổ hủ, nó làm mờ mịt khối óc người ta” Riêng những vấn đề xã hội, chính trị thực sự, chỉ được nói đến một cách rất nhẹ nhàng, chúng được giấu rất kỹ để tránh kiểm duyệt rất khắt khe của thực dân Pháp…. Tuy vậy, ngày 31 tháng 5 năm 1935, Phong Hóa đã bị Thống sứ Bắc Kỳ đình bản ba tháng. (Tới nay, không ai biết tại sao báo bị đóng cửa. Có người cho là do loạt bài “Thần thoại tân thời” Hậu Tây Du Ký nói động đến Phạm Quỳnh, Nguyễn Tiến Lãng của triều đinh Huế… có người cho là do bài phóng sự sắc bén về Hoàng Trọng Phu… đều do Hoàng Đạo viết. Tất cả chỉ là phỏng đoán, theo cuốn Tiếng Cười của Tú Mỡ, (Vu Gia, cuốn Hoàng Đạo, nhà báo, nhà văn, (6). Theo Martina Nguyễn Thục Nhi : “Do cả hai điều trên”, trong hồ sơ của phòng nhì Pháp : việc đóng cửa ba tháng báo Phong Hóa là do báo này đã chế giễu các quan lại An Nam.

Ngày 5/6/1936, Phong Hóa số 190 đăng một tranh Lý Toét vẽ nhái theo chuyện “Tam anh chiến Lã Bố” của Tam Quốc Chí, rất đẹp, không có chữ ký họa sĩ. Ngắm nét bút đặc biệt sống động, ta có thể nhận ra họa sĩ vẽ tranh là Tô Tử tức Tô Ngọc Vân, một trong những họa sĩ chính của Phong Hóa thời đó. Theo thông lệ, các tranh khôi hài thường được mang ra bàn luận trong giờ làm việc chung của cả tòa soạn. Một bức tranh nhiều ẩn ý sâu xa, mà không ký tên tác giả chắc là do sự góp ý của nhiều thành viên tòa soạn.

Theo sách Tam Quốc Chí, vào đầu công nguyên ba nước Ngụy, Thục, Ngô chia nhau nước Tầu, tranh giành quyền lực, gây chiến tranh dài cả trăm năm. Trong một trận đánh quyết liệt, tam anh, Lưu Bị, Quan Vũ và Trương Phi, nước Thục, cùng nhau vây đánh Lã Bố, nước Ngụy. Lã Bố tuy là đại tướng nổi tiếng vô địch, nhưng mãnh hổ nan địch quần hồ, đã thua. Truyện này rất phổ thông ở Việt Nam, trước đây gần như ai cũng biết. Trong các buổi diễn tuồng cổ, màn này thường được trình bầy rất sôi nổi, các diễn viên hóa trang kiểu xưa, mặt mày tô màu xanh đỏ rực rỡ, áo mũ tuồng lộng lẫy xênh xang, biểu diễn múa võ cao cường, trong tiếng chiêng trống rộn ràng, và nhiều khi cả tiếng la hét cổ vũ của người xem.

Bức tranh này vẽ : “ba con chó cắn bố Lý Toét”, có con trai Lý Toét đứng ngoài xem, dơ tay múa chân reo hò : “A ha ! Tam anh chiến nhất Bố !”

Thật là một câu dùng điển Tam Quốc “Tam anh chiến Lã Bố” để ví tuyệt hay. Tuyệt hay, vì hai câu có cấu trúc hoàn toàn giống nhau, diễn tả hai trận đánh hoàn toàn khác nhau. Do cách dùng hai nghĩa của chữ “Bố”: Bố là tên của đại tướng nước Tầu: Lã Bố, mà “bố” cũng là bố của đứa con đang đứng ngoài dơ chân muá tay reo hò.

Đọc câu điển Tam Quốc, ta chỉ cần thay chữ “Lã” bằng chữ “nhất” là biến thành câu ví, câu reo của con Lý Toét: Chuyện chiến đấu hào hùng trong sử Tầu biến thành chuyện Lý Toét la ó chống chọi với ba con chó dữ. Nó làm người xem tranh cảm được ngay, và cũng đau nhói lòng ngay, vì thấy đứa con trai reo hò vui thích trước sự nguy khốn của bố mình. Đó là :

– Con vô cảm, vô ý thức hay còn quá trẻ dại không biết rằng bố đang lâm nguy bởi ba con chó dữ tấn công? Cùng lúc, nó nhắc người xem tranh:

Lý Toét có mặt trên Phong Hóa từ số đầu tới nay, Lý Toét tượng trưng cho Phong Hóa :

– Độc giả có biết rằng báo Phong Hóa đang trong cơn khốn khó, có cơ nguy bị Pháp đóng cửa, rút giấy phép vĩnh viễn bất cứ lúc nào ? (như rất nhiều báo thời đó, không được giải thích tại sao)

Lý Toét, nhân vật thấm đẫm đặc tính dân tộc, những xấu tốt của vốn cổ, tượng trưng cho đất nước lúc này :

– Quốc dân có biết rằng đất nước mất chủ quyền, đang bốn bề thọ địch ? (‘Địch” là thực dân Pháp, là sự ngu tối, dốt nát của đại đa số dân chúng, là sự chia rẽ của các đảng phái trong nước, nguy cơ nội chiến…)

Trong cảnh tình như thế, bố Lý Toét làm sao sống nổi ! Than ôi ! Đó cũng là tiếng kêu cứu của Phong Hóa ! Trùng hợp làm sao, đúng lúc đó thực dân kiểm duyệt đóng cửa báo. Báo Phong Hóa bị chết ngay sau số 190 này (05/06/1936) !

May thay, báo Ngày Nay hãy còn giấy phép, (Ngày Nay là báo dự phòng của TLVĐ, do Nguyễn Tường Cẩm, anh ruột Nguyễn Tường Tam, một công chức, đứng tên, NN số 1 ra ngày 30/01/1935) nên Tự Lực Văn Đoàn còn hoạt động thêm được mấy năm nữa. Lý Toét còn tiếp tục sống, tiếp tục kể chuyện đời trên báo.

Phải đến thời Mặt Trận Bình Dân cầm quyền ở Pháp, những lời mong cầu tự do, bỏ kiểm duyệt, bớt thuế… mới được viết ra một cách công khai. Những tưởng Mặt Trận Bình Dân thuộc tả phái, sẽ nới lỏng chế độ bảo hộ. Mà không ! Tất cả những lời hứa chỉ là bánh vẽ, báo chí vẫn chịu chế độ cũ, bởi vì bên Pháp vẫn còn Bộ Thuộc Địa, thực hành chủ trương khai thác thuộc địa, phục vụ Mẫu Quốc. Sau này, dù trong thế chiến thứ II, dù năm 1939 Paris đã bị Đức Quốc Xã chiếm đóng, chế độ Bảo Hộ ở Bắc Kỳ vẫn rất khắt khe: Báo Ngày Nay bị đóng cửa vĩnh viễn năm 1940, người viết báo bị bắt bỏ tù (Hoàng Đạo, Khái Hưng, Nguyễn Gia Trí… bị giam, bị tra tấn dã man… từ 1941 tới 1943, tại Vụ Bản, Hoà Bình (5).

Trong bức tranh Mẫu Quốc (nước mẹ), Ngày Nay số 110, 1936, nhân Uỷ Ban điều tra do Pháp gửi sang việt Nam sắp làm xong công việc. Hy vọng của quốc dân là : Chắc sẽ có kết quả tốt ? Họa sĩ Rigt Nguyễn Gia Trí viết một câu chửi đổng :

– Ồ, trông mong… nước mẹ gì !

Thế rồi tới giữa năm 1940, báo Ngày Nay cũng bị đóng cửa rút giấy phép.

Sau một vài cố gắng cuả Khái Hưng, Thạch Lam ra báo, sách… đều chết yểu, các thành viên phân tán, văn đoàn Tự Lực tan đàn sẻ nghé : Người chết vì bệnh, người bị Pháp bắt bỏ tù, an trí, người trốn sang Tầu làm cách mạng, người đi xa lánh nạn, người quay sang kịch… Chỉ còn nhà xuất bản Đời Nay sống lay lắt, in sách bán… Tới tháng 4/1945 còn xuất bản cuốn thơ Hoa Niên của Tế Hanh, (Tế Hanh cùng Anh Thơ được giải thưởng thơ của TLVĐ năm 1939, năm cuối còn có phát thưởng, trước khi báo NN đóng cửa). Tôi không biết Hoa Niên có phải là cuốn sách cuối của Đời Nay hay không.

Và cuối cùng, tới tháng 5/1945 báo Ngày Nay Kỷ Nguyên Mới ra đời, Hoàng Đạo phụ trách mục “Kiểm điểm chính trường Việt Nam” (Hồ Hữu Tường, Nguyễn Tường Long, nhà chính trị, Tạp chi Văn, số 107) Báo ra được 16 số là hết. Tới giữa năm 1946, nhà in được mang bán, chia tiền cho các thành viên.

Từ đó tới nay, chúng ta chưa bao giờ thấy lại một văn đoàn, một nhóm văn nghệ sĩ tài năng như thế, chung sức làm được một kho tàng văn hóa thành công như thế nữa. Tất cả chỉ còn là bóng con chim nhạn bay qua ngang trời…

Tôi còn nhớ khi còn rất nhỏ, được biết hai nhân vật huyền thoại Lý Xã qua một bài hát do các chị dạy truyền khẩu, trước khi đi học chữ, để có thể đọc được tiểu thuyết của TLVĐ (mà phải đọc lén, vì gia đình tôi cấm con gái đọc tiểu thuyết). Đó là bài hát sau đây, tuy tôi thuộc nằm lòng nhưng không biết tác giả là ai, phải hay không phải là người của Văn Đoàn Tự Lực :

Ông Lý Toét mà cắp cái ô

Đi ra phố gặp lúc mưa to

Có bác Xã Xệ mà muốn đi nhờ

Tay thì vời vời miệng thét bô bô;

– Này bác Lý, thủng nhĩ hay sao ?

Gọi như thế mà chẳng coi sao

Giá có cút rượu thì đến chơi liền

Đi nhờ một tí mặt cứ vênh vênh!

– Này bác Xã thật rõ lôi thôi

Còn non nước còn bác với tôi,

Ô tôi năng cụp mà bất năng xòe

Năng dựa đầu hè mà bất năng che !

Phạm Thảo Nguyên

Thư mục:

(1) Nguyễn Mạnh Hùng, Đi tìm gia phả hai nhân vật ảo Lý Toét và Xã Xệ, Đại học Hồng Bàng,

(2) Georges Mignon, Nụ Cười ở Cõi Tân Á, L’Asie Nouvelle. Phong Hóa, số 109,trang 9

(3) George Dutton, Lý Toét in the City: Coming to Terms with the Modern in 1930s Vietnam, Journal of Vietnamese Studies, vol 2, Issue 1, pps 80-108

(4) Hoàng Đạo, Trả Lời Tân Xã Hội, Ngày Nay số 30, 18/10/1936.

(5) Theo Nguyễn Lân, con Hoàng Đạo: Hoàng Đạo bị Pháp bắt cùng Nguyễn Gia Trí, giam ở Vụ Bản. Bà Hoàng Đạo đi thăm, mang về một chiêc áo đầy máu. Khi được tha về, ông bị đau tim nặng.

Yên Huỳnh (chuyển tiếp)

VĂN HÓA VĂN NGHỆ (15)

NGHỆ SĨ LỮ LIÊN

QUA ĐỜI

Vô cùng thương tiếc và ngậm ngùi báo tin :

Nghệ sĩ LỮ LIÊN

Đã ra đi lúc 5:30 chiều Chủ Nhật 08/7/2012 tại California – USA.

Ông sinh ngày 6 tháng 8 năm 1917, hưởng thọ 96 tuổi.

Ông là thân sinh của các ca sĩ Bích Chiêu, Tuấn Ngọc, Anh Tú, Khánh Hà, Lưu Bích, Thúy Anh, Lan Anh…

Xin chuyển đến Quý Vị, tài liệu liên quan đến Cố Nhạc Sĩ Lữ Liên vừa qua đời, do nhạc sĩ Hoàng Thi Thao chuyển đến… Xin mời Qúy Vị xem để tường… Nhất là những điều có thể chưa biết rỏ về ban tam ca AVT… Trân trọng..

Xin cám ơn NS Hoàng Thi Thao

Mời nghe ban AVT trình bày nhạc phẩm Chúc Xuân :

http://youtu.be/X7wfNADkFwQ

NHẠC SĨ LỮ LIÊN

& BAN AVT             

Không cần phải giới thiệu dài dòng, chắc chắn mọi người đều biết AVT là tên của một ban tam ca trào phúng đã đi vào lịch sử âm nhạc Việt Nam với tính chất châm biếm và hài hước, nhiều khi xen lẫn với một sự mỉa mai của nó.

AVT đã trở thành một tên tuổi thật gần gũi với mọi người bằng những nhạc phẩm lột tả được hết mọi khía cạnh của cuộc sống hằng ngàytrong nhiều hoàn cảnh khác biệt của xã hội. Những lời ca dí dỏm trong những nhạc phẩm do AVT trình bầy đã mang lại niềm vui cho mọi người từ suốt gần 50 năm qua đã đóng góp khá nhiều vào kho tàng văn hóa dân gian cũng như đã trở thành một lọai văn chương truyền khẩu rất phổ thông.

Nhắc đến AVT, chắc chắn phải nhắc đến người được coi là linh hồn của ban tam ca này là nhạc sĩ lão thành Lữ Liên, vào năm 2008 này đã được 91 tuổi. Ông hiện cư ngụ tại Orange County trong một căn mobile home mà người viết đã có dịp tiếp xúc gần đây. Ngoài ra, trước đó thỉnh thoảng tôi vẫn có dịp gặp gỡ ông trong những dịp thu ông hình video cho trung tâm Asia cách đây khoảng 10 năm để nghe ông kể về nguồn gốc và sự hình thành của ban tam ca AVT.

Không những thế cách đây 15 năm, ông đã tự tay soạn một bài viết về nội dung nói trên cho tôi làm tài liệu. Căn cứ vào những dữ kiện có được cũng như một số chi tiết góp nhặt được qua những lần gặp gỡ nhạc sĩ Lữ Liên, bài viết này mong sẽ cung cấp cho bạn đọc những điều xác thực về lịch sử ban tam ca AVT cùng với người được coi là linh hồn của nó là nhạc sĩ Lữ Liên.

Thêm vào đó, bài viết này cũng còn được dựa trên tài liệu của một số nhân vật có thẩm quyền khác đối với sự hình thành của ban tam ca trào phúng độc đáo này. Trung tá Phạm Hậu tức nhà thơ Nhất Tuấn là một người trong số này. Ông nguyên là giám đốc Nha Vô Tuyến Truyền Thanh VNCH vào năm 1971 và là Tổng Giám Đốc Việt Tấn Xã vào năm 1974. Trước đó ông tùng là người một thời gian chỉ huy Đại Đội Văn Nghệ Trung Ương tức tiền thân của của Biệt Đòan Văn Nghệ Trung Ương là nơi xuất phát ra ban tam ca AVT và rất nhiều nghệ sĩ tên tuổi khác.

Ông cũng từng giữ một chức vụ cao của Đài Phát Thanh Quân Đội là nơi nhạc sĩ Lữ Liên vào năm 1957 sau khi được đồng hóa vào quân đội đã phục vụ trong ban biên tập, để rồi sau đó được biệt phái sang tiểu đoàn 1 Chiến Tranh Chính Trị để bổ xung vào ngành kịch nghệ sân khấu trong việc yểm trợ cho các binh sĩ khắp 4 vùng chiến thuật trước khi trở thành trưởng ban AVT.

Trong thời gian là diễn viên kịch nghệ trong ban kịch của Đại Đội Văn Nghệ Trung Ương, ông vẫn chú tâm nghiên cứu về cổ nhạc thuần túy của 3 miền đất nước để sáng tác thành những bài ca trào phúng để có thể trở thành một ca sĩ chuyên nghiệp tự đàn lấy để trình diễn. Đó là điều ông ước vọng từ lâu.

Năm 1958, trong danh sách công tác của Tiểu Đoàn 1 Chiến Tranh Chính Trị có một ban tam ca do 3 anh tân binh mới nhập ngũ tên Anh Linh, Vân Sơn và Tuấn Đăng chuyên trình bầy những bản nhạc vui nhộn. Họ lấy 3 chữ đầu của tên mình để ghép lại thành AVT để đặt tên ban. Người đứng ra thành lập ban AVT chính là nhạc sĩ Anh Linh mà không phải là nhạc sĩ Lữ Liên như không ít người lầm tưởng.

Anh Linh là một người có căn bản nhạc lý vững vàng nên từng có thời gian được cử thay thế giáo sư âm nhạc Phạm Nghệ làm trưởng ban Ca của Đại Đội Văn Nghệ Trung Ương, tức Biệt Đòan Văn Nghệ Trung Ương sau đó. Ông đã sáng tác được khoảng 20 bài, trong đó có một số bài phổ ttừ thơ của thi sĩ Hà Thượng Nhân và Nhất Tuấn (tác giả thi tập nổi tiếng trong thập niên 60 “Chuyện Chúng Minh”).

Một trong những ca khúc đắc ý nhất của ông là “Niềm Tin”, thường được nhiều ca sĩ trình bầy trong dịp Giáng Sinh. Ca khúc đầu tay của Anh Linh là bài “Sao Em Không Đi”, viết trước khi nhạc sĩ Anh Bằng, cùng trong Đại Đội Văn Nghệ Trung Ương của Tiểu Đoàn 1 Chiến Tranh Tâm Lý, tung ra nhạc phẩm “Nếu Vắng Anh”. Nhưng vì nhạc của Anh Linh có phần ủy mị nên không được bộ thông tin chấp thuận ngay.

Trái lại, “Nếu Vắng Anh” thì trót lọt kiểm duyệt vì lời ca, điệu nhạc rất tình cảm nhưng không mềm yếu. Nhạc phẩm này đã trở thành Top Hit sau đó. Bù lại, Anh Linh được an ủi là có một số bài như Chiến Thắng Rừng Sát, Thiên Thần Mũ Đỏ, Chiến Thắng Kon Tum đã được rất nhiều anh em binh sĩ tán thưởng.

Việc hình thành tên ban tam ca AVT đã được nhạc sĩ Anh Linh kể lại với những chi tiết lý thú đến từ một sự tình cờ. Khởi thủy, ban tam ca sau này được gọi là AVT gồm có 3 người là Anh Linh, Tuấn Đăng và Vân Sơn thường được giới thiệu mỗi khi xuất hiện trên sân khấu là Tam Ca Anh Linh, Vân Sơn và Tuấn Đăng. 3 người đều hát thường trực ở phòng trà Anh Vũ với những tiết mục vui nhộn của họ.

Một hôm, ban giám đốc thuê người kẻ một tấm biểu ngữ rất lớn để giăng ngang đường Trần Hưng Đạo, gần phòng trà Anh Vũ trên đường Bùi Viện nhằm giới thiệu bộ 3 này mà họ muốn gọi là ban Kích Động Nhạc Anh Vũ. Đúng vào lúc những người kẻ chữ vừa viết xong hai chữ A và V mầu đỏ và chữ NH mầu xanh thì Anh Linh tình cờ đi tới.

Anh hỏi thì được biết họ viết chữ ANH VŨ. Anh Linh nói ngay là ban tam ca của anh không phải tên là Anh Vũ như ban giám đốc đã thuê họ viết. Nhưng thấy mấy người thợ đã lỡ viết như vậy nên chợt nhớ ra ban kích động nhạc của mình đã có sẵn tên Anh Linh, Vân Sơn nên bảo viết thêm chữ T (chữ đầu của tên Tuấn Đăng ) và bỏ 2 chữ NH kia đi. Vì thế nên có tên AVT.

Trong thời gian AVT hát nhạc ngoại quốc ở phòng trà Anh Vũ, họ luôn được khán giả yếu cầu hát nhiều lần nên chủ phòng trà thêm cho AVT một danh hiệu nữa là ban AVT Đăng-Linh-Sơn khi được giới thiệu. Nhưng MC lại cố ý đọc là “AVT Darlingson” cho khán giả ngọai quốc dễ hiểu !

Tiền thù lao cho AVT sau đó đã phá kỷ lục khi họ được trả đến 1000 đồng một người, trong khi “cát sê” trả cho quái kiệt Trần Văn Trạch chỉ có 700 ! Vì AVT có lần được khán giả yêu cầu “bis” đến 7 lần. Ba người vừa vào hậu trường thay áo đi về thì lại phải mặc vào để ra trình diễn thêm trong khi khán giả giả tiếp tục hò hét vang rền ! Đó thật là một kỷ niệm nhớ đời cho Anh Linh, Vân Sơn và Tuấn Đăng.

Giọng ca của 3 thành viên AVT này rất đều. Họ có thể lên cao tới “nốt” Sol cao và xuống đến Sol thấp. Theo nhận xét của nhạc sĩ Lữ Liên thì giọng của Vân Sơn trội hơn cả so với 2 người khác trong ban. Hình ảnh đặc biệt của AVT là lúc trình diễn họ đều mặc quốc phục với khăn đóng, áo dài và tự đàn lấy để hát.

Trước khi chuyển qua sử dụng những nhạc khí dân tộc thì Anh Linh chơi guitar, Vân Sơn chơi trống và Tuấn Đăng sử dụng contre-bass. Những tiết mục linh động và tươi vui của AVT thật sự đã mang lại cho sinh hoạt phòng trà thời đó thêm rất nhiều sống động.

Qua đầu thập niên 60, vào lúc AVT cần những sáng tác mới để trình bầy, nhạc sĩ Lữ Liên có ý định thử nghiệm khi muốn hướng phần trình diễn của AVT về một thể loại mới lạ. Ông đã trích một đọan trong bản Thất Nghiệp Ca của ông (sáng tác cho Đòan Văn Nghệ Việt Nam) đặt tên là Tam Nghiệp, mô tả 3 chàng Thợ Nhuộm, Thợ Sửa Khóa và Thầy Bói để AVT thực nghiệm vào dịp Tất Niên trong một chương trình văn nghệ do quân đội tổ chức tại rạp Thống Nhất. Chương trình này có mục đích ủy lạo các chiến sĩ xuất sắc khắp 4 vùng chiến thuật trở về tham dự, dưới sự chủ tọa của tổng thống Ngô Đình Diệm cùng nhiều tướng lãnh cao cấp khác.

Nhưng sắp đến ngày ra mắt thì thình lình có giấy gọi Anh Linh theo học khóa sĩ quan vào năm 1962. Lập tức Hoàng Hải được đưa vào tập dượt để thay thế. Sau này khi Lữ Liên gia nhập AVT, nhạc phẩm Tam Nghiệp có được sửa đổi đôi chút với những nghề Thợ Sửa Xe Máy (do Lữ Liên diễn tả), nghề Tẩm Quất với Vân Sơn và Tuấn Đăng với nghề thợ mộc.

Với bài Tam Nghiệp gốc, một sáng tác của Lữ Liên, trích từ tác phẩm Thất Nghiệp Ca của ông, lần đầu tiên khán giả được thưởng thức một nhạc phẩm trào phúng với những âm điệu cổ truyền cùng những lời ca dí dỏm và nghệ thuật trình diễn sống động. Tất cả những khán giả hôm đó, phần lớn là anh em binh sĩ, được dịp cười hả hê. Nhất là lúc Vân Sơn hứng lên múa trống, tung dùi và Tuấn Đăng nhảy lên cây “Contre-basse” để solo theo nhịp kích động khiến khán giả cổ võ muốn sập rạp.

Và kể từ đó AVT bắt đầu bước vào một khúc quanh quan trọng với phần trình bầy những nhạc phẩm trào phúng, sát với đời sống thường ngày trong xã hội. Với sự tán thưởng nồng nhiệt của khán giả. Sau thời gian này, Lữ Liên lại đặt cho AVT một số bài mới như Ông Nội Trợ, Trắng Đen, Dậy Thì, vv… Tất cả những nhạc phẩm này đã khiến tên tuổi AVT càng này càng lên cao

Ngoài những sáng tác của nhạc sĩ Lữ Liên, nhạc sĩ Anh Bằng cũng sáng tác cho ban tam ca này một nhạc phẩm nổi tiếng khác có tựa đề là Huynh Đệ Chi Binh, thêm vào đó là một sáng tác của Duy Nhượng là bài Ai Lên Xe Bus…

Từ đó, ban AVT đã trở thành một tam ca nhạc đắt giá tại các phòng trà ca nhạc và vũ trường cũng như các Đại Nhạc Hôi cùng các đài Phát thanh và Truyền Hình. Nói cho đúng, AVT đã trở thành một hiện tượng trong sinh họat ca nhạc tại Việt Nam với một khuynh hướng thể hiện chưa từng có trước đó. Như vậy có thể khẳng định là AVT đã giữ vai trò độc tôn bằng hình thức tam ca trào phúng. Một thời gian sau, một vài kết hợp dưới hình thức tương tự cũng được ra đời, nhưng không có khả năng thu hút người nghe như AVT, nên đã không tồn tại được bao lâu.

Sau những bài hát trào phúng được nhắc tới ở trên là đến một lọat những bài khác được nhạc sĩ Lữ Liên sáng tác cho ban AVT trình bầy như Ba Bà Mẹ Chồng, Cờ Người, Em Tập Vespa, vv… Đó là những nhạc phẩm đã lót đường cho ban AVT thăng tiến rất nhanh. Ngoài những lời lẽ châm biếm trong những bài hát trước đó, người nghe còn cảm thấy rất thích tú với những bài hát được Lữ Liên sáng tác với hình thức lời thanh mà ý tục, tương tự những thi phẩm nữ sĩ Hồ Xuân Hương, trong đó có tác phẩm Cờ Người đã được phổ nhạc hoàn toàn mang chất AVT độc đáo…

Trong khoảng thời gian từ 60 đến 64, AVT đã được 2 hãng đĩa Sóng Nhạc và Việt Nam mời thu đến 20 đĩa nhạc và băng nhạc. Và AVT còn nhận lời trình diễn cho các phòng trà ca nhạc và vũ trường lớn ở Sài Gòn như Queen Bee, Quốc Tế, Bồng Lai, vv…

Vào năm 1965, nhạc sĩ Hoàng Hải được lệnh giải ngũ. Hoàng Hải với tên thật là Lưu Duyên, là anh của cố chuẩn tướng Lưu Kim Cương, sau đó sang làm cho đài VOA tức Tiếng Nói Tự Do. Nhạc sĩ Lữ Liên được mời vào thay thế và trở thành trưởng ban AVT từ đó. Cùng một lúc ông còn là trưởng ban kịch của Biệt Đòan Văn Nghệ Trung Ương. Với các nghệ sĩ : Hoàng Năm, Đỗ Lệnh Trường, Xuân Phúc, Bích Huyền, Cẩm Thúy, Thúy Liệu, Lệ Sửu, v.v…

Sau khi nhận lời trở thành một thành viên của AVT, lúc đó măc dù trong ban không còn ai mang tên có chữ có A ở đầu, nhưng Lữ Liên vẫn giữ nguyên cái tên AVT. Vì ông cho rằng tên đó đã đi sâu vào tâm hồn quần chúng. Nhưng ông đã đưa ra một vài đề nghị với một số thay đổi. Thứ nhất, với vai trò trưởng ban ông đổi danh xưng chính thức cho AVT là “Ban Tam Ca Trào Phúng AVT”, thay vì Ban Kích Động Nhạc AVT.

Ngoài ra, còn có thêm một sự thay đổi quan trọng khác là loại bỏ 3 nhạc khí Tây Phương để chỉ sử dụng những nhạc khí cổ truyền Việt Nam. Từ đó Vân Sơn chơi Tỳ Bà, Tuấn Đăng chơi đàn đoản và Lữ Liên sử dụng đàn nhị tức đàn cò.

Tới khoảng thời gian 1966-67, chính phủ Việt Nam theo đuổi chương trình trao đổi văn hóa với các nước Á Châu, AVT với thành phần trên đã theo Đoàn Văn Nghệ Việt Nam của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ di trình diễn tại rất nhiều quốc gia như Lào, Cao Miên, Phi Luật Tân, Thái Lan, Tân Gia Ba, Mã Lai, Nhật Bản, vv…

Sang đến năm 1968 thì “Ban Tam Ca Trào Phúng AVT” đi vào một thời kỳ có thể gọi là cực thịnh với những chuyến lưu diễn tại rất nhiều quốc gia Âu Châu.

Theo lời yêu cầu của các đồng bào Việt Nam tại Pháp, chính phủ Việt Nam đã gửi một phái đoàn văn nghệ hùng hậu gồm đầy đủ các bộ môn thi, ca, vũ, nhạc, kịch, vv… dưới sự dìu dắt của nhạc sĩ Hoàng thi Thơ cùng các vũ sư Lưu Hồng và Trịnh Toàn sang Âu Châu trình diễn lần thứ nhất.

Lần ra mắt ở rạp Maubert Mutualité Paris, Lữ Liên đã sáng tác một số bài dành riêng cho AVT như Chúc Xuân, Vòng Quanh Chợ Tết, Tiên Sài Gòn, Gái Trai Thời Đại, Lịch Sử Mái Tóc Huyền, Mảnh Bằng, 3 Ông Bố Vợ, vv… để trình diễn trước một số khán giả kỷ lục. Còn một số đông khán giả phải đứng ở ngoài vì hết chỗ.

Trong lần ra mắt đáng ghi nhớ đó, AVT mặc sức vẫy vùng. Mỗi câu hát là một chuỗi cười và tiếng vỗ tay vang dội. Giữa mỗi bài hát đều có phần solo nhạc. Tiếng nhạc khí Việt Nam thánh thót, véo von như chim hót khiến khán giả im lặng cơ hồ như nín thở để thưởng thức. Đến phần kết thúc mỗi bài hát thì tiếng vỗ tay vang lên như sấm động. Nhất là trong tiết mục AVT trình tấu cũng bằng Tỳ Bà, Nhị Huyền và Đàn Đỏan hai nhạc khúc bất tử của Johan Strauss là Le Beau Danube Bleu và Les Flots Du Danube. Khán gỉa đã vỗ tay không ngừng khi chấm dứt. AVT phải dắt tay nhau ra cám ơn khán giả 3 lần ! Vãn hát, khán giả đã tràn lên sân khấu vây quanh các nhạc sĩ để khen ngợi. Nhất là các khán giả người địa phương muốn xem tận mắt từng cây đàn của AVT đã sử dụng.

Lần trình diễn đó của AVT đã gây chấn động cả Paris. Đi đến đâu người ta cũng nhắc tới AVT. Đó có thể coi như thời kỳ huy hoàng nhất của ban ta ca trào phúng này. Sau đêm trình diễn ở rạp Maubert và sau khi nghỉ một ngày, bộ ba Lữ Liên, Vân Sơn và Tuấn Đăng sang diễn một xuất ở Thụy Sĩ và một xuất ở Luân Đôn. Sau đó họ lại về Pháp để trình diễn một xuất ở dưới miền nam.

Rồi sau đó, phái đoàn lại tiếp tục đi trình diễn tại Maroc, Algérie, Tunisie, vv… Nơi nào họ cũng gặt hái được những thành công rực rỡ trước khi trở về Việt Nam. Đó là chưa kể AVT còn có dịp sang trình diễn tận nước Cộng Hòa Trung Phi trong thời kỳ lãnh đạo của tổng thống Bokassa.

Qua năm 1969, lại một lần nữa thể theo lời mời của Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam tại Pháp, chính phủ Việt Nam lại cử một đoàn văn nghệ gồm AVT với Lữ Liên, Vân Sơn, Tuấn Đăng cùng 2 nữ ca sĩ Hoàng Oanh và Hà Thanh, vợ chồng nhạc sĩ cổ nhạc Vĩnh Phan, nhạc sĩ Huỳnh Anh và cây sáo Nguyễn Đình Nghĩa sang quốc gia này. Một chương trình dài 2 tiếng gồm đủ mọi tiết mục được dàn dựng để trình diễn ở tất cả những địa điểm mà anh chị em sinh viên ở Parius tổ chức trong những ngày cuối năm. Chuyến lưu diễn này kéo dài 1 tháng với một thành công rực rỡ.

Ngoài những lần trình diễn chung với 2 nhạc sĩ khác trong AVT, hình ảnh nhạc sĩ Lữ Liên còn ghi đậm nét trong trí nhớ mọi người khi ông cùng nhạc sĩ Hoàng Thi Thao đồng diễn tiết mục “Cò Tây-Cò Ta”, được coi là một tiết mục rất ăn khách vào thời đó, cũng như sau này tại hải ngọai. “Cò Tây-Cò Ta” cũng đã được thu hình trong một chương trình Paris By Night cách đây vài năm, gây được nbhiều thích thú cho khán thính giả.

Rồi đến tháng 4 năm 75, Lữ Liên nhờ làm cho đài Mẹ Việt Nam nên được đi tàu ra Phú Quốc để rồi được đưa sang đảo Guam trước khi đến Mỹ. Trong khi đó Vân Sơn và Tuấn Đăng bị kẹt lại. Riêng Vân Sơn, một thời gian ngắn sau biến cố tháng 4 năm 75, đã nhảy xuống sông Thị Nghe tự tử. Qua một bài viết của Băng Đình thì Vân Sơn đã nhảy cầu Thị Nghè tự tử để phản đối sự áp bức của chính quyền mới đối với giới văn nghệ sĩ.

Trong khi về phía chính quyền thì cho là Vân Sơn làm rối loạn trật tự tại chợ Thị Nghè, bị công an khu vực rượt nên sợ quá phải nhảy vội xuống sông Thị Nghè. Vân Sơn, chết vì đầu đập vào một cây gỗ. Có người hỏi nữ nghệ sĩ Hồng Vân là người đứng ra quyên tiền để chôn cất cho Vân Sơn, về nguyên nhân cái chết của anh. Nhưng Hồng Vân cũng trả lời không biết rõ nguyên nhân.

Về phần nhạc sĩ Lữ Liên, theo một nguồn tin khác cho biết lý do khiến Vân sơn tìm đến cái chết đã đến từ chuyện gia đình…

Một thành viên từ những ngày đầu của ban AVT là Tuấn Đăng hiện nay vẫn hoạt động ở Sài Gòn. Hàng đêm anh hát và đàn tại một quán có tên là Tiếng Dương Cầm trong khu cư xá sĩ quan Chí Hòa.

Còn Anh Linh, người sáng lập ra AVT, từ khi qua Mỹ theo diện HO đến nay, là ca đoàn trưởng của một giáo xứ ở San Jose. Vợ chồng anh còn là chủ của một tiệm phở đông khách ở thành phố này.

Sau một thời gian vất vả ở các trại tỵ nạn, các anh chị em nghệ sĩ ở khắp nơi đổ dồn về tiểu bang California lập nghiệp. Nhờ sự yểm trợ của cơ quan USCC, một số anh nghệ sĩ có tên tuổi như Hoàng Thi Thơ, Nam Lộc, Jo Marcel, Lê Quỳnh, Kiều Chinh, Lữ Liên, Vũ Huyến, Ngọc Bích vv… đã được nhận vào làm việc tại cơ quan này.

Một thời gian ngắn sau khi sang đến Mỹ, ban Tam Ca Trào Phúng AVT Hải Ngọai đã được thành lập do ý kiến của nhạc sĩ Lữ Liên. Và sau một thời gian tập luyện một ban văn nghệ hùng hậu đã được thành lập để cùng kéo nhau sang Paris trình diễn, trong số dĩ nhiên không thể nào thiếu AVT Hải Ngoại với Ngọc Bích, Vũ Huyến và Lữ Liên.

Toàn thể khán giả đã tỏ ra rất thích thú khi được nghe lại những nhạc phẩm trào phúng quen thuộc ngày nào. Yếu tố đó đã khiến cho AVT gặt hái được những thành quả to lớn. Nhưng sau đó, với thời gian, thành phần AVT Hải Ngọai có một vài thay đổi và một số hoạt động cũng như một số sáng tác mới được ghi nhận như sau:

14/2/77 : Một lần nữa AVT có sự thay đổi trong thành phần khi Trường Duy vào thay thế cho Ngọc Bích. Cùng với đoàn văn nghệ trên, bộ ba sang Âu Châu trình diễn trong vòng 19 ngày.

01/12/77 : Sẵn có đoàn nghệ sĩ cơ hữu này, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ đã mang cả đoàn sang cộng hòa Trung Phi trình diễn nhân ngày Hoàng Đế Bokassa Đệ Nhất đăng quang.

Năm 1987 : Nhạc sĩ Anh Bằng đã thực hiện 1 cuốn băng AVT Hải Ngoại đầu tiên do trung tâm Asia phát hành. Trong băng này có một nhạc phẩm mới mang tựa đề Gốc Mít do Lữ Liên và Anh Bằng sáng tác, nói về cuộc đời của những người dân Việt tỵ nạn, lang thang trên khắp thế giới để tìm miếng cơm manh áo. Gặp nhau cũng không biết là người đồng hương,với những cảnh ngộ trớ trêu, cười ra nước mắt.

AVT với tiếng hát Lữ Liên, Vũ Huyến và Trường Duy và bài mới thứ 2 của nhạc sĩ Anh Bằng mang tựa đề Canh Cua Rốc, mô tả những chàng tai tỵ nạn xa quê hương thèm món canh cua từng đêm như thèm khát những vóc dáng xinh xinh.

Năm 1988 : thành phần AVT được tăng cường thêm nữ nghệ sĩ Thúy Liệu đã sang Úc trình diễn tại Sydney trong một chương trình kịch vui kéo dài trong 10 ngày.

Năm 1992 : AVT có một sự thay đổi với Hoàng Long vào thay thế cho nhạc sĩ Vũ Huyến, đã cùng nhau thực hiện một băng cassette, thu thanh tại phòng thu Tùng Giang và do trung tâm Khánh Hà phát hành. Trong băng này có một sáng tác mới của Lữ Liên là Trận Cầu Quốc Tế, mô tả cuộc trực tiếp truyền thanh của AVT trong 1 trận cầu giao hữu nhưng không kém phần quyết liệt của 2 đội banh, một nam, một nữ từ Âu Mỹ đến Việt Nam. Khán giả Sài Gòn được xem nhiều pha gay cấn đầy nghệ thuật tân kỳ. Tuy chỉ là giả tưởng, nhưng với những “sound effects”, người nghe có cảm tưởng như đang tham dự một trận cầu thật.

Năm 1994, vào dịp Xuân Giáp Tuất trung tâm Giáng Ngọc tung ra cuốn video đầu tiên của AVT tại hải ngọai. Dựa theo một áng thơ tuyệt tác của nữ sĩ Hồ Xuân hương, nhạc sĩ Lữ Liên lần đầu tiên trình diễn chung với 2 nữ nghệ sĩ Thúy Lan và Thúy Hương để trình bầy nhạc phẩm Đánh Đu, với phần nhạc do Lữ Liên tự đảm trách, nhạc sĩ Ngọc Bích hòa âm và sử dụng Keyboard.

Ở trên là những chi tiết người viết thu thập được phần lớn từ người được coi như linh hồn của ban Tam Ca Trào Phúng AVT là Lữ Liên trong thời kỳ ông còn minh mẫn. Trong lần đến thăm ông gần đây, sức khỏe của ông có phần sa sút hơn xưa. Nhất là sau khi bị té nặng vào năm ngoái, 2007.

Sau lần đó, trí nhớ của nhạc sĩ Lữ Liên tỏ ra kém hẳn trước với một giọng nói không còn được linh họat, nếu không muốn nói là thiếu sự liên tục. Thật ra tình trạng này đối với số tuổi 91 của ông cũng là bình thường. Mặc dù vậy, nhạc sĩ Lữ Liên vẫn còn cung cấp được cho tôi một số chi tiết liên quan đến tiểu sử của ông…

Ông mang họ Lã, sinh trưởng ở Hải Phòng trong một gia đình mà thân phụ ông cũng là một nghệ sĩ, ngoài việc làm chính ở sở Bưu Điện. Khi Lữ Liên còn nhỏ, thân phụ ông đã đứng ra lập một gánh hát cổ nên ông đã có dịp gần gũi với những âm thanh nhạc cổ truyền. Ông trưởng thành trong khung cảnh văn nghệ đó nên đã chịu nhiều ảnh hưởng để sau đó trở thành một nghệ sĩ tài ba mà sự đóng góp của ông được coi như rất lớn lao cho nền âm nhạc Việt Nam… (theo TiVi Tuần San 1144 & 1145) 

NHẠC SĨ LỮ LIÊN

Trưa 8/7, một trong những cổ thụ âm nhạc Việt Nam – nhạc sĩ Lữ Liên đã trút hơi thở cuối cùng tại bệnh viện Garden Grove, Mỹ. Ông hưởng thọ 96 tuổi.

Nhạc sĩ Lữ Liên sinh năm 1917 ở Hải Phòng. Trong khai sinh ông ghi họ Lã, nhưng nghệ danh là Lữ Liên. Cha ông dù là nhân viên bưu điện nhưng lại đam mê nghệ thuật. Ca sĩ Tuấn Ngọc từng kể : “Ông nội tôi mê cổ nhạc, chính vì đứng ra lập ban cổ nhạc mà cha tôi mới có cơ hội học hỏi, làm quen với các nhạc sĩ cổ nhạc”.

Nhạc sĩ Lữ Liên trước đây từng tham gia ban hợp ca Thăng Long, cùng với Thái Thanh, Hoài Bắc và Hoài Trung biểu diễn rất thành công những ca khúc mang âm hưởng dân ca ba miền và những ca khúc trữ tình. Ông lập gia đình và có những đứa con mà khi trưởng thành họ đều gắn bó với âm nhạc, được công chúng trong và ngoài nước yêu mến : Tuấn Ngọc, Bích Chiêu, Anh Tú, Khánh Hà, Thúy Anh, Lan Anh và Lưu Bích.

Tên tuổi nhạc sĩ Lữ Liên được biết đến với sự hình thành và phát triển của nhóm nhạc AVT – tên của một ban tam ca trào phúng đã đi vào lịch sử âm nhạc Việt Nam với tính chất mượn giai điệu ngũ cung, những ca khúc, bài lý, dân ca, bài chồi để viết lời mới châm biếm, mỉa mai những cảnh tượng gai mắt, chướng tai trong cuộc sống.

AVT nổi tiếng và được khán thính giả trên mọi miền đất nước yêu mến. Những lời ca dí dỏm trong nhạc phẩm do AVT trình bày mang lại niềm vui cho khán thính giả suốt nhiều thập niên. Chúng đã đóng góp khá nhiều những giá trị tinh thần trong kho tàng văn hóa dân gian dù ca khúc được AVT thể hiện sử dụng nhiều từ loại văn chương truyền khẩu rất phổ thông ở miền Bắc thời đó.

Ban đầu, tam ca AVT gồm: Anh Linh, Vân Sơn và Tuấn Đăng chuyên thể hiện những ca khúc vui nhộn. Họ lấy 3 chữ đầu của tên mình để ghép lại thành AVT để đặt tên. Người đứng ra thành lập ban AVT chính là nhạc sĩ Anh Linh. Nhạc sĩ Lữ Liên giai đoạn này là người sáng tác các ca khúc cho nhóm AVT. Ông đã trích một đoạn trong bản Thất nghiệp ca, đặt tên là Tam nghiệp, mô tả 3 anh thợ nhuộm, thợ sửa khóa và thầy bói để AVT biểu diễn.

Lập tức tính hài hước pha với diễn xuất, lại có ưu thế vừa đàn, vừa ca, vừa châm biếm duyên dáng, AVT nổi bật từ ngày có bàn tay “phù phép” của nhạc sĩ Lữ Liên. Giai đoạn này ông đã cho ra đời những ca khúc : Chúc xuân, Vòng quanh chợ tết, Tiên Sài Gòn, Gái trai thời đại, Lịch sử mái tóc huyền, Mảnh bằng, Ba ông bố vợ…

Soạn giả Viễn Châu kể : “Lệnh bắt quân dịch đã khiến nhóm AVT mất đi Anh Linh. Năm 1962 nhạc sĩ Lữ Liên chính thức gia nhập nhóm, sau một thời gian Hoàng Hải thay thế nhưng không trụ vững. Để thay đổi khẩu vị, nhạc phẩm Tam nghiệp của anh Lữ Liên được sửa đổi đôi chút với những nghề thợ sửa xe máy (do Lữ Liên ca), nghề giác hơi tẩm quất (do Vân Sơn ca) và nghề thợ mộc (do Tuấn Đăng ca). Nếu bài vọng cổ hài của tôi ứng biến với âm nhạc ngũ cung, thì âm điệu cổ truyền Bắc bộ với ca trù, hát khách, ả đào, chầu văn… đã được nhạc sĩ Lữ Liên đưa vào rất dí dỏm và mang tính trào phúng sống động”

Cũng theo nhạc sĩ Lữ Liên đã khái quát được hoàn cảnh xã hội thời đó. Những nhạc phẩm trào phúng, sát với đời sống thường ngày trong xã hội của AVT lên án mạnh mẽ những thói trăng hoa, dỏm đời, học đua đòi… Cách châm biếm đó nhận được sự tán thưởng nồng nhiệt của khán giả. Sau thời gian này, Lữ Liên lại sáng tác cho AVT một số bài hát : Ông nội trợ, Trắng đen, Dậy thì, Trâu ơi ta bảo này, Ba bà mẹ chồng, Cờ người, Em tập vespa…. Tất cả những ca khúc này đã đưa tên tuổi AVT lên đỉnh cao nghệ thuật.

Từ năm 1960 – 1964, nhóm AVT đã được 2 hãng đĩa Sóng Nhạc và Việt Nam mời thu đến 20 đĩa nhạc. Nhóm đắt show diễn ở các phòng trà ca nhạc và vũ trường lớn của Sài Gòn như : Queen Bee, Quốc Tế, Bồng Lai… Sau ngày miền Nam “đứt phim”, nhạc sĩ Lữ Liên sang Mỹ định cư cùng các con.

Lúc này ca sĩ Khánh Hà đã lập trung tâm sản xuất băng nhạc, nên nhạc sĩ Lữ Liên đã tái lập lại nhóm ATV để thực hiện việc ghi âm và thi thoảng biểu diễn tại Mỹ, Úc. Trải qua nhiều biến đổi, năm 1988 nhóm có thêm sự tham gia của nữ nghệ sĩ Thúy Liệu khi sang Úc biểu diễn, đến năm 1992, AVT có thêm nhạc sĩ Hoàng Long. Năm 1994, vào dịp hát tết nhóm AVT đã ra mắt một loạt ca khúc mà nhạc sĩ Lữ Liên dựa theo áng thơ của nữ sĩ Hồ Xuân hương để sáng tác, châm biếm thói thích ong bướm, trăng hoa của những kẻ háo sắc. Lúc này ông đã trình diễn cùng hai nữ nghệ sĩ Thúy Lan và Thúy Hương, tạo dấu ấn cuối đời với nhạc phẩm Đánh đu.

Năm 2008, nhạc sĩ Lữ Liên về cư ngụ tại Orange County – miền Nam California – Mỹ. Ông sống trong một căn nhỏ và được các con thăm viếng mỗi tuần. “Sự ra đi của bố tôi là nỗi đau xót rất lớn đối với anh em trong gia đình. Cả cuộc đời bố tôi luôn dành cho việc sáng tác và xem những tình cảm của khán thính giả dành cho ông, cho chúng tôi là niềm hạnh phúc” – ca sĩ Tuấn Ngọc tâm sự trước khi anh bay về Mỹ cùng vợ là ca sĩ Thái Thảo để lo hậu sự cho cha mình. (Theo Thoại Hà – NLĐ)

Yên Huỳnh post

NGỌN NẾN KHÔNG CHÁY

Trong thành phố nọ có hai cha con sống với nhau rất vui vẻ, hạnh phúc. Một hôm, đứa bé gái chẳng may bị bệnh và ra đi mãi mãi.

Người cha quá đau khổ, tuyệt vọng, quay lưng lại với tất cả mọi người. Ông chẳng thiết tha gì với cuộc sống nữa. Ông tự nhốt mình trong phòng và khóc mãi.

Một hôm, người cha ngủ thiếp đi và ông mơ thấy một giấc mơ kỳ lạ. Trong giấc mơ, ông gặp một đoàn người rước đèn. Tất cả ngọn đèn đều lung linh toả sáng, trừ ngọn đèn của đứa bé cuối. Đứa bé ấy cầm một ngọn nến không được thắp sáng. Nhìn kỹ hơn, ông nhận ra đứa bé ấy chính là đứa con gái bé bỏng của mình.

Ông tiến lại gần và hỏi con rằng : “Tại sao nến của con lại không cháy ?”.

Bé gái đã đáp rằng : “Con đã cố lắm nhưng không được cha à ! Mỗi lần con thắp lên ngọn nến thì những gịot nước mắt của cha lại dập tắt hết ngọn nến của con”.

Nước mắt chỉ có thể xoa dịu phần nào chứ không thể làm tan biến hoàn toàn nỗi mất mát lớn lao. Hãy cứ khóc khi bạn cần, nhưng hãy đứng lên vững vàng bạn nhé ! Bởi ngoài kia, đâu đó, ở một nơi nào đó, người thân của bạn đang nhìn bạn mỉm cười.

Mỹ Nhàn post

KÝ GIẢ THỂ THAO XƯA

KÝ GIẢ HUYỀN VŨ

VỚI NGƯỜI SÀIGÒN

– Văn Quang

Nghe Huyền Vũ tường thuật mới đúng là “vừa được nghe, vừa được xem đá banh”. Đã từ lâu tôi vẫn đinh ninh rằng “ai cũng có thể thay thế được, dù cho đó là một thiên tài”. Nhưng đến hôm nay thì tôi nghĩ khác : “vừa có một người mất đi mà không ai thay thế được”. Đó không phải là ý kiến của riêng tôi, mà là ý kiến của hầu hết những người còn ở lại Sài Gòn tôi vừa gặp. Kể cả người có tuổi và người trẻ tuổi, người có thích coi đá banh hay không. Tôi nói thế hẳn bạn đọc đã biết là nói về ai rồi. Không là ông Huyền Vũ thì không thể là ai khác trong phạm vi này.

Chắc chắn đến hôm nay, nhiều bạn đọc đã biết tin ông Huyền Vũ từ trần vào lúc 01 giờ 56′ ngày 24 tháng 8 năm 2005 tại Hampton – Virginia, Hoa Kỳ. Và cũng chắc chắn đã có khá nhiều bài viết về ông Huyền Vũ. Nhưng người ở Sài Gòn thì chưa chắc đã có ai viết về sự kiện này. Tuy nhiên, cũng không phải vì thế mà tôi viết về ông, tôi viết vì có một bổn phận thôi thúc phải viết, một tiếng nói của người hiện còn đang sống ở Sài Gòn tưởng nhớ và thương tiếc ông. Tôi không là đại diện cho ai cả, tôi viết với tính cách của một “fan” hâm mộ ông cùng với một số bạn bè tôi, với nỗi tiếc thương vô hạn.

Bóng cây đại thụ bao trùm lên tất cả

Ông mất ở tuổi 90, ông hơn tôi đến gần 20 tuổi, tôi chưa bao giờ được là bạn ông. Chỉ là một người quen biết và một người hâm mộ đúng nghĩa. Tuy rằng trước những năm 1975, cái thời mà chúng tôi thường gặp nhau ở sân banh Cộng Hòa, ngồi trên hàng ghế ký giả, ông làm việc tường thuật của ông, gần chỗ chúng tôi. Nếu có gặp nhau chỉ vẫy tay chào nhau là đủ. Tuy ông cũng tường thuật trực tiếp qua làn sóng điện phát thanh của Đài Tiếng Nói Quân Đội, nhưng thật ra đài Quân Đội chỉ là tường thuật “ké” đài Sài Gòn. Ông là phát thanh viên chính thức của đài phát thanh Sài Gòn, còn gọi là Đài PT Quốc Gia, mỗi khi có tường thuật trực tiếp đá banh, chúng tôi chỉ điện thoại sang yêu cầu Đài Quốc Gia cho Đài Quân Đội “nhập sóng” là xong. Tức là lúc đó “mình với ta tuy hai mà một”, nghe đài nào cũng như nhau, cũng là ông Huyền Vũ tường thuật. Còn có ai khác nữa đâu.

Hồi đó chúng tôi cũng đã có dự định “tuyển” một tay nói năng lưu loát, tường thuật cho ra vẻ ta đây cũng có “giá” như đài Sài Gòn. Nhưng trải qua vài cuộc thử nghiệm đều không thể tìm được ai làm xướng ngôn viên trực tiếp khả dĩ gần bằng ông Huyền Vũ chứ chưa nói đến bằng ông. Vì thế nên chúng tôi đành “thua”.

Thêm một điều nữa cần phải nói là trong thời chiến, đài phát thanh Quân Đội và Đài Sài Gòn thường là một người của quân đội sang chỉ huy, nhưng vẫn cứ “cạnh tranh” rất thẳng thắn. Đài nào cũng muốn có tin trước và tin hay. Đó là lương tâm nghề nghiệp. Ngay cả khi bạn tôi là ông Nhất Tuấn hay ông Vũ Đức Vinh làm “sếp” ở đài Sài Gòn và tôi phục vụ ở Đài Quân Đội thì chúng tôi cũng cạnh tranh gay gắt như thường. Các phóng viên và biên tập viên hai đài phát thanh này cũng vậy, họ thường là bạn của nhau, thậm chí là bạn thân, nhưng đến khi vào việc thì mỗi người chạy theo một cách lấy tin, mỗi người đều có cách tường trình “đặc biệt” của mình. Nếu không thế thì đài nọ dựa vào đài kia, làm sao có chương trình hay phục vụ thính giả được. Nhưng đến khi có ông Huyền Vũ tường thuật đá banh thì chúng tôi phải xin “Quý đài cho nhập sóng” để quân nhân ở các đồn xa được nghe ông Huyền Vũ chứ không phải người khác.
Ông Huyền Vũ đã trở thành một thứ không thể thiếu của tất cả những trận đá banh của Sài Gòn trước những năm 1975.

Một trận đá banh mà không có Huyền Vũ tường thuật thì kể như đó là một trận “tầm thường”. Cái tên ông gắn liền với giá trị của tất cả những trận banh. Người lính trên khắp các quân khu, ngay cả khi ở chiến trường, cũng mong ngóng chờ nghe tường thuật đá banh, một điều tất nhiên là nghe ông Huyền Vũ tường thuật mới đúng là “vừa được nghe, vừa được xem đá banh”. Chúng tôi hiểu rất rõ điều này nên dù là xin “tường thuật ké” cũng sẵn sàng dẹp hết “lòng tự ái” để làm. Trong khi những tin tức chiến trường, những tin tức đặc biệt, bao giờ chúng tôi cũng làm tường thuật với những phóng viên của đài mình. Như thế đủ chứng tỏ cái giá của ông Huyền Vũ lớn lắm, cái bóng của ông như cây đại thụ bao trùm lên tất cả những giá trị khác.

Từ ngữ Huyền Vũ không thể quên

Sau này, khi ông không còn ở trong quân đội nữa, thỉnh thoảng ông vẫn có dịp ghé vào đài Quân Đội theo lời mời của Ban chương trình để nói về một vấn đề thể thao hoặc tự đọc một bản tin thể thao nào đó. Tôi cho rằng ông cũng vẫn còn những tình cảm đậm đà với những quân nhân lúc nào cũng là thính giả trung thành của ông. Tôi chỉ được gặp ông một hai lần và câu chuyện cũng chỉ là những chuyện thông thường. Trong tôi, ông vẫn là một người anh, rất gần mà rất xa. Bởi tôi thường không gặp ông ở bất kỳ một nơi chốn nào mà những nhà báo hay đến, có lẽ chỉ có nhà hàng Thanh Thế là nơi những ký giả “gạo cội” của “làng thể thao Sài Gòn” hay ngồi thì tôi lại thường ít lui tới.

Lúc đó, ký giả Thạch Lê, nguyên là “sếp” của tôi, cũng là một ký giả thể thao có tầm cỡ ngoài miền Trung, nhưng cũng chưa thể nào so sánh với ông Huyền Vũ được. Hầu như suốt những năm tháng sống ở Sài Gòn trước năm 1975, không có trận banh nào mà ông Thạch Lê không kéo tôi đi. Khi có những trận banh ở sân Tao Đàn và sau này là sân Cộng Hòa, phòng báo chí của Cục TLC gần như ngưng làm việc. Chỉ có Huy Vân ngồi một mình cặm cụi với chồng bài vở. Sau khi đi xem đá banh về, ông Thạch Lê đến tòa báo ngồi viết tường thuật, hôm nào ông dở chứng lười thì bảo tôi viết tường thuật “cho vui”. Cũng may mà tôi chỉ viết một hai bài, đến nay tôi không còn nhớ rõ, nhưng chữ nghĩa về tường thuật đá banh thì chắc là phải “mượn” chữ của ông Huyền Vũ. Bởi có những từ ngữ ông dùng rất hay mà khó có thể thay thế được. Đến nay, sau hơn ba mươi năm rồi mà tôi còn nhớ như in hai chữ “quả da” mà ông dùng thay cho quả banh và “mũi tên vàng Nguyễn Văn Tư bên cánh trái đang lao xuống… lao xuống, đi tới… tới nữa và … sút”. Tim tôi muốn nhảy dựng lên với giọng nói truyền cảm kỳ lạ của ông.

Khi nghe ông nói thì xúc động như thế, song khi viết ra theo lối của mình thì thấy nó… vô duyên thế nào ấy. Không thể nào bắt chước được lối tường thuật của ông, dù là trên chữ nghĩa. Ông đã là một bậc thầy không ai bắt chước được.

Những thính giả trung thành còn ở lại Sài Gòn

Ở đây, tôi không lạm bàn thêm đến tài nghệ và uy tín cũng như cuộc sống của ông bởi tôi đã vừa được đọc những bài của các ông Phạm Trần, ông Vũ Đức Vinh, ông Nguyễn Thiện Ân, – là những nhà văn, nhà báo, tôi cho rằng “có đủ thẩm quyền” viết về Huyền Vũ vì các vị này đã từng biết về ông cả trước và sau năm 1975. Tôi chỉ xin nói về những chuyện ở Sài Gòn khi tôi được tin ông vừa mất.

Ông Vũ Đức Vinh gửi “meo” báo tin và gửi bài viết về ông cho tôi trước khi ông Huyền Vũ mất 1 ngày. Sở dĩ như thế vì trong bài, ông Vinh có một đoạn đề cập đến tôi và những buổi trực tiếp xem truyền hình đá banh tại VN. Ông là người rất kỹ tính và cũng muốn biết thêm vài chi tiết nên hỏi cho “chắc ăn”. Được hỏi bất ngờ nên tôi chưa sẵn sàng tài liệu gửi cho ông, nhất là những cái tên của những “chuyên viên tường thuật bóng đá” ở VN hiện nay. Bởi có tới năm, mười “chuyên viên bình luận” từ Hà Nội đến Sài Gòn và các đài địa phương nên tôi không thể nào nhớ hết và cũng chẳng có ai nổi trội nên tôi không để ý đến tên tuổi.

Hôm sau, vào ngày 24/8, khi tôi còn ở Sài Gòn, được ông Vinh báo tin “đại lão ký giả Huyền Vũ đã ra đi”. Trưa hôm đó, tôi phải trở về Lộc Ninh. Lại nhận được “toàn văn” cáo phó và tiểu sử của ông Huyền Vũ của anh Đỗ Nghi, Tổng thư ký Thời Báo ở Canada và anh “gáy” tôi “chắc chắn anh sẽ viết bài cho kỳ sau phải không ?”. Ngay lúc đó, tôi trả lời đã có bài của anh Vinh, tôi viết có là thừa không ? Thêm một điều nữa là tôi chỉ được biết về ông rất ít vào những năm còn ở Sài Gòn, từ khi ông qua Mỹ thì tôi không biết gì thêm, những anh em ở bên đó biết nhiều hơn tôi. Thế nhưng một ông chủ báo ở Mỹ bèn “gáy” tiếp : “người Sài Gòn thì phải có tiếng nói của Sài Gòn chứ”. Tôi nghĩ ông này đúng nên điện thoại về Sài Gòn, hỏi một người bạn có khá nhiều liên hệ với “cánh báo chí”, anh này trả lời chưa biết tin tức gì về ông Huyền Vũ ra đi. Hỏi thêm một vài người nữa, cũng “chưa biết gì” về tin này.

Trịnh Cung : một thế hệ say mê Huyền Vũ

Tôi điện thoại cho họa sĩ Trịnh Cung, ông này cũng là một tay “ghiền” bóng đá. Vài lần ngồi với những người bạn khác, khi bàn về những trận bóng đá gần nhất, Trịnh Cung tỏ ra sắc sảo và hứng thú khi “bình luận” về vấn đề này. Vừa nghe tôi báo tin, anh cũng kêu lên:

– Trời ơi, ông ấy mất rồi sao ?

Lặng đi một lát, anh mới nói được :

– Tôi nghe ông từ khi còn bé, đến bây giờ vẫn không thể nào quên. Đúng là cho đến bây giờ vẫn chưa ai có thể “bén gót” được ông chứ đừng nói đến thay thế. Hối đó còn là cậu học sinh trung học, không phải chỉ mình tôi mà cả một “thế hệ” những học sinh ở Nha Trang như tôi đều “mê” ông.

Tất nhiên, tôi lợi dụng ngay cơ hội này để hỏi tiếp :

– Anh vừa nói “không ai thay thế được”, vậy còn những chuyên viên bình luận bóng đá của các đài phát thanh truyền hình bây giờ ở Việt Nam thì sao ?

Không úp mở, Trịnh Cung trả lời ngay :

– Làm sao mà bì được với Huyền Vũ. Có thể nói chưa ai có thể so sánh được với ông.

– Bây giờ họ bình luận thế nào ?

– Tôi chỉ xem và nghe ở truyền hình chứ không nghe truyền thanh. Hầu hết là lớp trẻ, họ “cà kê dê ngỗng” quá nhiều làm giảm “tiết tấu” của cuộc tường thuật một trận banh đang hào hứng. Họ la lên “hào hứng, sôi nổi” mà không thấy sôi nổi như trên sân banh. Trong khi, vào thời đó chưa có truyền hình, ông Huyền Vũ chỉ có tiếng nói qua “làn sóng điện” chứ không có hình, vậy mà nghe ông, thính giả cứ tưởng như đang được coi một trận đấu thực thụ đang diễn ra từng pha bóng trước mặt mình. Ông thấy chưa, một sự khác biệt lớn lao đến thế đấy. Nghe ông ấy truyền thanh từng đường banh: “đi tới trước khung thành rồi, Ngầu đang lừa banh, qua rồi, Há đứng đợi bên trong, đưa banh, Há bỏ cho Ngầu, Liêm ở phía sau sẵn sàng, cú sút như trái phá… nhưng “quả da” đụng khung thành bật ra. Tam Lang lại được banh từ giữa sân, đưa dài lên, cú sút của Tư chéo góc… Dzô ! Dzô ! Dzô, tuyệt tác. Sân cỏ nổ tung ! Rồi Đực, rồi Rạng với đường banh huê mỹ vặn chéo người cứu một bàn thua trông thấy khiến khán giả choáng váng…”. Ông ấy làm tôi ở nhà cũng choáng váng theo.

Ngừng một chút Trịnh Cung kể tiếp:

– Hồi ấy những đội banh như Ngôi sao Gia Định, AJS và sau là Tổng Tham Mưu, Quan Thuế đấu với nhau. Rồi những Autobus Hồng Kông, Nam Hoa sang VN thi đấu là những ngày hội lớn của Sài Gòn và của cả tụi học sinh trung học tỉnh lẻ như bọn tôi, bàn tán mấy ngày trước và sau trận đấu chưa dứt. Và “học” lại toàn những từ ngữ của ông Huyền Vũ.

– Vậy phải kể như ông ấy là một thiên tài.

– Đúng thế. Một thiên tài trăm năm trước không có, trăm năm sau chắc cũng chưa thể có.
Chúng tôi hỉ hả cười vì nhận định đó và gác máy.

Ngay buổi chiều hôm đó Trịnh Cung lại điện thoại cho tôi ngỏ ý muốn có bản Cáo phó và Tiểu sử của ông Huyền Vũ. Theo anh thì anh sẽ viết bài cho một tờ báo nào đó, có lẽ là ở Sài Gòn và cần thêm một hai tấm hình gửi theo bài. Tôi chỉ có vài tấm hình của mấy người bạn từ Virginia gửi về, đúng ra thì phải giữ làm “bửu bối”, nhưng trong trường hợp này thì càng được phổ biến bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Tôi cứ nghĩ thế nên dù cho những hình ảnh mà tôi gửi theo đây đã được đăng rồi cũng xin được đăng lại để cùng bạn đọc, thêm một lần nữa nhớ về một thiên tài vừa khuất bóng.

Thầy giáo cũng bỏ học nghe Huyền Vũ tường thuật

Người thứ hai mà tôi hỏi chuyện là Thái Phương – một ông nhà giáo và cũng là nhà văn. Tôi cứ đinh ninh ông nhà giáo chắc biết ít hơn về đá banh. Quả đúng như vậy, nhưng Thái Phương nói :

– Tôi ít xem đá banh, song lại rất mê ông Huyền Vũ ngay từ những ngày còn học đệ nhất Chu Văn An.

– Tức là khi nghe khi không ?

– Vâng, chúi đầu vào học, thỉnh thoảng mới có thì giờ nghe thôi. Cứ đụng nghe là mê, thế là bỏ luôn một buổi ngồi học. Tôi sợ “mê” ông ấy quá bỏ học lu bù, thi không đậu thì phải đòn. Mỗi lần nghe loáng thoáng ông ấy tường thuật qua một cái radio nhà hàng xóm hoặc của một người bạn nào đó, tôi lại “trốn”. Nhưng anh ạ, trốn cũng không khỏi “ma lực” của cái giọng nói “quái đản” ấy. Cứ như “Học trò xứ Quảng ra thi. Thấy cô gái Huế bỏ đi không đành”. Tôi lại mon men đến nghe và nghe rồi là quên luôn sách vở.

– Thế thì ông mê Huyền Vũ còn hơn mê bà xã của ông hồi đó.

– Ấy, dù có thế thật thì xin anh cứ cho như mê bằng nhau đi cho nó vui cửa vui nhà.

Thái Phương vẫn có tiếng cười hồn nhiên chân thật của một anh “nhà giáo”. Anh tỏ vẻ tiếc nuối một tài năng có một không hai của Việt Nam. Anh lại ngẩn ngơ :

– Tiếc rằng sau này lớn lên, có thì giờ để xem đá banh và nghe tường thuật thì ông Huyền Vũ không còn ở Sài Gòn nữa.

– Thì anh coi và nghe những người bây giờ cũng được chứ sao.

Thái Phương lại cười :

– Tất nhiên là cũng được, nhưng rất nhiều lần tôi nói với thằng con trai tôi là những trận này mà nghe ông Huyền Vũ “diễn tả” mới thật là sướng tai. Có lần nghe ông tường thuật, bố suýt đá vào… mông “bà già” con đấy. Tôi tính kể cho nó nghe ông ấy tường thuật như thế nào mà không sao kể được. Nó… kỳ lạ quá, tôi cố gắng bắt chước, không bao giờ giống. Tuy vậy, thằng con tôi cũng hiểu được ông Huyền Vũ đôi phần.

– Cho thế hệ trẻ ngày nay biết được về ông Huyền Vũ là hay lắm rồi, anh đừng đòi hỏi gì hơn. Chính vì cái sự “ngắc ngứ” của anh mà cậu con trai của anh sẽ hiểu thêm được rằng bố nó tài giỏi như thế mà không “diễn tả” được hết tài năng của ông Huyền Vũ thì ông ấy còn tài năng đến như thế nào. Sự tưởng tượng đôi khi còn mạnh hơn là những gì ông muốn cho con trai ông biết đấy. Nó sẽ còn sống mãi trong tâm tưởng của lớp trẻ bây giờ.

– Tôi cũng mong như thế. Anh đã làm được một việc đáng làm anh ạ.

Giáo sư trường Quốc Học cũng mê

Sau đó tôi lại gọi cho ông Lê Khắc Cầm, một nhà nghiên cứu văn học hiện nay, trước năm 1975, ông là giáo sư Anh văn của Trường Quốc Học – Huế. Tôi gọi “cầu âu” thôi, bởi cứ cho rằng ông giáo sư đạo mạo này ít khi có thì giờ theo dõi đá banh. Thế nhưng tôi lại găp may một lần nữa. Ông Cầm sốt sắng trả lời ngay:

– Không nhiều lắm nhưng cũng đủ để biết ông Huyền Vũ là một nhà tường thuật tài danh. Bao nhiêu năm cũng không thể quên một con người như thế.

– Hồi này ông còn coi đá banh không ?

– Đôi khi xem truyền hình, không coi đá banh thì chẳng biết coi cái gì. Thế nên vẫn coi.

– Ông thấy hồi này các nhà bình luận thể thao thế nào ?

– Tôi chỉ biết về những người bình luận “bóng đá” trên truyền hình thôi. Hiện nay có một số người trẻ tuổi, tôi chỉ nhớ ở đài truyền hình Hà Nội có Long Vũ, anh em Quang Tùng và Quang Huy, thường xuyên có tiếng nói ở các trận đấu quan trọng trong nước cũng như những trận của nước ngoài. Ở Sài Gòn có Lý Chánh, Anh Tuấn… Họ mua quyền phát sóng trực tiếp từ các kênh thể thao quốc tế và ngồi tường thuật bằng tiếng Việt. Đôi khi họ bê nguyên con tiếng Anh ở các kênh như Star Sport.

– Theo ông thì người nào bình luận nổi nhất ?

Suy nghĩ một chút, ông Cầm dứt khoát :

– Nói cho đúng, họ sàn sàn nhau. Nếu cần phải đưa ra một so sánh tạm thời thì tôi thấy có một bình luận viên của đài Đồng Nai là khá hơn cả. Trong thời đại thông tin điện tử bùng nổ này, họ có lợi thế là lấy được rất nhiều tư liệu trên net hoặc qua báo chí nước ngoài. Phần tài liệu của họ đầy đủ, có kiến thức bao quát, nhưng họ xen vào các trận đấu quá nhiều chi tiết làm giảm đi tính hấp dẫn của trận đấu đang diễn ra. Họ cho khán giả biết những cái chưa cần biết vội. Còn ông Huyền Vũ cho khán giả “thấy” cả những gì cần biết đang diễn ra. Ông Huyền Vũ nói năng lưu loát, tuôn trào như suối chảy thì bây giờ một vài người bình luận “ngắc ngứ, giật cục”, thường phải dừng lại để tìm chữ, tìm tên cầu thủ cho đúng, làm mất cái hứng thú của một trận đấu. Nếu sửa được những khuyết điểm này, họ sẽ khá hơn.

Ông Cầm suy nghĩ trước khi tiếp :

– Nghe một trận ông Huyền Vũ tường thuật có cảm tưởng như ngồi trên sân banh đã đành, ông còn truyền cho thính giả ngồi nhà cả cái “máu me” của các cầu thủ đang đi banh, lừa banh, bị thương hoặc chiến thắng và ngay cả khi thua trận. Đôi khi, tôi cứ nghĩ là ông ấy đang đọc truyện trinh thám. Ngoài khả năng ra, ông ấy là một tài năng thiên phú đấy ông ạ.

Tôi cũng nghĩ như ông Cầm. Bởi thiên tài cần phải có thêm yếu tố thiên phú, tức là cái của “trời cho”, như một người con gái đẹp hay xấu là do “thiên định”. Muốn đẹp như Tây Thi cũng chẳng được mà muốn xấu như Chung Vô Diệm cũng chẳng xong. Thế nên, cái chất giọng trầm ấm của Huyền Vũ là của trời cho. Và ông Cầm kết luận giùm tôi:
– Không ai thay thế ông Huyền Vũ được.

Người trẻ tuổi ở đây vẫn còn biết ông Huyền Vũ

Khi tôi nói chuyện ông Huyền Vũ vừa tạ thế với một vài người trẻ tuổi như Khôi Hạo, năm nay chừng hơn ba mươi tuổi. Anh ta cũng biết và cũng nghe danh tiếng của ông Huyền Vũ, dù chưa một lần được nghe ông tường thuật bóng đá. Mấy người bạn Khôi Hạo ở tuốt vùng quê này cũng thế. Có vẻ như lớp tuổi ngoài ba mươi ở VN vẫn còn biết đến ông, có lẽ do “dư âm” của những bậc đàn anh kể lại. Nhưng lớp sau 30 chắc không còn biết gì về ông Huyền Vũ nữa. Tuy nhiên, những bài báo của những Phan Trần, Vũ Đức Vinh, Nguyễn Thiện Ân… và nhiều người khác nữa sẽ để lại hình ảnh và tiếng tăm của ông vang vọng mãi dù bất cứ ở đâu. Tôi cứ hy vọng rằng đã là người Việt Nam thì phải biết và nhớ đến ông Huyền Vũ.

Tôi tưởng nói như thế cũng là đủ cho tâm trạng của một người và không ít người hiện ở Sài Gòn tưởng nhớ đến ông Huyền Vũ với tất cả tấm lòng thương tiếc vô hạn của mình.

Xem Clip : Cuộc phỏng vấn sau cùng với cựu danh thủ túc cầu VN Lại Văn Ngôn (Ngôn II)

http://youtu.be/kgQVY9Q61qk

MỘT HUYỀN VŨ

Vũ Đức Vinh

Qua điện thoại tôi nói chuyện với ký giả Huyền Vũ lần chót vào quãng thời gian trên bốn năm trước. Tiếng nói của ông hồi đó còn tốt nhưng ông đã gặp khó khăn trong việc cầm ống nghe, rồi ít lâu sau người nhà cho biết cơ thể ông ngày càng suy yếu không thể nói chuyện điện thoại được nữa. Coi như đã cách biệt ông từ lần đó. Cho tới sáng hôm qua ký giả Nguyễn Thiên Ân từ Oklahoma cho hay ký giả đại lão Huyền Vũ đang ở trong giờ phút có thể giã biệt con cháu bất cứ lúc nào. Ông Ân nói chắc đã tới phiên đại lão nhận vé lên tầu – chuyến tầu suốt về đoàn tụ với tổ tiên.

Là một ký giả thể thao lão thành danh tiếng qua các bản tường trình các trận tranh giải bóng đá quốc gia, quốc tế qua các làn sóng phát thanh của đài Phat Thanh Sai-gòn trong suốt thời gian gần 25 năm, Huyền Vũ có nhiều bạn bè quí mến ông, và hàng triệu người say mê bóng đá mến mộ ông dù chưa từng gặp. Hẳn tất cả những người này sẽ ngậm ngùi đón nhận tin ông ra đi như một mất mát. Họ đã thiếu vắng tiếng nói của ông từ ba mươi năm trước, khi các làn sóng phát thanh quốc gia đã im tắt, nhưng giờ đây họ mất đi một con người đã từng chinh phục lòng mến mộ của họ qua nhiều năm.

Huyền Vũ có một giọng nói thiên phú, trường âm và truyền cảm; ông lại có một phương thức tường thuật các trận tranh giải bóng đá rất tự nhiên và sống động. Đằc biệt ông nắm vững kỹ thuật, chiến thuật bóng đá, và có một trí nhớ đặc biệt có thể nói đúng boong tên từng cầu thủ ngay khi cầu thủ cùng đội bóng ra quân lần đầu, và dù là cầu thủ mang tên Việt ngắn gọn hay tên Thái, tên Lào, tên Thụy Điển dài lê thê. Qua làn sóng truyền thanh vô hình, lời tường thuật của Huyền Vũ có thể giúp người nghe mường tượng ra quang cảnh trận đấu, theo dõi được từng đường banh công thủ giữa hai đội tranh tài để rồi hòa mình với những cảm xúc biến đổi thăng trầm của hàng chục ngàn khán giả quanh sân cỏ. Ông dẫn dắt người nghe xác định vị trí trái banh từ lúc khởi đi, đưa ngang qua trái hoặc qua phải, trả về hoặc thọc sâu, đánh đầu hoặc đá móc… cho đến lúc banh gặp chân làm bàn tạo nên cú sút sấm sét để thọc lưới….., và rồi tiếng nói của ông vui reo lên theo tiếng hò vang trấn động cầu trường.

Cũng có khi trái banh đi trật sà ngang trong gang tấc ra ngoài khung thành thì tiếng nói của ông bỗng hét lên giận dữ hay sìu xuống tiếc nuối sót sa, phản ảnh cái tâm trạng vui buồn của khán giả quanh sân cỏ. Trong lúc tường thuật ông còn thường cung cấp nhiều tin tức, dữ kiện, và bối cảnh liên quan đến thành tich của từng đội bóng, chân cẳng từng cầu thủ , và kỹ thuật, chiến thuật áp dụng trong trận đấu, khiến tính hiếu kỳ tìm hiểu của người nghe được thỏa mãn một cách thoải mái. Bản tường thuật của ông mang rât nhiều chất liệu thông tin (informative) kèm theo những chi tiết có tính cách dẫn giải (educative), do đó nhiều người mộ điệu dù đến tận cầu trường mua vé vào coi trận đấu tận mắt mà vẫn mang theo máy thâu thanh cầm tay để theo dõi tường trình và lời bình giải của Huyền Vũ.

Khi hành nghề ký giả Huyền Vũ thường đứng bên chiếc máy vi âm và các dụng cụ trang bị truyền thanh đăt ngay khu khán đài danh dư. Ông nói không ngừng trong suốt trận đấu, kể cả thời gian giải lao và những lúc chờ nhặt bóng bay ra ngoài biên, hay thay đổi cầu thủ. Ông sử dụng từ ngữ thật ngắn gọn, xúc tich và gợi hình để diễn tả từng diễn biến trên sân cỏ khiến người nghe có thể dễ dàng ghi nhận dù không chính mắt nhìn thấy. Ông cũng luôn luôn dùng những từ ngữ ẩn dụ khiến lời lẽ dễ dàng lọt tai và người nghe lãnh hội cảm nhận được ngay. Có một thời nhiều từ ngữ ông dùng trên sân cỏ trở thành phổ thông trong dân gian, như: “uổng dịp thắng bằng vàng”, “con én không mang lại mùa xuân”, “hụt thắng trong đường tơ kẽ tóc”, “cú sút sấm sét”. Rồi những đường banh ngang dọc trao trả ăn nhịp như đan thêu trên sân cỏ được ông mô tả một cách vui tươi thi vị là “những đuòng banh huê dạng”. Qua cách nói của ông, nhiều từ ngữ thông dụng đã trở nên mặn mà có duyên. Có thể nói Huyền Vũ đã thi vị hóa ngôn ngữ tiếng Việt trong nền thể thao bóng đá, và đã khiến dân mê bóng đá qua làn sóng phat thanh thấy gần ông, quí mến ông, coi tiếng nói Huyền Vũ là tiếng nói của họ.

Cùng thời với Huyền Vũ có các ký giả thể thao danh tiếng khác như Thiệu Võ, Phan Như Mỹ. Nhưng Huyền Vũ đã nổi bật, sáng chói, được giới mộ điệu biết đến nhiều hơn qua chương trình bình luận tường thuật truyền thanh bóng đá trên các làn sóng phát thanh của hai đài Sài-gòn và Quân Đội. Chương trình của ông thu hút một khôí lượng thính giả khổng lồ rất trung thành cho hai đài này. Trong mùa bóng, cứ mỗi khi có trực tiếp truyền thanh trận bóng lớn là các chương trình phát thanh trùng ngày giờ hôm đó đương nhiên bị dẹp bỏ để nhường làn sóng cho bóng đá. Huyền Vũ được rất, rất nhiều người nghe và yêu mến.

Cách đây trên 5 năm, để bày tỏ tấm lòng quý mến trong tình đồng nghiệp với ký giả thể thao Huyền Vũ, một số cựu ký giả của miền Nam Việt Nam trước 1975 đã tỗ chức một ngày vinh danh ông tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Đuợc yêu cầu góp ý trong dịp đó tôi đã có nhận xét là khó có một Huyền Vũ thứ hai để nối tiếp Huyền Vũ đi trước. Điều này đến nay được nhà văn Văn Quang rất sành điệu bóng đá từ trong nước xác nhận còn đúng. Ông Văn Quang từng là một “fan” của Huyền Vũ trong suốt 21 năm Cộng Hòa. Rồi từ gần 20 năm qua ông lại coi đá bóng trên “khắp các kênh” (cứ kênh nào có trận đá thì coi); ông còn có cả “đài kỹ thuật số” để coi các trận của Anh, Pháp, và theo dõi qua vệ tinh các trận đấu của các đội Nam Mỹ như Brasil, Mexico. Chính ông cũng đã từng tường thuật các trận bóng đá trên báo. Nói như vậy để thấy ông là người có nhiều hiểu biết về tình hình bóng đá trong nuớc hiện nay.

Ông cho biết hiện có 5 hay 6 “ký giả thanh niên” trong số có con trai của Lý Quý Chung (cố dân biểu Việt Nam Cộng Hòa) phụ trách bình luận và tường thuật bóng đá trên các đài truyền hình và đài phát thanh Sài-gòn. Họ nghiên cứu về các trận đấu và các cầu thủ rât kỹ, đến mức có thể nhớ và mang so sánh một đường banh ở trận đấu này với đường banh ở một trận đấu khác đã diễn ra từ cả tuần cả tháng trước. Mỗi ký giả này làm cho một đài, nhưng nói chung họ được khá nhiều khán thính giả theo dõi. Theo Văn Quang, không thể nói là các ký giả thể thao truyền thanh truyền hình hiện nay thua kém tài nghệ Huyền Vũ, nhưng ông ghi nhận Huyền Vũ được chính ông và các thính giả, khán giả gần gủi hơn, dành cho nhiều cảm tình riêng tư hơn. Hiển nhiên Huyền Vũ đã tạo được một sắc thái riêng, vượt trội, lôi cuốn hơn, được quý mến hơn, mà người khác dù tài nghệ có cao cũng khó bắt kịp.

Tôi tin rằng những người yêu chuộng bóng đá, mến mộ Huyền Vũ vẫn mong có một Huyền Vũ mới để kế tiếp Huyển Vũ của thế kỷ trước, để giúp người mộ điệu tận hưởng cái thú rộn rã háo hức sôi động khi thưởng thức trận đấu bóng đá, thưởng thức bằng mắt và bằng tai luôn. Chắc chính Huyền Vũ tiền bối cũng mong như thế khi hướng về lớp hậu duệ. Nhưng đến bây giờ, qua tin tức ghi nhận mới nhất trên đây, chúng ta vẫn chỉ có một Huyền Vũ . Ký giả đại lão Huyền Vũ có ra đi, tiếng nói tường thuật bóng đá của ông qua các làn sóng phát thanh những năm xưa vẫn và sẽ còn âm hưởng lâu dài trong lòng người mến mộ ông và trong lịch sử nền thể thao bóng đá Việt Nam.
Bài viết này được hoàn tất ngay sau khi người viết đuợc tin không lành về tình trạng sức khỏe của ký giả đại lão Huyền Vũ. Hi vọng con tầu đón ông chưa đến hay không đi, vé tầu ông chưa nhận hay nếu có nhận thì còn đề nó trong túi, và hy vọng tới lúc này ông vẫn nghe đuợc những gì thân hữu và những người mến mộ ông viết về ông.

(Bellevue, Bang Washington – Ngày 21 tháng 8, 2005)

MỘT CHÚT VỀ HUYỀN VŨ (1914-2005)

Tên thật Nguyễn Ngọc Nhung, tự Huyền Vũ

– Sanh ngày 1/10/1914 tai Phan Thiết

– Đến Mỹ và định cư ở Newport News, Virginia năm 1975

 – 1976-1981: Làm việc cho hãng NOLAND về Data Processing.

 – 1988 : Đậu bằng Cữ Nhân về Political Science ở Đại Học Christopher Newport University (CNU) Newport News, Virginia.

Vì muốn làm gương cho con cháu để thấy sự cần thiết của học vấn và bất cứ lớp tuổi nào cũng có thể học được, nhứt là ở Hoa Kỳ có đủ phương tiện cho những ai muốn đi học. Vừa làm việc ở hãng Noland vừa đi học để thi GED, trước khi đi học bán thời gian, 8 năm, ở Đại Học Christopher Newport (CNU) để lấy bằng Củ Nhân về Political Science.
Trong khi làm việc với Noland Company và sau khi hưu trí ông có viết thể thao, kịch ngắn, chuyện vui cho báo và nguyệt san, thâu âm các tin tức thể thao cho chương trình phát thanh Việt ngữ.

Ngoài ra ông cũng có tham dự các buổi tổ chức Thể Vận Thể Thao Việt Nam ở Michigan, Texas, Washington DC ….

– 1988 : Ra mắt hồi ký “ Tôi làm Ký Giả Thể Thao”

 – 1999 : Duyệt lại và tái bản hồi ký “Tôi Làm Ký Giả Thể Thao”

Ông chuẩn bị để viết hai cuốn sách về “Lưu Vong Trên đất Mỹ” và chuyện tình giữa ông và người bạn đời, Madeleine Ngà, nhưng không thực hiện đươc ý định nầy vì bệnh Parkinson.

– Madeleine Hồ Thị Ngà, qua đời năm 1997

– Chọn Newport News, Virginia để lập nghiệp vì ông bà Joe Leming, người bảo trợ của gia đình là bạn của anh cả Nguyễn Quốc Dũng khi hai người được thụ huấn về ngành Quân Vận ở Fort Eustis (Newport News, VA)

– Tất cả 8 người con, 6 trai và 2 gái đang ở Virginia. Cháu nội, ngoại : 19 – Cháu cố : 13

thụyvi post

2 TRÁI TIM BỒ TÁT

HAI CÂU CHUYỆN ĐẦY CẢM ĐỘNG

1- PHÉP LẠ LESLIE LEMKE !

HNC.Gr : Nếu bạn nghe được tiếng Anh, sau đây hãy nghe bà May Lemke trả lời phỏng vấn vào năm 1981 với đài truyền hình ABC về trường hợp của cậu bé Leslie Lemke, đứa con nuôi trì độn tâm trí, không mắt, liệt não bộ, mang đời sống thực vật, hoàn toàn không phản ứng với âm thanh và xúc giác từ khi mới ra đời.

Nhưng bà May vẫn kiên trì nuôi dạy Leslie bằng cả tấm lòng Bồ Tát đến khi Leslie trưởng thành và trở thành một nhạc sĩ piano được mọi người chú ý. Bà nuôi dạy Leslie bằng tâm lý và cả sự nguyện cầu ơn trên xin ban phước lành cho đứa bé xấu số tật nguyền này.

http://youtu.be/ZWtZA-ZmO

Nguyễn Việt

Ngày này sang ngày nọ, tháng này sang tháng khác, năm này qua năm kia, bà May Lemke, lúc bấy giờ 52 tuổi, là người đang nuôi dưỡng 5 người con của mình, đã lãnh nhận việc chăm sóc đứa trẻ bị bỏ rơi, đã trò chuyện, đã hát cho em nghe, khích lệ và yêu thương em, đã cố gắng gần như tuyệt vọng để xuyên qua bức tường câm điếc và bất động. Tận dụng hết cách, hết sức, rồi bà quay sang cầu nguyện. Và rồi… phép lạ đã xảy ra.

Ngày hôm ấy, bệnh viện Quận hạt Milwaukee đã phải đối diện với nan đề : một hài nhi 6 tháng tuổi tên là Leslie, trì độn tâm trí, không mắt, liệt não bộ, mang đời sống thực vật, hoàn toàn không phản ứng với âm thanh và xúc giác. Cha mẹ em đã bỏ rơi em. Nhân viên trong bệnh viện không biết phải hành xử ra sao, mãi tới khi một bác sĩ chuyên khoa nhi đồng đã đề cập đến May Lemke, một nữ y tá đang sống gần nhà thương. Cô nhân viên gọi điện thoại cho May để nói về tình huống của Leslie, và cô nghĩ có phần chắc cậu bé bị bỏ rơi chỉ kéo dài cuộc sống trong một thời gian ngắn nữa mà thôi. Cô ta hỏi người bên kia đầu dây : “Bà có thể giúp chúng tôi chăm sóc cậu bé đang khi cậu còn sống được không ?”. Bà May khẳng khái đáp : “Tôi nhận lời. Nếu tôi chăm sóc em bé, chắc chắn em sẽ không chết” . Vào lúc ấy, các cô y tá trong bệnh viện không hề đề cập đến chuyện ngân quỹ bệnh viện của quận hạt không thể cung cấp tiền cho việc chăm sóc trẻ sơ sinh, và giả như có yêu cầu thì phần chắc là sẽ không bao giờ được họ chấp thuận.

Bà May và người chồng thứ hai là ông Joe, sống trong một căn nhà nhỏ gần đó bên bờ hồ Pewaukee. Là một cô dâu đến từ Anh sau Thế chiến thứ nhất, bà có 5 người con đã trưởng thành. Người chồng đầu tiên qua đời vào năm 1943, và 5 năm sau, bà tái hôn với Joe Lemke, một công nhân xây dựng lành nghề.

Khi chấp nhận nuôi Leslie, bà chấp nhận em như một em bé – không khác với những em bé khác, cần được nuôi dưỡng và cần được yêu thương.

Khi cho em bú sữa bình lần đầu tiên, bà nhận ra Leslie thiếu phản xạ mút, là phản ứng tự phát nơi hầu hết các trẻ sơ sinh. Hiển nhiên, em đã được nuôi bằng một ống dẫn sữa xuống dạ dày tại bệnh viện. Để tập cho em mút, bà đặt núm vú bình sữa giữa đôi môi của em, rồi đặt một núm vú khác giữa đôi môi của mình, áp sát vào má Leslie, bà mút núm vú đang lúc má của bà cọ sát với má của em, tạo ra âm thanh mút núm vú. Leslie đã nắm bắt được bài học này.

Đang lúc chăm sóc em, bà May thường hát những bài hát mà mình được nghe đi nghe lại từ thời thơ ấu. Bà đã thay đổi một vài từ để phù hợp với trường hợp của Leslie :

Từ trời cao rớt xuống một em bé,

Một em bé không có mắt

Một em bé luôn nằm nghỉ

Một em bé mà Thượng đế biết rõ nhất”

Bà tắm cho em, ôm em hàng giờ, trò chuyện với em, hát cho em nghe. Vậy mà em bé không hề cử động, miệng không thốt ra một âm thanh.

Năm này sang năm nọ, bà May kiên trì chăm sóc Leslie, nhưng em vẫn bất động. Không cười, không nước mắt, không cả âm thanh. Nếu như bà May không cẩn thận cột Leslie vào lưng ghế, em sẽ bị té nhào xuống đất ngay.

Dù vậy mặc lòng, bà May không bao giờ ngưng trò chuyện với Leslie. Bà mát xa lưng, chân, cánh tay, và ngón tay. Bà tiếp tục cầu nguyện, và đang khi cầu nguyện, đôi khi bà khóc, bà đặt bàn tay của Leslie nơi má mình để em có thể cảm nhận được nước mắt. “Ngay lúc này mẹ cảm thấy buồn, và mẹ đang khóc” Bà nói với Leslie.

Bà May không hề coi Leslie như là một gánh nặng. Bà tự nói với chính mình. “Tôi đã không đi tìm Leslie, hẳn phải có một lý do tại sao tôi lại được chọn để nuôi dưỡng cậu bé này. Sẽ có một lúc nào đó theo thời gian, Thiên Chúa sẽ cho tôi biết được lý do tại sao.”

Bà May không bao giờ thích đem Leslie ra nơi công cộng. Em là con trai của bà, và bà dành tình thương cho em. Bà cảm nghiệm nhờ trực giác : nơi sâu thẳm của não bộ bị hư hỏng, Leslie đang nỗ lực làm việc, và bà rất tự hào về em. Một lần trên một chuyến xe buýt, có một phụ nữ đã nhìn thấy bà May đang ôm Leslie trong vòng tay, đã nói chuyện với cậu bé nhiều lần, mà không được đáp ứng. Bà ấy lên tiếng nói : “Tại sao bà không đưa con bà vào một cơ sở nào đó ? Bà đang lãng phí cuộc đời mình.”

Bà May trả lời ngay : “Bà mới là người đang lãng phí cuộc đời của bà. Loại trẻ này được mang đến bên ta do lòng tử tế và tình thương, không chỉ trong một giờ, một tháng hoặc một năm. Lòng tử tế và tình thương tồn tại lâu dài.”

Mùa Hè đến, ông Joe chồng bà May đã mất nhiều giờ ở trong hồ tắm, đong đưa ôm cậu bé, hy vọng rằng các tác động tay chân của ông sẽ truyền cảm hứng cho Leslie để cậu bé có thể tự mình cử động chân tay, nhưng Leslie đã không hề phản ứng.

Cho đến mùa Thu, bà May đem Leslie đến trung tâm phục hồi chức năng ở Milwaukee . Nơi đây, không một ai nghĩ có thể làm được gì để cải thiện tình trạng của cậu bé, và họ cũng không có một lời khuyến khích nào dành cho bà May.

Tinh thần bi quan của các chuyên viên tại trung tâm phục hồi đã không ngăn cản được quyết tâm của bà May. Bà biết rằng một ngày nào đó Leslie sẽ thoát ra khỏi nhà tù của chính mình. Bà cần phải giúp em. Bà cố gắng nghĩ cách làm thế nào để đem khái niệm “đi bộ” vào tâm trí em. Leslie đã chưa hề thực hiện động tác đi hay bò. Em chưa bao giờ nhìn thấy bất cứ ai đi bộ. Bà nhờ ông Joe chồng bà, là bạn đường hỗ trợ bà tối đa, làm cho bà một vành đai thắt lưng da rộng để đeo trên hông, có kèm theo các vòng nhỏ ở mỗi bên. Đang khi cất bước đi bộ, bà cài tay của Leslie vào vòng nhỏ bên hông, hy vọng em sẽ tiếp nhận được sự chuyển động đi bộ. Vậ­y mà Leslie vẫn bất động và được đeo lơ lửng phía sau lưng bà.

Kế đến, gia đình bà đã dựng một hàng rào mắt xích dọc theo phần đất của họ. Bà May giúp Leslie đứng bên cạnh hàng rào, đặt ngón tay của em qua các lỗ mắt xích của hàng rào. Sau vài tuần lễ, cuối cùng thì Leslie đã có ý tưởng để cho hàng rào hỗ trợ em. Em đứng lên được, lúc đó em được 16 tuổi.

Rồi để giúp em di chuyển dọc theo hàng rào. Bà May không ngừng trò chuyện với em, khuyến khích em. “Nào, con cưng ơi, chỉ bước đi một chút, một chút thôi.” Bà lập đi lập lại hàng trăm lần, chính bà di chuyển tay, chân của em. Cuối cùng, em cũng đã tự mình làm được.

Khi em làm được rồi, bà cố gắng tìm cách dỗ dành em buông tay ra khỏi mắt lưới hàng rào, bà gọi : “Đến với mẹ đi con, cưng ơi, đến với mẹ”. Sau nhiều tháng trời, Leslie học được cách chập chững lê chân đi bước một, rồi tới lúc được hai ba bước. Chiến tranh cân não thật khốc liệt không ngừng nghỉ, mặc dù bà May không hề nghĩ đó là một cuộc chiến ! Bà chỉ đơn giản nghĩ bà phải phấn đấu để giúp cho con trai mình. Bà biết bà cần được sự trợ giúp từ trời cao trong nỗ lực này. Bà cầu nguyện, liên lỉ cầu nguyện xin Chúa giúp Leslie, xin Chúa làm điều gì đó cho Leslie. Chàng trai Leslie lên 18 tuổi, mà chỉ như là một em bé. Có lần bà May giận lẫy với Chúa : “Kinh thánh nói đến những phép lạ, thì xin Chúa làm một phép lạ cho đứa bé này đi.”

Một ngày kia, bà May để ý nhìn thấy ngón tay trỏ của Leslie cử động trên sợi giây quấn quanh một gói hàng, như thể búng ngón tay trên đó. Bà tự hỏi : Liệu đó có phải là một dấu chỉ ? Nó có ý nghĩa gì ? Rồi bà tự xác nhận : Âm nhạc, đúng là âm nhạc. Từ ngày đó trở đi, ngôi nhà của vợ chồng Lemke tràn ngập tiếng nhạc phát ra từ dĩa hát, từ đài phát thanh, từ đài truyền hình. Giờ nọ qua giờ kia, ngày này qua ngày khác, vậy mà Leslie vẫn không tỏ ra một dấu chỉ nào cho thấy anh đang nghe nhạc. Bà May và ông Joe tìm mua được một dương cầm cũ với giá $250. Ngày lại ngày, bà May làm đi làm lại động tác đặt ngón tay của Leslie lên trên phím đàn, tạo ra âm thanh. Anh ta vẫn hoàn toàn dửng dưng.

Cho đến mùa Đông năm 1971, bà May giật mình thức giấc bởi tiếng đàn vào lúc 3 giờ sáng. Một ai đó đang chơi tấu khúc “Dương cầm Concerto No. 1” của Tchaikovsky. Bà đánh thức Joe, hỏi : “Có phải ông quên chưa tắt Radio ?” Ông trả lời : “Đâu có” Bà hỏi : “Vậy tiếng đàn dương cầm từ đâu ?” Bà ngồi dậy bước ra khỏi phòng ngủ, bật đèn phòng khách lên. Qua ánh sáng lờ mờ hắt vào phòng Leslie, bà nhìn thấy anh đang ngồi tại chiếc đàn dương cầm, bà cũng thấy được nụ cười rạng rỡ trên gương mặt Leslie. Một đột biến không ngờ ! Trước đó, anh chưa hề tự mình ra khỏi giường ngủ, chưa hề tự mình ngồi tại đàn dương cầm, chưa hề tự mình sử dụng ngón tay trên phím đàn, vậy mà Leslie đang chơi một tấu khúc, khéo léo và đầy tự tin.

Bà May quỳ sụp xuống cảm tạ Chúa : Chúa ơi, Ngài đã không quên Leslie. Điều đó cho thấy trước đây Leslie đã ghi nhận tiếng nhạc, lắng nghe hết sức chăm chú, tới mức bộ nhớ trong đầu của Leslie lưu trữ được từng dòng nhạc nghe qua thính giác, tựa như một máy điện toán. Không ai giải thích được làm thế nào mà tiếng nhạc tuôn trào ra khỏi Leslie vào buổi sáng mùa Đông ấy. Vậy mà chuyện đó đã xảy ra, như một cơn lốc xoáy.

Âm nhạc đã mở rộng cửa ngõ cho cảm xúc và sự phát triển, nên sau đó có lần bà May nghe Leslie phát âm được một từ ngữ. Thế rồi vào một buổi chiều, có một số trẻ em chơi đùa phía bên kia hàng rào mắt xích, bà May lên tiếng hỏi các em đang làm gì. Một em đã trả lời, “Chúng cháu đang vui.” Còn Leslie thì bước được vài bước dọc theo hàng rào, bỗng lên tiếng nói “Tôi đang vui !” Anh nói bằng một giọng dày đặc nhưng có thể hiểu được. Đó là câu nói trọn vẹn đầu tiên của anh. Bà May sửng sốt ôm choàng lấy anh, vô cùng xúc động.

Một vài tháng sau đó, nơi phòng khách gia đình, đã xảy ra chuyện Leslie tự dưng phát run lên, và rồi nước mắt lăn trên má, “Con khóc !”, anh nức nở, “Con khóc !” Anh đã không bao giờ khóc trước đó và bây giờ anh đã khóc được, giống như bà May đã dạy cho anh cảm nhận về nước mắt trước đây. Bà yên lặng nhìn anh khóc sướt mướt trong vòng 20 phút. Bà nhận biết đây là một ơn phước vì giờ đây anh đã có thể bày tỏ sự đau đớn hay nỗi sợ hãi đã bị khóa kín trong anh. Một chuyển biến tuyệt vời đối với bà. Leslie cũng còn học được cách cảm nhận theo cung cách riêng của mình xuyên qua các căn phòng trong nhà. Bà May và ông Joe dạy anh sử dụng nhà vệ sinh. Dạy anh đánh răng, và dạy anh tắm một mình.

Đang khi đó, kỹ năng về dương cầm của Leslie đều đặn gia tăng, anh bắt đầu ngồi suốt ngày bên cây đàn dương cầm. Anh chơi nhạc cổ điển, nhạc đồng quê, nhạc đạo và ngay cả nhạc rock. Thật là kinh ngạc ! Tất cả những bản nhạc mà bà May mở cho Leslie nghe, đều được ghi nhận trong óc của anh, và nay được dịp tuôn ra từ các ngón tay đặt trên phím dương cầm.

Năm Leslie được 21 tuổi, anh bắt đầu nói chuyện, có thể đặt câu hỏi và đưa ra những câu trả lời giản dị khi đối thoại. Bà May khuyến khích tài năng đàn dương cầm của Leslie trước công chúng vì bà nghĩ nhờ sự đóng góp âm nhạc của Leslie, sẽ tạo được nơi anh cảm giác tham gia sinh hoạt xã hội, và thiên hạ cũng học được rất nhiều từ một con người được hòa nhập vào thế giới con người, từ một tình trạng được cho là hoàn toàn vô vọng và thật tuyệt vọng. Leslie thường xuyên góp mặt tại các buổi hòa nhạc ở Fond du Lac, Wisconsin. Danh tiếng của Leslie vang xa nên khiến cho nhiều đài truyền hình trên toàn quốc đã mời Leslie đến trình diễn, như “Man A live” của CBC, “Evening News”, “60 Minutes”“That’s Incredible” của CBS.

Năm 1983, ABC cũng đã phát hình câu chuyện về Leslie Và Người Mẹ Nuôi mang tựa đề “The Women Who Willed A Miracle”. Leslie đã lên đường lưu diễn trong nước Mỹ, tại nhiều quốc gia, Scandinavia và Nhật Bản, cũng thực hiện nhiều buổi hòa nhạc miễn phí vào các dịp lễ hội khác nhau. Leslie yêu thích trình diễn. Đôi khi anh nổi hứng cất tiếng hát đang lúc ngồi chờ chuyến bay tại phi trường. Lúc mới nghe anh hát vài nốt nhạc đầu tiên thì thiên hạ giật mình, nhưng khi anh kết thúc bài hát, thì mọi người đều vỗ tay tán thưởng.

Cho dù các ngón tay của Leslie điêu luyện trên phím đàn, thì vẫn còn rất nhiều hạn chế cho Leslie lúc phải cầm dao hay nĩa khi dùng bữa. Cũng như việc đối thoại với Leslie thì diễn tiến không được trơn tru. Khi được hỏi âm nhạc có ý nghĩa gì đối với anh, Leslie đã trả lời chắc nịch : “Âm nhạc … là tình yêu !”.

Lời bàn :

Tình yêu đã hình thành phép lạ Leslie Lemke, biến cái “không thể” thành “có thể”. Con người thời đại mới với tâm thức hưởng thụ mọi tiện nghi vật chất, quen lối sống tốc độ, muốn nhìn thấy mọi thành quả tựa như mì ăn liền, như cái nhấn của con chuột trên bộ máy điện toán, thì không thể hiểu nổi tại sao bà May Lemke đang sống an nhàn với chồng và 5 người con, lại còn muốn gánh vác số phận đau thương của cậu bé Leslie? Phải mất 16 năm mới dạy cho một đứa con nuôi có đời sống vô sinh tật nguyền từ 6 tháng tuổi mới tự đứng lên được, cũng như phải mất 21 năm mới có thể giúp cho Leslie phát âm được, thì bà May Lemke phải có trái tim của một bồ tát, phải có một niềm tin vô cùng sâu sắc, thì mới có thể gầy dựng nên một thiên tài, một nhân tính bị vất bỏ, từ trái tim bé nhỏ của mình.

Vị bồ tát của chúng ta: May Lemke đã qua đời vào ngày 6/11/1993 vì căn bệnh lú lẫn A lzheimer, nhưng gương sáng của bà đã và sẽ còn là nguồn hứng khởi trong cõi nhân sinh.

(theo Nguyễn Đông-Khê)

Lời bàn : như vậy chỉ cần yêu thương “người” như yêu thương chính mình thì đã là Bồ tát. Dễ ẹt !!! Tuy biết “dễ”, nhưng mà tui làm hông được, hổng biết tại sao ? (LTN)

2- XÂY MỘ

TẶNG NGƯỜI YÊU

Robert Podunavac đã bật khóc trong niềm vui sướng tột độ khi được chị Lữ Hà Thy Nhơn dẫn đến ngôi mộ mà chị xây tặng cho ông trên một ngọn đồi, giữa màu xanh ngút ngàn cây lá của núi rừng Tam Lãnh, Phú Ninh (Quảng Nam). Giàn giụa nước mắt hạnh phúc, ông già người Mỹ xúc động nói rằng, không ngờ lúc tuổi đã gần đất xa trời, số phận run rủi ông gặp được một người đàn bà yêu thương ông bằng tình yêu chân thật, không chút toan tính, vụ lợi…

Tâm sự của người đàn bà “bước qua lời nguyền”

Nếu không được tận mắt nhìn thấy ngôi mộ được xây rất “hoành tráng” trên ngọn đồi, cạnh ngôi nhà nhỏ có hai người khác giới, khác quốc tịch, khác màu da; một già, một trẻ đang quấn quýt bên nhau như đôi chim câu, tôi không thể tin được thế gian này lại có một người đàn bà làm cái chuyện quá bất thường như thế.

Xây mộ tặng người yêu, hay nói chính xác hơn là tặng cho người chồng chưa cưới, khi anh ta đang sống hạnh phúc với mình, là điều từ xưa tới nay chẳng một ai dám nghĩ tới. Nhưng, mọi vấn đề đều có căn nguyên của nó nên xin mọi người hãy đừng vội nghĩ, chị Thy Nhơn xây mộ để “nguyền rủa” cho người yêu sớm về cõi vĩnh hằng…

Thoạt nghe chuyện, tôi vội vàng phóng xe máy về Tam Lãnh để tìm hiểu thực hư. Đường về miền núi Tam Lãnh xa vời vợi. Chỉ tính đoạn từ Tam Kỳ lên, phải chạy vòng quanh hồ Phú Ninh mất hơn nửa giờ mới tới được trang trại trồng rừng của chị Thy Nhơn và ông Robert Podunavac, nơi có căn nhà nhỏ với ngôi mộ kỳ lạ đó.

Chị Thy Nhơn cười rất tươi, cởi mở tâm sự : “Tui xây mộ tặng ổng (Robert Podunavac) chỉ muốn thực hiện trọn vẹn ước nguyện của ổng mà thôi. Thú thực với anh, tui dù chấp nhận lời tỏ tình của ổng, chấp nhận làm vợ ổng, nhưng trong thâm tâm tui luôn nghĩ ổng là bậc cha, chú, là một ân nhân đặc biệt của gia đình tui. Không có ổng thì chắc rằng mẹ con tui không có được cuộc sống đàng hoàng như bây giờ…”.

Nói đoạn, chị quay sang Robert với cái nhìn âu yếm, phiên dịch lại những lời xuất phát tự đáy lòng mình. Robert Podunavac ngồi im lắng nghe và len lén nhìn tôi bẽn lẽn.

Thật thú vị khi một ông già người Mỹ đã từng nếm trải qua bao ngọt bùi, cay đắng của cuộc sống, bây giờ tuổi đời đã gần tròn 72, vậy mà cứ bẽn lẽn, ngượng ngùng khi nhắc đến chuyện tình yêu cứ như chàng trai tuổi mới lớn. Robert châm lửa đốt điếu thuốc lá, rít một hơi dài rồi chậm rãi bảo tôi rằng, cuộc đời ông đã trải qua quá nhiều bất hạnh, nhất là trong chuyện tình yêu. Nhưng, Thượng đế đã cho ông có được may mắn khi đặt chân đến Việt Nam, gặp những con người chân chất, thật thà và mến khách; gặp chị Thy Nhơn để được sống hạnh phúc trong khoảng lặng tuổi già. Nghe Robert Podunavac nói, đôi mắt chị Thy Nhơn cũng đỏ hoe…

Quê hương Tam Lãnh là nơi chôn nhau cắt rốn của chị Thy Nhơn. Chị sinh ra và lớn lên ở chốn rừng núi này như bao đứa trẻ nhà nghèo khác nên chuyện học được cái chữ cũng lắm đỗi gian truân. Đến lúc cố gắng học hành trở thành cô giáo tiểu học chị vẫn không hết khổ. Bởi khi chị lập gia đình, có con cái cuộc sống vẫn quẩn quanh trong đói nghèo. Năm 1987, chị sinh con gái đầu lòng đặt tên Nguyễn Bích Giang và sau đó sinh thêm hai bé trai là Nguyễn Văn Bách và Nguyễn Văn Khải.

“Bé Giang sắp có chồng, cu Bách cũng đã hỏi vợ, chỉ còn Khải đang học lớp 7. Chỉ có điều, hồi đầu năm, Robert Podunavac đã cùng tui đi hỏi vợ cho Bách và sắp tới đây làm đám cưới cho Giang cũng chỉ có tui và ổng. Cha của các cháu đã bỏ tui từ những tháng ngày khổ cực…”. Giọng chị Thy Nhơn nghẹn lại.

Lát sau, chị kể lại ngọn ngành, mới hay, khi chị đang tay bồng, tay bế, cuộc sống gia đình chỉ dựa vào đồng lương giáo viên tiểu học, thì người chồng đã bội bạc ra đi. Đau đớn trong bất hạnh, chị đành gửi các con thơ dại cho người mẹ già, còn mình bôn ba vào Sài Gòn kiếm việc làm. Vào trong ấy, chị đã làm tất cả mọi việc, từ rửa chén bát thuê cho các nhà hàng, đến đi ở, giữ em… miễn sao có tiền nuôi sống mình, gửi về nuôi mẹ và các con. Vừa làm chị vừa học thêm tiếng Anh.

Mãi cho tới năm 2000, khi vốn liếng tiếng Anh kha khá, chị bắt đầu nghĩ tới chuyện kiếm thêm thu nhập bằng cách dạy tiếng Việt cho người nước ngoài. Cũng từ công việc mới mẻ này mà chị gặp được Robert Podunavac.

Chị nhớ như in cái lần gặp gỡ đầu tiên ấy. Đó là vào năm 2004, Robert Podunavac đi du lịch sang Việt Nam, ông đã tìm đến lớp học của chị xin học. Lúc đầu, chị đối xử với Robert Podunavac bình thường như bao học viên người nước ngoài khác. Thế nhưng, về sau mỗi lần lên lớp lại thấy ông cứ nhìn chị cười hoài. Mỗi lần như thế, chị kiểm tra bài, Robert Podunavac vẫn không tiến bộ được nhiều, ông luôn than thở, ngữ pháp Việt Nam khó hơn cả… phong ba, bão táp ! Tuy vậy, tháng đầu tiên Robert Podunavac đã làm chị ngạc nhiên. Ông bỏ bì gửi học phí cho chị 1,5 triệu đồng, trong khi quy định chỉ 500 nghìn đồng. Chị trả lại số tiền thừa thì Robert Podunavac một mực không nhận mà nói rằng, ông muốn thưởng thêm cho chị…

Từ đó, mối quan hệ giữa hai người gần gũi hơn. Chị đã kể cho Robert Podunavac về cuộc đời éo le, bất hạnh của mình, về quê hương núi rừng Tam Lãnh còn nhiều nghèo khó. Và, Robert Podunavac cũng cho chị biết, ông là một kỹ sư máy tính, đã từng đi nhiều nước trên thế giới. Ông thành đạt trong công việc, song trong tình cảm gia đình thì cũng gặp trắc trở chẳng kém. Người vợ đầu tiên ở Mỹ không hợp quan điểm sống nên đã ly dị, ông sang Hàn Quốc, với gần 11 năm làm việc ở đất nước này, ông lập gia đình mới. Nhưng, cũng không được bao lâu, người phụ nữ Hàn Quốc là vợ ông sa vào con đường nghiện ngập, rượu chè, ông lại phải chia tay.

Đặt chân đến Việt Nam, một miền đất bình yên bên bờ biển Đông, với những người dân sống thật thà, rất dễ gần gũi, thân thiện, nên ông yêu thích và muốn được ở lại nơi này. Robert Podunavac đã ngỏ lời cầu hôn với chị Thy Nhơn, lúc đó tuổi của ông ta đã xấp xỉ 67, hơn chị đến 35 tuổi.

“Tui từ chối, nhưng ổng vẫn đến thăm tui ở nhà trọ mỗi ngày, thậm chí còn săn sóc cho tui lúc ốm đau… Từ đó tui đã mến ổng, nhưng cũng bảo thẳng với ổng rằng, người Việt Nam lấy vợ, lấy chồng phải về hỏi ý cha mẹ. Tui còn mẹ già ở quê, phải về quê hỏi xem thế nào. Ổng nghe vậy liền chạy đi mua cặp vé máy bay để tui với ổng cùng về”.

Ông Tây chăn vịt, nuôi gà

Đến bây giờ chị Thy Nhơn vẫn còn nhớ cái đêm đầu tiên Robert Podunavac về nhà mẹ ruột của chị, bà Huỳnh Thị Quấn ở Tam Lãnh. Đêm tháng 10, cái rét ở miền núi đến buốt da thịt. Cả nhà chỉ có mỗi chiếc chõng tre và cái mền nên nhường cho khách, mọi người trải chiếu dưới đất mà nằm.

Thấy cảnh đó, Robert Podunavac có lẽ quá xúc động nên cứ nằm trăn trở mãi. Nào hay, chiếc chõng cũng đã tới kỳ hư hỏng nên nửa đêm sập đánh “rầm”, làm đổ chảo lửa để gần đó cho ấm, bụi tro bay tứ tung. Robert Podunavac bị bụi tro phủ đầy người. Sáng hôm sau, ông đưa tiền cho chị Thy Nhơn bảo phải đi mua ngay giường, chiếu, chăn, nệm cho cả gia đình. Ở lại chơi nhà chị Thy Nhơn cho tới ngày giỗ người anh đầu, có đông đủ họ hàng, Robert Podunavac đứng lên thưa chuyện với mọi người, xin cưới chị làm vợ.

Người mẹ có tuổi ngang bằng Robert Podunavac không phản đối, cũng chẳng đồng ý. Bà chỉ nhẹ nhàng nói con gái : đã gánh chịu bất hạnh rồi thì hãy tỉnh táo, đừng để phải tiếp tục gánh chịu bất hạnh lần thứ hai. Thế là chị quyết định đến với Robert Podunavac. Tuy nhiên, chị không yêu cầu bảo Robert Podunavac phải thực hiện cưới xin đúng pháp luật Việt Nam quy định. Cũng vì yêu cầu này nên đám cưới của họ phải hoãn lại…

Cho đến năm 2006, chị bàn bạc với Robert Podunavac về ở hẳn vùng quê Tam Lãnh, thành lập Công ty TNHH Hà Nhơn để trồng rừng. Bởi vì, những chuyến về thăm quê chị nhận thấy rừng đầu nguồn hồ Phú Ninh phần lớn đã bị lâm tặc đốn hạ, chỉ còn lại trơ trụi những quả đồi trọc. Robert Podunavac đồng ý không chút ngần ngừ, ông quay về Mỹ để làm giấy tờ, thủ tục sang góp vốn đầu tư. Khi Robert Podunavac quay lại Tam Lãnh thì chị Thy Nhơn cũng đã mua đất hình thành trang trại trồng rừng và xây “tặng” ông ngôi mộ trên mảnh đất ấy.

Chị Thy Nhơn thường nghe Robert Podunavac tâm sự rằng : Người Việt Nam sống rất tình cảm. Gia đình nào có người chết thì bà con thân thích, làng xóm đến chia buồn, tiễn đưa. Người chết được chôn trong những ngôi mộ xây, được thờ phụng, hương khói. Vì vậy, Robert Podunavac ước ao lúc cuối đời được nằm lại Việt Nam để được chị Thy Nhơn hương khói, cúng giỗ như bao người vợ thủy chung khác của xứ sở diệu kỳ này.

Chị Thy Nhơn kể rằng : khi Robert Podunavac quay lại Tam Lãnh, đợi đến lúc trời sẩm tối, chị mới đưa ông tới chỗ xây mộ. Khi còn cách hơn trăm mét, chị bảo ông nhắm mắt lại và dẫn đi. Lúc đã đến bên ngôi mộ, chị bảo Robert Podunavac mở mắt ra và chỉ vào ngôi mộ nói : “Đó là kỷ vật em tặng cho ông !…”.

Lúc đầu Robert Podunavac mở to mắt ngạc nhiên, không hiểu đó là vật gì nên chị phải giải thích. Biết đó là ngôi mộ, Robert Podunavac òa khóc nức nở, khiến những người sống cạnh kéo nhau chạy tới xem. Robert Podunavac vừa khóc vừa cầm chặt tay chị mà cảm ơn rối rít. Rồi nói rằng, trong trí tưởng tượng của mình thì ngôi mộ xây cũng giống như lăng mộ và ông đã là một vị vua trong đôi mắt người tình.

Cũng từ đó, theo đề nghị của Robert Podunavac, chị Thy Nhơn xây một ngôi nhà nhỏ bên cạnh, trong đó để cửa sổ phòng ngủ của chị nhìn ra ngôi mộ. Robert Podunavac nói với chị rằng, con người già thì ai cũng phải chết. Khi chết đi, ông sẽ hóa thân thành chim bồ câu quẩn quanh bên ngôi mộ để được chị chăm sóc như lúc còn sống, và tối đến sẽ ngủ trên bậu cửa sổ để được nhìn, ngắm chị…

Và gần 3 năm trôi qua, Robert Podunavac sống trong ngôi nhà nhỏ với chị Thy Nhơn giữa chốn núi rừng Tam Lãnh. Họ dành phần lớn thời gian cho công việc trồng rừng và chăn nuôi gà, vịt. Đến bây giờ thì cánh rừng keo lá tràm, với diện tích 30.000m2 của họ đã cao vút.

Chị Thy Nhơn bảo : “Ổng và tui góp vốn trồng rừng. Tui chẳng hề lợi dụng ổng. Tui góp 51%, còn ổng góp 49%, rồi mua giống, thuê người trồng, chăm bón. Khi trồng rừng ổng cũng xăng xái góp sức cùng làm. Nhưng, phần lớn thời gian, ổng chăm sóc đàn gà, vịt. Tui khai hoang làm 5 sào ruộng lúa nước dưới chân đồi, gặt lúa về, ổng ra phơi phóng và lấy cho gà, vịt ăn mỗi ngày. Đàn gà, vịt lớn nhanh như thổi. Chỉ cái tết Kỷ Sửu vừa rồi, tui bán bớt đàn gà thu được hơn 2 cây vàng…”.

Đặc biệt, khi về ở Tam Lãnh, Robert Podunavac thường gần gũi với những người dân trong thôn, giúp đỡ người nghèo khó, nhất là những học sinh nghèo hiếu học, ông thường mua cặp, bút, sách vở, áo mới tặng các cháu, nên được bà con trong thôn quý mến. Khi chị Thy Nhơn bày tỏ thẳng quan điểm là hùn vốn làm ăn với chị, sau này lợi nhuận sẽ chia sòng phẳng, nếu chẳng may chết đi thì tài sản có được sẽ giao cho người thân ông ở Mỹ tiếp tục thừa kế, quản lý, Robert Podunavac đã phản ứng quyết liệt.

Ông bảo chị rằng, cuối cuộc đời ông được gặp một người đàn bà yêu thương ông như chị là hạnh phúc lắm rồi. Do đó, khi chết đi thì tài sản của ông sẽ để lại cho chị một ít, còn nhờ chị mang ra làm từ thiện, góp phần giúp đỡ cho trẻ em nghèo, bất hạnh…

Nắng chiều ngả dài trước thềm hiên, như sực nhớ điều gì, Robert Podunavac liền xin phép đứng dậy. Ông vào nhà mang ra một thau gạo và lúa rồi bước đi liêu xiêu về phía chuồng nuôi gà, vịt; miệng không ngớt gọi “cúc… cúc… cúc…”. Hơn trăm con gà, vịt và cả đàn chim bồ câu sà xuống, giành nhau mổ gạo, thóc. Robert Podunavac nở nụ cười rung rung cả đầu tóc vàng hoe. Một nụ cười mãn nguyện và chứa chan niềm hạnh phúc.

Chị Thy Nhơn khẽ bảo tôi rằng, tuần trước, chị đã vào Sài Gòn nhờ Tổng Lãnh sự quán Mỹ xác định nhân thân Robert Podunavac và đã có được “bản tuyên thệ độc thân” của ông. Có được những giấy tờ cần thiết này, chị quay về Sở Tư pháp tỉnh Quảng Nam làm thủ tục kết hôn với Robert Podunavac. Nhìn chồng lụi hụi bên đàn gà, chị Thy Nhơn cười, nụ cười của người đàn bà đã ở tuổi 40, trải qua nhiều bất hạnh, cũng chứa chan niềm hạnh phúc và yêu thương..

Yên Huỳnh post

PHÁT MINH MỚI MÁY TẠO ĐIỆN TỪ NƯỚC

CHS. HỒ NGỌC CẨN

TS NGUYỄN CHÁNH KHẾ

NGƯỜI PHÁT MINH

MÁY TẠO RA ĐIỆN TỪ NƯỚC

HNC.Gr : Mấy ngày qua trên các báo phát hành trong nước nói chung, và tại Sài Gòn nói riêng, đã dành nhiều trang báo nói về Tiến sĩ Nguyễn Chánh Khê, Giám Đốc Trung Tâm Nghiên Cứu & Phát Triển Khu Công Nghệ Cao ở Q9.

Và có lẽ những CHS.HNC ít người biết, nhưng từ NK 64 trở đi, đa số có người biết về TS Khê, vì anh là một đồng môn CHS của trường Hồ Ngọc Cẩn. Năm 2010 có một số bạn đồng môn cùng các thầy, đã được TS Khê mời đến nhà riêng và vào Khu Công Nghệ Cao tham quan.

Được biết, tiến sĩ Nguyễn Chánh Khê – người được xem là “Con gà đẻ trứng vàng” cho các tập đoàn lớn tại Mỹ đã quyết định hồi hương về Việt Nam vào năm 2002. Sau hai mươi năm sinh sống và làm việc ở nước ngoài, anh đã có 30 phát minh, sáng chế khoa học tại Nhật và 36 phát minh tại Mỹ đem lại những hiệu quả khoa học và ứng dụng kinh tế to lớn trong lĩnh vực máy tính, máy photocopy… Hiện nay, TS Khê là Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển Khu Công nghệ cao tại Q9 như đã nói.

Sau đây chúng tôi xin trích vài bài báo viết về việc TS Khê phát minh máy tạo ra điện từ nước. Trong đó còn có những bức xúc của giới khoa học về phát minh này. Xin để thời gian trả lời…

Mời nghe phát biểu của anh Nguyễn Chánh Khê :

http://youtu.be/Yx-WngnDxxo

Nguyễn Việt

BÍ ẨN TẠO RA ĐIỆN

TỪ NƯỚC CỦA TIẾN SĨ VN

GS Nguyễn Đăng Hưng (Chủ tịch HĐQT Công ty TNHH MTV công nghệ thông tin Hưng Việt) tường thuật cuộc họp do Ban Quản lý Khu Công nghệ cao ở Q9, tổ chức về phát minh máy phát điện chạy bằng nước của TS Nguyễn Chánh Khê.

Trong thời gian qua, đã có nhiều tờ báo giới thiệu về phát minh máy phát điện chạy bằng nước của TS Khê (Khu Công nghệ cao Q9 ở gần Suối Tiên). Cộng đồng khoa học đã xôn xao về thông tin này và đặt nhiều dấu hỏi về mặt kỹ thuật đối với “phát minh” nói trên.

Ngày 9/3/2012, Ban Quản lý Khu Công nghệ cao đã tổ chức hội thảo để TS Nguyễn Chánh Khê báo cáo về phát minh của mình. Tham dự hội thảo, GS Nguyễn Đăng Hưng có bài viết tường thuật như dưới đây. Bài đăng lại với sự đồng ý của GS Nguyễn Đăng Hưng.

Sáng 9/3, tôi lên Khu Công nghệ cao, tham gia hội thảo khoa học về phát minh máy phát điện chạy bằng nước của tiến sĩ Nguyễn Chánh Khê, Phó giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và triển khai kiêm trưởng Phòng Thí nghiệm công nghệ nano (trực thuộc Khu Công nghệ cao).

Tôi chuẩn bị đi đúng giờ, đến đúng lúc. Ban tổ chức hỏi giấy mời và chỉ có ai có giấy mời mới được lấy thang máy lên lầu tham gia. Một đoàn nhà báo khá hùng hậu không được bước vào phòng hội thảo.

Tôi cùng GS.TSKH Vũ Đình Huy (ĐH Bách Khoa Sài Gòn) ngồi chờ. Cũng nhờ Ban tổ chức biết tôi qua các hoạt động liên quan đến Khu Công nghệ cao, cuối cùng tôi cũng được mời lên lầu tham gia. Họ còn bố trí cho tôi ngồi phía trước, không xa diễn đàn.

Buổi hội thảo bắt đầu khá đúng giờ. Ban tổ chức mời các vị trong ban thẩm định do Giáo sư-Viện sĩ (GS-VS) Nguyễn Văn Hiệu chủ trì, bao gồm TS Hồ Nhân, GS-TS Nguyễn Thị Phương Thoa (ĐH Khoa học Tự nhiên), TS Nguyễn Đức Hùng, TS Lê Hoài Quốc, trưởng Ban Quản lý Khu Công nghệ cao.

Trong cử tọa có mặt ông Phạm Chánh Trực (Năm Nghị), nhà sáng lập ra Khu Công nghệ cao và GS.TSKH Nguyễn Ngọc Trân, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học kỹ thuật Nhà nước…

TS Nguyễn Chánh Khê vào cuộc trình bày phát minh của mình, với nhiều hình ảnh minh họa.

Nói chung, TS Khê không nói nhiều điều mới so với những công bố trên báo chí gần đây mà chúng ta đã đọc được. Tuy tôi đã chuyển trực tiếp gởi cho tác giả bài phản biện súc tích, đầy đủ của TS Giáp Văn Dương, trong bài thuyết trình, TS Khê vẫn không trả lời gì về những nghi vấn đã nêu ra. Đây là điều thất vọng thứ nhất của tôi.

Điều thất vọng thứ hai là TS Khê bỏ ra rất nhiều thì giờ (gần 2/3) và dùng nhiều hình ảnh minh họa giải thích nguyên tắc vận hành của pin nhiên liệu dùng hydrogen, cái mà giới thức giả đã quen thuộc vì loại pin này đã được phổ biến trên thương mại. TS Khê cũng kê khai nhiều áp dụng thiết thực của phát minh của mình như chế tạo nước sạch từ nước bẩn hay nước biển, tạo điện sạch cho vùng cao vùng sâu, cho biển đảo không có nguồn nước ngọt.

Bài thuyết trình chấm dứt sau gần một tiếng đồng hồ và ban chủ tọa mời cử tọa tham gia phần thảo luận.

Tôi là người đầu tiên đưa tay và nhận được micro. Tôi nêu rõ tầm quan trọng của sáng chế, nó có thể đảo lộn cục diện năng lượng của thế giới. Bởi vậy việc thẩm định nghiêm túc là tối cần thiết.

Trước tiên, tôi yêu cầu TS Khê phân biệt là trong sáng chế có hai vấn đề. Vấn đề khoa học và vấn đề công nghệ. Công nghệ có bí quyết và việc giữ kín bí mật công nghệ là việc tự nhiên và tôi sẽ không tò mò tìm hiểu ở đây. Cái mà tôi mong TS Khê giải thích cùng cử tọa là khía cạnh khoa học của sáng chế. Khía cạnh khoa học luôn luôn phải công khai minh bạch đối với công chúng, đặc biệt các chuyên gia. Câu hỏi của tôi thuộc về phạm trù này và tôi mong mỏi TS Khê sẽ trả lời tôi trên tinh thần khoa học.

Tôi cũng thành thật tỏ bày nỗi thất vọng của tôi là TS không giải thích phần quan trọng nhất của phát minh, việc tách nguyên tử hydrogen H2 ra khỏi phân từ nước H2O (xem sơ đồ dưới đây, chú ý phần đóng khung màu gạch):

Và tôi đi thẳng vào câu hỏi : “Chất có can dự việc tách H2 từ nước là chất gì, chất xúc tác có ghi trên biểu đồ hay chất khử. Phải minh bạch là chất xúc tác sẽ giữ nguyên trạng sau phản ứng và chất khử ngược lại sẽ tham gia phản ứng phân tử và sẽ có biến đổi”. TS Khê khẳng định : đó là chất xúc tác.

Tôi phản đối ngay : Nếu quả như thế thì ở đây, nguyên lý cơ bản của khoa học, nguyên lý bảo toàn năng lương bị vi phạm. Lấy ở đâu ra năng lượng 285.83 kJ/phân tử nước để có phản ứng hóa học :

2H2O + 2×285.83kJ → 2H2 + O2

Sau mấy phút dằng co qua lại, TS Khê đã phải công nhận đây là một “tạp chất” có tham dự vào phản ứng phân tử. Đây là minh định đầu tiên triệt tiêu một phần tính lạ lùng khó hiểu của sáng chế.

Cử tọa tập trung thảo luận khá lâu chung quanh vấn đề này : TS Nguyễn Bách Phúc của Viện HASCON, GS.TS Chu Phạm Ngọc Sơn, GS-TS Vũ Đình Huy, GS-TS Đặng Lương Mô. Trên bàn chủ tọa can thiệp mạnh mẽ và đanh thép đến từ GSTS Nguyễn Thị Phương Thoa. Nhà khoa học này bảo : Như vậy, công bố máy điện chạy bằng nước là không chính xác bởi vì chính “tạp chất” này là nhiên liệu làm phát sinh H2 từ nước.

Khi hỏi đến quá trình phản ứng của “tạp chất”, nhất là số lượng năng lượng phát sinh từ phản ứng này, TS Khê bảo chưa có thì giờ nghiên cứu và mong cử tọa thông cảm cho ông. Có người bảo khoa học phải nghiêm túc và việc tình cảm không thể đặt ở đây.

Các thức giả có mặt cũng nêu rõ là nên làm rõ vai trò của “tạp chất”, đây là hướng nghiên cứu trong tương lai, cần làm rõ trước khi công bố khoa học. Nhiều góp ý của cử tọa, đặc biệt của các nhà kinh doanh năng lượng mà nội dung tôi không nhớ hết.

Tôi nhác thấy trên màn ảnh TS Giáp Văn Dương đang ngồi chờ tại Singapore mà chưa phát biểu được lời nào. Nối kết “video conference” từ xa thất bại…

Hơn ba tiếng đồng hồ đã trôi qua, đã đến giờ kết thúc. Ban tổ chức mời GS-VS Nguyễn Văn Hiệu lên đọc kết luận. Tôi nhớ ba điều, xin tóm tắt ở đây :

GS-VS Hiệu khen ngợi TS Khê đã có cống hiến công nghệ quan trọng có thề làm giàu cho đất nước.

GS-VS Hiệu mong mỏi Khu công nghệ cao tiếp tục tăng cường ủng hộ TS Khê trong tương lai trong công tác hoàn thiện sáng chế này. GS-VS Hiệu khuyên TS Khê và Khu Công nghệ cao chỉ lấy bằng sáng chế tại Việt Nam, không nên làm tại Mỹ hay nước ngoài vì nên cảnh giác bảo tồn bí mật công nghệ cho nước ta.

TS Lê Hoài Quốc, trưởng Ban Quản lý Khu Công nghệ cao tiếp lời : Sẽ yêu cầu TS Khê chế ra một máy tương tự, nhưng qui mô hơn sử dụng lâu bền tại chính Khu Công nghệ cao để minh định một cách thiết thực giá trị của sáng chế.

Cử tọa dành thời gian còn lại để đi thăm phòng thí nghiệm của Khu Công nghệ cao nơi có đặt hai máy phát điện chạy bằng nước đang vận hành.

Phải nói, tôi đến buổi hội thảo với rất nhiều câu hỏi trong đầu… Tôi ra khỏi buổi hội thảo, những câu hỏi này càng thêm độ ấm ức vì chẳng có câu hỏi nào được tác giả sáng chể có câu trả lời thỏa đáng. Cái “tạp chất” có khả năng tách hydrogen ra khỏi nước đã càng trở thành một chất bí hiểm ly kỳ bội phần.

Tôi nhìn tác dụng của chất ấy vào nước với hydrogen nổi lên sủi bột như nước đang sôi với biết bao câu hỏi mà chưa có giải thích ! Tôi thử đưa tay sờ vào bình chứa. Bình có nhiệt độ nóng khoảng 50-60 độ C.

Như vậy, năng lượng phát sinh chẳng những đủ cho phản ứng phân ly của nước mà còn dư ra có thể đun nóng bình chứa ! Như vậy, từ bao lâu nay tại sao không nghĩ đến việc đo đạc sự thay của khối lượng “tạp chất” ấy trong quá trình phát ra điện ? Và tôi cũng giật mình khi thấy bóng điện tắt ngay khi cộng tác viên của TS Khê bẻ cong ống dẫn không cho hydrogen chạy vào bình phát điện chạy bằng pin nhiên liệu. Tại sao đèn tắt nhanh như vậy, như trực tiếp bật lên rồi tắt đi qua “contact” điện, thời gian trễ gần như không có ?

Tôi ra về với bao nỗi ngổn ngang. Có một cái gì lạ lùng chưa có câu giải thích ! Tôi tự bảo mình đâu phải chuyên gia ngành này.

Đành chờ vậy… Bí mật mà… (Theo Đất Việt)

“Tạp Chất” bí hiểm là gì ?

Nói về “tạp chất” bí hiểm này, ông Phạm Việt Hùng, nghiên cứu chuyên ngành hóa học từ ĐH Ulsan (Hàn Quốc), chia sẻ trên blog của GS Nguyễn Đăng Hưng : “Xem video clip về “máy phát điện chạy bằng nước” em thấy rằng lượng hydro sinh ra nhiều đến mức làm nước sôi sùng sục như thế thì có 2 khả năng là bột kim loại như nhôm (Al), kẽm (Zn), magnesium (Mg) hoặc sắt (Fe) phản ứng với acid hoặc baze; hoặc metal hydride như LiAlH4 hoặc NaBH4. (2Al + 6HCl -> 2AlCl3 + 3H2; 2Al + 2NaOH + 2H2O -> 2NaAlO2 + 3H2; NaBH4 + H2O -> NaBO2 + 4H2).

Theo thông tin GS Hưng cung cấp là nhiệt độ trong bình nước khoảng 50-60 độ C thì em nghiêng về giả thuyết “chất xúc tác bí ẩn” là bột kim loại phản ứng với acid hoặc baze”.

Cũng trên blog của GS Nguyễn Đăng Hưng còn có chia sẻ của TS Giáp Văn Dương từ Singapore : Theo những thông tin đã có, gần như chắc chắn “hóa chất bí hiểm đó” là hỗn hợp của than hoạt tính và chất khử NaBH4. Vậy khi cho vào nước sẽ có phản ứng sau : NaBH4+2H2O = NaBO2+4H2.

Máy phát điện

“chạy bằng nước”

làm nóng giới khoa học

Qua bài báo trên của GS Nguyễn Đăng Hưng, về sáng chế máy phát điện chạy bằng nước, theo công bố của TS Nguyễn Chánh Khê, đang thu hút sự quan tâm lớn của dư luận. Sau buổi hội thảo về sáng chế này do Ban quản lý Khu công nghệ cao (SHTP) tổ chức vào ngày 9/3/2012 (báo chí không được tham dự), nhiều câu hỏi được giới khoa học tiếp tục đặt ra.

Trao đổi với Thanh Niên chiều 13/3/2012, TS Nguyễn Chánh Khê khẳng định có đến 2 chất bí mật chứ không phải một chất. Ông nói : “Nếu trao đổi thông tin về khoa học thì tôi sẽ trao đổi thẳng thắn, nhưng sẽ không bao giờ tiết lộ các chất bí mật này”. Ông cũng cho biết, sáng chế đã được mang đi đăng ký bảo hộ trong nước, Mỹ, và châu Âu.

Điều quan trọng – theo TS Khê – là ông hoàn toàn chủ động công nghệ, từ các chất xúc tác, phân tử xúc tác và một số bộ phận khác đều tự chế tạo. Mọi việc đang thuận buồm xuôi gió. Trong vòng 3 tháng tới, sẽ có thiết kế cơ bản cho sản phẩm máy phát điện chạy bằng nước, với mục đích chính là có sản phẩm ra đời để phục vụ cho đồng bào vùng sâu, vùng hải đảo xa xôi chưa có điện.

TS Khê cũng cho biết có nhiều nhà khoa học từ Mỹ, Nhật Bản, Đức, Pháp… đã gửi email chia sẻ và chúc mừng về công trình nghiên cứu này.

Sẽ thử nghiệm

Viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu, Chủ tịch Hội đồng khoa học ngành Khoa học vật liệu Viện Khoa học – Công nghệ Việt Nam, sau khi nghe TS Khê trình bày tại hội thảo, đã có kết luận rằng kết quả khoa học chính của công trình này là tìm ra một phương pháp mới để tạo ra hydro từ nước, sau đó sử dụng hydro làm nhiên liệu để phát điện. Đây không phải là việc làm ra một máy phát điện chạy bằng nước.

Tác giả đã tạo ra được một chất rắn mà theo báo cáo là có cấu trúc nano. Khi chất rắn này phản ứng với nước thì sẽ xảy ra một phản ứng hóa học tạo ra hydro. Năng lượng cần thiết để tách hydro từ nước là năng lượng có sẵn trong chất rắn cấu trúc nano. Không có sự vi phạm định luật bảo toàn năng lượng.

Sau khi xảy ra phản ứng hóa học, chất rắn cấu trúc nano không còn nữa, mà sẽ xuất hiện các chất khác. Do đó tác giả mới phải “tái chế” lại chất rắn cấu trúc nano gây ra phản ứng. Bí quyết công nghệ nằm ở khâu chế tạo chất rắn cấu trúc nano.

Viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu cho rằng, trước khi đăng ký xong quyền bảo hộ sở hữu trí tuệ với cơ quan có thẩm quyền, phải giữ bí mật về chất rắn cấu trúc nano. Về phương diện khoa học, tuy chưa được biết chất rắn cấu trúc nano là chất gì, song vẫn có thể nói rằng tìm ra được một chất mới phản ứng với nước tạo ra hydro trên một quy mô đáng kể là một kết quả khoa học lý thú đáng trân trọng.

Viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu đề xuất: Trong khi chờ đợi cơ quan bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Mỹ và Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học – Công nghệ) xem xét bản đăng ký của TS Nguyễn Chánh Khê, SHTP hoặc Sở Khoa học -Công nghệ TP cần cấp kinh phí cho TS Nguyễn Chánh Khê tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện công nghệ và chế tạo ra một máy phát điện hoạt động theo phương pháp mới.

SHTP sẽ chạy thử máy phát điện này một cách liên tục để kiểm tra sự ổn định của quá trình phát điện trong một thời gian dài và ước tính hiệu quả kinh tế, với điều kiện vẫn giữ được bí mật công nghệ.

(theo TN.online)

“ĐỐT” NƯỚC ĐỂ PHÁT ĐIỆN

Tiến sĩ Nguyễn Chánh Khê, Giám đốc khoa học Trung tâm nghiên cứu và phát triển thuộc Khu công nghệ cao, đã nghiên cứu thành công phương pháp dùng công nghệ nano “đốt” nước để phát thành điện.

Với phát minh độc đáo dùng nước làm nhiên liệu này, một triển vọng mở ra, hứa hẹn sẽ giúp giải quyết được tình trạng khan hiếm năng lượng trong tương lai.

Nguyên tắc phát điện mà tiến sĩ Khê phát minh là dùng công nghệ nano – mà cụ thể hơn là vật liệu nano có chức năng xúc tác – để chế tạo khí hydro (H2) trong nước ra, sau đó lại tiếp tục dùng công nghệ nano và xúc tác để “đốt” khí này tạo dòng điện. Thực sự không có phản ứng đốt cháy nào xảy ra ở đây, mà là do việc chế tạo thành công xúc tác biến khí hydro H2 thành proton H+ và điện tử, cho ra một công suất điện khoảng 0,13watts/cm2.

Để chế tạo máy phát 2.000W, cần tạo 200 đơn vị như trên thành 10 pin kép, và tích điện vào tụ điện cho đến khi đạt được công suất mong muốn. Đây không phải công nghệ điện phân do đó không dùng năng lượng từ bên ngoài vào. Công nghệ này cũng không phải là công nghệ bình ắcquy sử dụng những chất độc như chì hay sulfuric acid đậm đặc, và cũng khác với pin năng lượng ở nhiều quốc gia là sử dụng nhiệt năng từ 800oC – 1.000oC để hoạt động trong xe ôtô điện. Phát minh của tiến sĩ Khê cần nguyên liệu chính để pin hoạt động lại là nước. Pin không cần phải sạc, không thay, khi phát điện tuyệt đối không có một tiếng động nhỏ, không gây ô nhiễm, và do đó cũng không gây cháy nổ…

Điểm độc đáo của thiết bị là cùng một lúc vừa cung cấp điện, vừa cung cấp nước sạch. Khí hydro được “đốt” cháy, hóa hợp với oxy (O2) và lần nữa lại biến thành nước. Nước này cực kỳ tinh khiết, uống và sử dụng được trong sinh hoạt và trồng trọt. Theo tiến sĩ Khê, dù nước có dơ bẩn đến bao nhiêu, khi đưa vào trong thiết bị này, khí hydro sẽ được tách riêng ra để được đốt cháy phát thành điện và tạo thành nước sạch. Phát minh này sẽ rất hữu ích cho những vùng thiếu nước ngọt như biển đảo, chỉ cần múc nước biển đổ vào là vừa có điện vừa có nước để sử dụng. Tiến sỹ Khê hy vọng công trình này sẽ mang lại nguồn sáng điện và nguồn nước sinh hoạt không bao giờ cạn cho các chiến sĩ ta ở đảo Trường Sa và các hải đảo khác.

Trước mắt, thiết thực nhất là sẽ sản xuất những máy phát điện thông thường, các bộ phận gắn vào ôtô, xe máy và các máy móc sử dụng điện. Về lâu về dài sẽ có những máy phát điện bằng nước dùng trong công nghiệp. Như vậy, nếu thành công, dự án này sẽ giải quyết được bài toán năng lượng trong tương lai.

Hiện nay trong thí nghiệm, tiến sĩ Khê đã phát được nguồn điện công suất 50W. Dự kiến đến cuối năm nay sẽ phát công suất 2.000W và công suất sẽ còn đạt đến 600KW. Tiến sĩ Khê cho biết, với công trình nghiên cứu này, ông sẽ kêu gọi nhà đầu tư thành lập công ty sản xuất các loại máy phát điện. Đây là cơ hội để người Việt Nam và sau này là thế giới được dùng điện giá rẻ.

Công trình nghiên cứu trên được giới thiệu trên Báo Công an nhân dân ngày 26/12/2011.

Được biết, tiến sĩ Khê đã có trên 40 công trình nghiên cứu, phát minh sáng chế đã đăng ký sở hữu trí tuệ tại các quốc gia có nền khoa học công nghệ tiên tiến nhất thế giới như Mỹ, Nhật, trong đó nhiều phát minh của ông đã được ứng dụng rộng rãi.

(Theo Thiên Nhiên)

Lê Hoàng Nguyễn post

TIỀN TRỜI CHO !

1/- Mua két sắt cũ, vớ được 26.000 đô

Một người đàn ông ở Mỹ đã vớ bở một khoản đậm khi phát hiện ra 26.000 USD (hơn 500 triệu đồng) tiền mặt trong một két sắt mới mua được trên eBay.

Có lẽ không ít người từng trải qua cái cảm giác hạnh phúc khi bất ngờ phát hiện ra một khoản tiền nho nhỏ khi lục túi một số quần áo cũ của mình. Tuy nhiên, trường hợp “trúng đậm” như người đàn ông ở California (Mỹ) có tên Bartlett nói trên quả là hiếm thấy.

Bartlett đã mua chiếc két sắt cũ từ James Labrecque với giá 122,93 USD. Khi mở chiếc két sắt ra, anh gần như không tin nổi vào mắt mình khi thấy trong đó có tới cả xấp tiền dày, đếm được 26.000 USD.

 Sau khi phát hiện ra “món quà trời cho”, Bartlett hồ hởi khoe chiến lợi phẩm với Labrecque. Tuy nhiên, Labrecque – một tín đồ kỳ cựu trên eBay suốt 15 năm qua – đón nhận tin này mà không mấy hứng thú. Labrecque chia sẻ trên WMCTV.com : “Tôi đã quá bất cẩn và phải trả giá đắt. Tôi cảm thấy như mình bỗng dưng trở thành gã ngốc nhất thế giới”.  (Đỗ Quyên theo Yahoo)

2/- Phát hiện kho báu tiền vàng 1 triệu USD trên trần nhà

Cơn “mưa tiền vàng” gần 1 triệu USD đã trút xuống đầu các công nhân khi họ chọc trần tòa văn phòng của một hãng sản xuất sâm-panh Pháp.

Nhóm công nhân xây dựng sửa chữa ngôi nhà trong vườn nho ở làng Les Riceys, vùng sản xuất sâm-panh nổi tiếng của Pháp, đã vô cùng kinh ngạc khi “cơn mưa” đồng xu vàng của Mỹ trút xuống họ từ trên trần nhà.

Kho báu gồm 497 đồng xu vàng của Mỹ, mỗi đồng có mệnh giá 20 USD. Những đồng xu này được đúc từ năm 1851-1928 và nặng tương đương 17kg vàng.

“Một trong những công nhân đã dùng xà beng chọc vào trần nhà và kho báu đồng xu vàng bung ra”, Francois Lange, người đứng đầu hãng sâm phanh Alexandre Bonnet ở Les Riceys France cho biết. Việc giới săn kho báu tìm thấy vàng và các kim loại quý khác dưới đáy biển không có gì là lạ, song tìm thấy 1 triệu đô trên trần văn phòng quả là điều hiếm gặp.

Ông Lange cho biết ông sẽ giữ một nửa số tiền vàng cho mình trong khi chia số còn lại cho các công nhân đã tìm ra kho báu.

Không ai biết ai đã cất giấu số tiền vàng trên trong tòa nhà, nhưng được biết vào những năm 1930 tòa nhà thuộc sở hữu của một nhà sản xuất rượu vang.

(Vũ Quý theo AFP)

3/- Về nhà mới nhặt được 45.000 USD

Một người đàn ông tại Mỹ đã nhặt được tới 45.000 USD (tương đương 940 triệu VNĐ) khi dọn đến ngôi nhà mới cơ đấy.

Ông Josh Ferrin, sống ở Salt Lake, bang Utah, Mỹ đã tìm thấy 45.000 USD trong nhà mình, căn nhà nơi ông ở là do ông mới mua vì thế đây là số tiền của chủ cũ. Ngày đầu tiên khi ông về nhà mới, ông đã tình cờ tìm thấy một bọc tiền lớn khi đang đi xem nhà.

Sau đó cả nhà ông cùng đếm số tiền đó và tổng cộng số tiền họ phát hiện ra là 45.000 USD, cả gia đình ông quyết định trả số tiền này cho người chủ cũ. Điều đáng quan tâm là ông Josh Ferrin không phải là một người giàu có, ông cũng đang cần tiền để chi tiêu cho 1 số việc.

Ông Josh chia sẻ : “Khi tôi đang xem xét ngôi nhà, tôi đã tìm thấy những bọc tiền này, nó rất nặng, ban đầu tôi nghĩ rằng đây là gỗ hoặc 1 thứ gì đó tương tự, nhưng thực sự đó là tiền”. Ông còn tâm sự them : “Tôi cũng là người và tôi cũng đang rất cần tiền, nhưng tôi nghĩ rằng việc làm của tôi là đúng đắn, chúng ta nên trả lại những gì không thuộc về mình. Bên cạnh đó tôi có 2 con trai và tôi cần dạy chúng về lòng trung thực.”

Thực sự là không phải ai cũng có thể làm được như ông Josh phải không nào ?

4/- Liều mạng nhặt tiền trên đường cao tốc

Vào lúc 4h chiều ngày 18/1 tại tuyến đường cao tốc Bắc – Nam ở Malacca, Malaysia đã xảy ra một vụ tai nạn. Một chiếc xe BMW đi từ Kuala Lumpur đã đâm vào đuôi 1 chiếc xe Toyota Hilux khiến tài xế xe Hilux mất lái và đâm vào lề đường. Phần sau của xe Hilux bị hất văng ra, những đồng tiền xu trong đó bị bắn tung tóe và vương vãi trên đoạn đường cao tốc.

Ngay sau đó, rất nhiều người đã dừng xe và tranh nhau nhặt tiền xu. Nhiều người còn ra sức nhặt tiền và không chịu dừng lại dù người chủ xe đã van xin. Người tài xế của xe Hilux nói rằng anh đang đi phân phối tiền xu cho các cửa hàng ở Malaca.

Yên Huỳnh post

Hết mực rồi

Luật-sư hỏi :

– Xin bà cho biết lý-do xin ly-dị.

Bà khách mặt đỏ au, đáp nhỏ :

– Thưa, thật là khó nói…

Luật-sư chừng như bận-rộn lắm, giao cho cô thư-ký :

– Cô chờ nghe và ghi hộ tôi nhé !

Cô thư ký đang tẩn-mẩn sửa bút, than-phiền :

– Khổ quá ! Bút lại hết mực rồi !

Bà khách nghe lọt, mừng rỡ đáp :

– Vâng ! Thế đấy, xin cô cứ ghi lại như vậy

Xui quá

Hai ông than-thở với nhau, người lớn tuổi hơn nói :

– Rõ chán, hễ tới kỳ hè là bà xã tôi đi đẻ !

Người trẻ hơn than :

– Còn đỡ hơn tôi. Bà vợ tôi đi đẻ ngay trong tuần trăng mật !

Quả là nghiêm trọng

Một thiếu-phụ than-thở với cô bạn láng-giềng :

– Nguy quá chị ạ ! Tôi nhặt được chiếc khăn tay của tôi trong túi áo chồng tôi.

– Ơ ! Vợ chồng dùng chung một chiếc khăn, có gì mà nguy !

– Nhưng chiếc khăn thêu hai đóa hồng ấy tôi đã tặng cho người bạn gái thân nhất của tôi từ lâu !

Đến phiên cô bạn láng giềng mặt mày tái đi :

– Hừ ! thế thì nghiêm-trọng thật !

Mỹ Nhàn post