NHỮNG CHUYỆN KỂ VỀ TT HOA KỲ

NHỮNG ĐẶC QUYỀN

CỦA TỔNG THỐNG MỸ

Kể từ lúc giành được độc lập, Mỹ đã ấp ủ đi theo khuynh hướng dân chủ, bỏ lớp vỏ quý tộc. Song người điều hành trung ương – tổng thống – đã trở thành một con người khác so với đại bộ phận dân cư.

Thời gian trôi qua, những đặc quyền dành cho tổng thống ngày càng nhiều hơn. Mặc dù một số đặc quyền gây tranh cãi song nhìn chung người Mỹ dường như chấp nhận cách đối xử đặc biệt này.

Nghỉ hưu : Các cựu tổng thống đã nhận được khoản lương hưu lên đến 191.300 USD/năm. Ngoài số tiền đó, họ còn có một đội ngũ nhân viên được ăn lương và văn phòng làm việc, được miễn tiền điện thoại, được chu cấp phí đi lại. Họ nhận được khoản bồi thường trong trường hợp phải dời văn phòng làm việc. Được chăm sóc y tế rất  tốt tại những bệnh viện quân đội.

Các cựu tổng thống có thể ngủ ngon giấc nhờ dịch vụ an ninh tuyệt vời, dịch vụ này sẽ hỗ trợ  suốt 10 năm sau khi họ rời Nhà Trắng. Sau cùng, họ được hưởng một nghi thức lễ tang theo cấp nhà nước.

Lương bổng : Vào năm 2001, Quốc hội Mỹ đã nâng mức lương tổng thống từ 200.000 USD/năm lên thành 400.000 USD/năm. Nhưng chưa hết. Các tổng thống còn nhận thêm khoản tiền 100.000USD cho các chi phí đi lại. Ngoài ra, họ còn được 19.000USD cho các mục  giải trí. Mặc dù mức lương phải chịu thuế, nhưng những khoản tiền này không hề bị đánh thuế một xu nào.

Air Force One và Marine One : Khi tổng thống đi lại, họ cũng có phương tiện riêng. Mặc dù bất kỳ máy bay nào chở tổng thống cũng đều được gọi là “Air Force One”, nhưng cái tên này được ám chỉ cho hai chiếc máy bay phản lực Boeing 747-200B, chúng được thiết kế đặc biệt chỉ để dành cho tổng thống. Trung bình chiếc máy bay này có thể chở 70 hành khách và 26 nhân viên phi hành đoàn.

Nửa sau của máy bay là các phòng dành cho nhân viên, khu vực truyền thông và các khu vực an ninh, dưới buồng lái của máy bay là phòng của tổng thống nó bao gồm văn phòng, phòng tắm, phòng ngủ và phòng thể thao.

Tầng trên của máy bay là trung tâm viễn thông, trong khi đáy máy bay là kho chứa hàng. Riêng chiếc máy bay chở hàng mang tên C141 Starlifter chuyên chở các loại xe như những chiếc xe hơi Limousine bọc thép, sẽ chở tổng thống đến bất kỳ nơi đâu ông muốn.

Trong những chặng hành trình ngắn như từ Trại David hoặc khu Căn cứ không quân Andrews, tổng thống thường sử dụng trực thăng, nó gọi là Marine One. Hạm đội máy bay trực thăng hiện tại của tổng thống Mỹ bao gồm Sikorsky VH-3D Sea Kings và VH-60N Black Hawks. Các kế hoạch trang bị những chiếc trực thăng Marine One mới đang còn gây tranh cãi khi Lầu Năm Góc công bố vào năm 2008 rằng mỗi chiếc sẽ có giá thành khoảng 400 triệu USD

Khi các tổng thống cần thư giãn dài ngày, bao giờ họ cũng nghĩ đến việc sẽ đến khu Trại David hẻo lánh.

Vào năm 1942, cố Tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt đã xây dựng khu trang trại xinh đẹp này, trị giá 25.000USD. Trại David nằm trên đỉnh ngọn núi Catoctin, ngoại ô thành phố Thurmont, bang Maryland. Khu trang trại này nằm chỉ cách Washington D.C khoảng 113km, một nơi nghỉ ngơi yên tĩnh, hoàn toàn tách rời với khung cảnh đô thị ồn ào, sầm uất, rất lý tưởng cho tổng thống.

Vào mùa hè, nhiệt độ tại Trại David cũng mát mẻ hơn so với những khu vực xung quanh. Tổng thống Roosevelt đã thường xuyên lui tới đây trước khi ông qua đời, tên ban đầu của nó là Shangri-la – nguyên nghĩa là tên của một vùng đất thiêng ở Tây Tạng, cái tên xuất hiện trong cuốn tiểu thuyết “Chân trời đã mất”.

Tổng thống Eisenhower sau đó trùng tu khu trang trại và đổi tên nó là Trại David nhằm tưởng nhớ đến người cháu trai của mình. Tổng thống Carter sử dụng Trại David làm nơi tổ chức những buổi nói chuyện hòa bình giữa tổng thống Ai Cập và thủ tướng Israel vào năm 1978.

Ngày nay, Trại David không đón tiếp công chúng và rất  an toàn. Sau vài lần trùng tu, tại đây có 11 phòng ngủ và văn phòng, hồ bơi, khu săn bắn và sân chơi bowling. Các tổng thống đến đây bằng trực thăng.

Cadillac One : Chiếc limousine đang sử dụng cho tổng thống đương nhiệm gọi là Cadillac One. Lớp bọc thép trên cỗ xe Cadillac One này dầy đến 12,7cm, các cánh cửa xe nặng như cánh cửa của máy bay Boeing 757. Tổng thống Barack Obama đi chiếc limousine Cadillac Presidential đời mới. Hình ảnh chiếc xe này đã xuất hiện trên nhiều tờ báo quốc tế nhưng tính năng bí mật của nó thì chưa mấy người biết.

Chiếc Cadillac Presidential mới này cao hơn nhiều so với chiếc Cadillac của Tổng thống tiền nhiệm George Bush mặc dù chiều dài và chiều rộng hệt như nhau. Điều này không có nghĩa ông Obama muốn ngồi cao hơn người tiền nhiệm của ông mà chỉ đơn giản là vì ông Obama đề ra những yêu cầu cao hơn đối với vấn đề an ninh.

Chẳng hạn, người lái xe và các nhân viên bảo vệ ngồi trên xe cần có tầm nhìn bao quát hơn.

Bên trong xe được bố trí có sự phối hợp chặt chẽ với Nội các mới của Tổng thống và chẳng khác gì một văn phòng xa hoa với đủ mọi loại thiết bị liên lạc tối tân. Các ghế ngồi đương nhiên được bọc bằng da tự nhiên và trên lưng ghế có thêu hình Quốc huy Mỹ. Xe được thiết kế và thử nghiệm bởi các chuyên gia của Hãng Cadillac, có lưu ý đến một số lượng lớn những yêu cầu đối với các tính năng của xe.

Trên cánh gờ bên phải mũi xe có cắm Quốc kỳ Mỹ. Khi có Tổng thống ngồi trên xe, trên cánh gờ bên trái mũi xe có cắm thêm cờ của Tổng thống. Vào lúc trời tối, các lá cờ này được chiếu sáng bởi một hệ thống đèn .

Để bảo đảm an toàn cho Tổng thống, xe có một lớp bọc thép dầy loại B6-B7, kể cả sàn và trần, chống được lựu đạn và đạn pháo. Ngoài lớp bọc thép này, xe còn được bọc một lớp vật liệu đặc biệt.

Nếu chẳng may sa vào ổ phục kích thì sau khi bị vài trăm viên đạn bắn vào, lớp vật liệu đặc biệt này sẽ tự tỏa khói và vài giây sau sẽ bùng lên một đám lửa tạo thành môt màn khói dầy đặc có tác dụng ngụy trang cho xe.

Hơn thế nữa, cũng như bất kỳ chiếc xe nào của các Tổng thống Mỹ, chiếc Cadillac Presidential của Tổng thống Obama có một loạt chi tiết bổ sung bí mật cho phép nâng cao đáng kể khả năng bảo vệ trong trường hợp bị các loại vũ khí phi truyền thống tấn công.

Chẳng hạn, nếu bị tấn công bằng vũ khí hóa học, hòm xe lập tức được bịt kín, không để không khí lọt qua, còn nếu bị mắc kẹt một thời gian dài trong khu vực nguy hiểm thì hệ thống cung cấp không khí tự động sẽ bắt đầu hoạt động.

Đấy là chưa kể lốp xe cho phép xe tiếp tục chạy ngay cả trong trường hợp bị bắn thủng nhiều chỗ. Để làm được điều này, ở phía bên trong lốp, người ta hàn mộtvòng cao su vào vành bánh xe, nhờ đó xe có thể an toàn chạy khỏi khu vực bị bắn.

Bình xăng của xe cũng khác thường. Nếu ngẫu nhiên bị đạn hoặc mảnh đạn bắn vào thì bình xăng cũng không nổ tung hoặc bốc cháy. Đó là vì thành bình được phủ một lớp keo bịt kín đặc biệt có tác dụng bịt ngay lỗ thủng và mau chóng ngăn chặn dòng xăng chảy. Khoang động cơ và ngay cả bộ tảng nhiệt cũng được bọc thép để bảo đảm khả năng hoạt động của xe trong những tình trạng nguy hiểm.

Nhưng chiếc xe của đội cận vệ Tổng thống còn ghê gớm hơn. Chạy ngay sau chiếc limousine bọc thép của ông Obama là chiếc Chevrolet Suburban cỡ lớn có gắn súng máy trên mui xe.

Trong những trường hợp bình thường, khi đoàn xe hộ tống Tổng thống chạy trên đoạn đường đến Nhà Trắng hoặc trong các chuyến công du nước ngoài, chiếc Suburban này lặng lẽ chạy, không hề thu hút sự chú ý. Nhưng chỉ cần đội bảo vệ cảm thấy có chuyện gì đó không ổn là cửa khoang mui xe lập tức mở ra và trên mui xe lập tức xuất hiện một khẩu súng máy Gatlington 6 nòng cỡ lớn quay tròn được.

Ưu điểm của loại súng máy này là nòng súng vì quay tròn được nên mau chóng nguội đi, nhờ đó, có thể bắn trong một thời gian lâu hơn nhiều. Tốc độ bắn : 3.000 viên đạn trong một phút, bởi vậy, nó có thể phá hủy một chiếc xe chỉ trong vài giây.

Ngoài đạn chì và đạn thép, loại súng máy Gatlington còn thường sử dụng đạn uran, đạn phá và đạn xuyên để xạ thủ nhằm đúng mục tiêu dễ dàng hơn và tăng được đáng kể hiệu quả bắn.

Nhà Trắng : Nhà Trắng là một trong những biểu tượng dễ nhận biết nhất về uy tín và quyền lực của tổng thống Mỹ. Tòa nhà này được xây dựng vào những năm đầu 1800, nơi cư trú tiếng tăm này đã trải qua nhiều lần biến đổi. Cái tên Nhà Trắng được Tổng thống Theodore Roosevelt chính thức đặt năm 1901.Ngày nay, nó gồm có 132 phòng các loại và 35 phòng tắm.

Nhà Trắng gồm 6 tầng : 2 tầng hầm, 2 tầng dành cho khách du lịch và 2 tầng dành cho gia đình tổng thống. Mỗi ngày Nhà Trắng đón khoảng 6.000 du khách. Chi phí cho Nhà Trắng khá tốn kém, đắt đỏ, chỉ riêng hoa tươi dùng để trang trí cho các căn phòng đã ngốn khoảng 252.000USD/năm.Chi phí bảo trì cho Nhà Trắng hàng năm tốn xấp xỉ 4 triệu USD.

Nhân sự : Người đứng đầu các nhân viên quản gia và điều hành hoạt động tại Nhà Trắng được gọi bằng cái tên “Trưởng trợ giáo”. Người này chịu trách nhiệm giám sát các nhân viên tại 3 khu vực chính, điều phối cuộc sống riêng tư và công cộng của tổng thống.
Bếp trưởng tại Nhà Trắng là Cristeta Comerford, người phụ nữ đầu tiên giữ vững cương vị này kể từ năm 2005. Đội ngũ bác sĩ tại Nhà Trắng điều trị cho gia đình tổng thống, phó tổng thống, nhân viên Nhà Trắng và khách. Nhà Trắng có khoảng 450 nhân viên, lương trung bình 82.000USD/năm/người. Hơn 20 người được hưởng mức lương cao 170.000 USD/năm, trong đó thư ký báo chí Jay Carney.

Nhà Blair : Nhà Blair là nhà khách chính thức dành cho tổng thống Mỹ. Nó là một  gồm 4 căn nhà liên kết với nhau. Nhà Blair thực sự còn lớn hơn cả Nhà Trắng với diện tích hơn 21.336m2.

Khối nhà này có hơn 119 phòng các loại bao gồm hơn 20 phòng ngủ dành cho khách khứa và nhân viên, 35 phòng tắm, 4 phòng ăn, 1 phòng tập thể dục, một cửa hàng hoa và một tiệm làm đầu. Đã từng có một vài vị tân tổng thống và gia đình của họ đã nghỉ vài đêm tại Nhà Blair trước khi đặt chân vào Nhà Trắng. Khi các nguyên thủ nước ngoài nghỉ tại Nhà Blair, thì mặt trước ngôi nhà này sẽ tung bay lá quốc kỳ của nước họ.

NHỮNG ĐẶC ĐIỂM BÍ MẬT

CỦA CÁC TỔNG THỐNG MỸ

Từ George Washington, vị Tổng thống đầu tiên cho tới người đương nhiệm Barack Obama đều chứa đựng nhiều bí mật lý thú và gây tò mò cho công chúng.

1/. Ít ai biết George Washington, vị Tổng thống đầu tiên đồng thời cũng là người anh hùng của nước Mỹ, không thích bắt tay người khác. ông cho rằng, hành động bắt tay hạ thấp vị thế của một tổng thống. Do đó, thay vì bắt tay, ông thường cúi chào các vị khách của mình. Để tránh tình huống khó xử trong trường hợp khách đưa tay ra bắt trước, Tổng thống Mỹ thường đặt một tay lên thanh gươm của mình và tay kia giữ mũ.

2/. John Adams, Tổng thống thứ 2 và Thomas Jefferson, Tổng thống thứ 3 của Mỹ đều chết cùng một ngày. Hơn nữa, đó lại là một ngày đặc biệt của nước Mỹ, 4/7/1826, vừa tròn 50 năm ngày Mỹ ký Tuyên ngôn độc lập.

3/. Tổng thống Thomas Jefferson, (Tổng thống thứ 3) xuất thân là một nhà văn nổi tiếng, đồng thời cũng là tác giả chính của bản Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ, không thích phát biểu trước công chúng và thường tránh đọc diễn văn ở nơi công cộng. Ngoài ra, Thomas Jefferson cũng được xem là một trong những tổng thống nghèo nhất của Mỹ. Ông phải vay nợ trong suốt cuộc đời mình, trong đó có cả một khoản nợ của bố vợ mà ông có trách nhiệm phải trả thay. Sau khi ông chết, bất động sản của Tổng thống được đấu giá để trả nợ và con gái ông phải sống dựa vào trợ cấp từ một quỹ từ thiện.

4/. James Madison là Tổng thống thứ 4, có thể chất yếu ớt nhất trong số các tổng thống Mỹ. Chỉ cao nhỉnh hơn 1m6, ông nặng chưa đầy 45 kg, chỉ gần bằng 1/4 cân nặng của Tổng thống Taft, Tổng thống béo nhất của Mỹ.

5/. Tổng thống John Quincy Adams (Tổng thống thứ 6) thích bơi khỏa thân ở Potomac. Một lần, một nữ phóng viên dũng cảm muốn thực hiện cuộc phỏng vấn với Adams nên đã liều đánh cắp quần áo của ông cho đến khi nhận được cái gật đầu đồng ý trả lời phỏng vấn của Tổng thống mới thôi.

6/. Tổng thống Andrew Jackson (Tổng thống thứ 7) từng là một tay đấu súng có tiếng. Một lần, một người đàn ông nọ công kích vợ của Tổng thống Jackson, họ đấu súng. Người đàn ông bắn một phát trúng phía trên trái tim của Tổng thống Jackson. Tuy nhiên, Tổng thống vẫn giữ bình tĩnh, ngắm mục tiêu và bắn chết đối thủ. Do việc gắp viên đạn ra quá nguy hiểm cho tính mạng nên Tổng thống Jackson đành phải sống chung với nó cho đến cuối đời.

7/. Tổng thống Martin Van Buren (Tổng thống thứ 8), từng không nói được tiếng Anh. Ông được nuôi dưỡng và trưởng thành trong văn hóa và ngôn ngữ Hà Lan.

8/. William Henry Harrison là Tổng thống nổi tiếng với bài diễn văn nhậm chức dài nhất nhưng lại giữ nhiệm kỳ tổng thống ngắn nhất. Cụ thể, bài diễn văn dài dòng của ông đọc dưới điều kiện thời tiết tồi tệ. Do đó, ông bị cảm lạnh trầm trọng và qua đời chỉ sau một tháng nhậm chức. Ông là Tổng thống thứ 9 của Mỹ.

9/. John Tyler (Tổng thống thứ 10) là Phó Tổng thống đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ nhậm chức sau khi đương kim Tổng thống qua đời. Ông cũng là tổng thống có nhiều con hơn so với bất cứ đồng nhiệm nào với 15 người con tất cả.

10/. Tổng thống James Polk (Tổng thống thứ 11) được bầu làm Tổng thống Mỹ bởi lời hứa không tái tranh cử nhiệm kỳ thứ 2.

11/. Tổng thống Zachary Taylor (Tổng thống thứ 12) qua đời do mắc phải bệnh tả bởi trót ăn một bát anh đào với sữa lạnh.

13/. Tổng thống Millard Fillmore (Tổng thống thứ 13) từng từ chối nhận tấm bằng danh dự của Đại học Oxford với lý do, ông không thể đọc được những gì mà tấm bằng viết bởi nó sử dụng chữ Latin. Ông từng nói rằng: “Người ta không nên nhận một tấm bằng mà mình không thể đọc nổi nó viết những gì”.

14/. Tổng thống James Buchanan (Tổng thống thứ 15) bị đánh giá là tổng thống tồi nhất trong lịch sử nước Mỹ trong cuộc thăm dò ý kiến các sử gia bởi nhu nhược và lãnh đạo kém cỏi. Trong nhiệm kỳ của mình, James Buchanan đã không đủ kiên quyết và mạnh mẽ để chống lại âm mưu của các bang miền Nam đòi ly khai dẫn đến cuộc nội chiến đẫm máu của Mỹ. Đồng thời, ông cũng không chứng tỏ được tài lãnh đạo khi để nước Mỹ chìm trong suy thoái. Tổng thống James Buchanan cũng được cho là bị trầm cảm nặng và là tổng thống đồng tính đầu tiên của Mỹ. Ông cũng là Tổng thống Mỹ duy nhất độc thân khi đang đương nhiệm.

15/. Tổng thống Abraham Lincoln (Tổng thống thứ 16) trong các bức ảnh rõ ràng là một người đàn ông có dung mạo không ưa nhìn nhưng những người từng tiếp xúc với ông đều nhận xét, ông sở hữu khuôn mặt thông minh và điển trai. Ông là Tổng thống đầu tiên của Mỹ để một chùm râu rậm. Ông nuôi râu theo lời góp ý của một cô gái trẻ tên là Grace Bedell chứ không phải phu nhân của mình.

16/. Tổng thống James Garfield (Tổng thống thứ 20) có thể viết tiếng Latin bằng tay trái trong khi tay phải đang viết đồng thời một văn bản khác bằng tiếng Hy Lạp.

17/. Tổng thống Chester A. Arthur (Tổng thống thứ 21) đã bán toàn bộ nội thất bên trong Nhà Trắng trước khi phải rời khỏi dinh thự này. Nay nhiều đồ đạc trong số đó dù có thể lỗi mốt so với kiến trúc của Nhà Trắng hiện nay nhưng lại có giá trị kếch xù.

18/. Grover Cleveland là Tổng thống Mỹ thứ 22 và 24 đồng thời là Tổng thống duy nhất phục vụ hai nhiệm kỳ không liên tục (1885–1889 và 1893–1897). Ngoài ra, ông cũng là Tổng thống đảng Dân chủ đầu tiên được bầu sau Nội chiến Mỹ. Đặc biệt, Tổng thống Grover Cleveland có sở thích nghe điện thoại và luôn đích thân trả lời các cuộc điện thoại ở Nhà Trắng.

19/. Tổng thống Benjamin Harrison (Tổng thống thứ 23) có nỗi ám ảnh với điện. Ông và vợ không bao giờ chạm vào các công tắc điện vì lo sợ bị điện giật. Đồng thời, họ luôn bật đèn sáng trưng khi ngủ.

20/. William Howard Taft (Tổng thống thứ 27) là Tổng thống béo nhất của Mỹ nhưng đồng thời cũng giữ một danh hiệu liên quan đến thể thao. Ông là người đầu tiên khởi xướng trò ném bóng xuống sân mở đầu một mùa giải bóng chày (giống như phát bóng danh dự trong bong đá). Sau lần ném đầu tiên của Tổng thống Taft ngày 14/4/1910, hành động này trở thành nghi thức truyền thống của các tổng thống Mỹ dù không có văn bản nào quy định điều này.

21/. Tổng thống Woodrow Wilson (Tổng thống thứ 28) là Tổng thống có học vị cao nhất của Mỹ với một tấm bằng tiến sĩ dù ông không được học đọc cho tới khi tròn 7 tuổi.

22/. Tổng thống thứ 30 của Calvin Coolidge là người rất kiệm lời. Do đó, ông có tên thân mật là “Cal ít nói”.Mỹ

23/. Tổng thống thứ 31 của Mỹ Herbert Hoover và vợ có khả năng nói thông thạo tiếng Quan Thoại. Khi họ trao đổi riêng tư và không muốn người khác nghe được, họ sẽ nói chuyện bằng tiếng Quan thoại.

24/. Tổng thống thứ 32 của Mỹ Franklin Delano Roosevelt có vợ cũng mang họ Roosevelt. Do đó, Đệ nhất phu nhân không cần thay tên họ khi kết hôn với Tổng thống Franklin.

25/. Khi tàu bị đánh chìm trong Chiến tranh thế giới thứ 2, Tổng thống thứ 35 của Mỹ, John F. Kennedy đã cố cứu sống một thủy thủ bị thương bằng cách buộc một sợi dây vào răng và kéo người này vào bờ. Tổng thống đã bơi một chặng đường 3,5 km.

26/. Tổng thống thứ 36 của Mỹ, Lyndon Johnson nghiện uống Fresca đến nỗi cho xây hẳn một vòi phun Fresca trong Nhà Trắng.

27/. Tổng thống thứ 37 của Mỹ Richard Nixon thích chơi bowling đến nỗi lấp hồ bơi trong Nhà Trắng để xây một làn bowling.

28/. Tổng thống thứ 38 của Mỹ, Gerald Ford là người duy nhất không được bầu vào cương vị tổng thống hay phó tổng thống. Ông được Tổng thống Richard Nixon bổ nhiệm làm phó tổng thống và sau đó đảm nhận cương vị TT Mỹ sau khi Nixon từ chức.

29/. Tổng thống thứ 41 của Mỹ, George HW Bush đã “nôn thốc nôn tháo” ngay giữa bữa tiệc chào đón ông đến thăm Nhật Bản được tổ chức bởi Thủ tướng nước này.

30/. Tổng thống thứ 42 của Mỹ, Bill Clinton từng là thành viên của một ban nhạc Jazz gồm 4 thành viên hồi còn học phổ thông. Ban nhạc này có tên Three Blind Mice (a chú chuột mù) và luôn biểu diễn với những cặp kính râm.

31/. Tổng thống thứ 43, George W. Bush giữ kỷ lục là tổng thống có tỷ lệ ủng hộ cao nhất và thấp nhất của Mỹ. Tỷ lệ ủng hộ đối với ông Bush tăng lên đỉnh điểm sau sự kiện 11/9 và giảm xuống mức thấp thảm hại so với bất cứ tổng thống nào của Mỹ sau thảm họa siêu bão Katrina tàn phá Mỹ.

32/. Tổng thống đương nhiệm Barack Obama thường thích đọc những bài báo có nội dung phê bình về mình hơn là các bài toàn lời khen ngợi. Ngoài ra, Tổng thống thứ 44 của Mỹ cũng rất thích sưu tập truyện tranh và có thể nói trôi chảy tiếng Tây Ban Nha.

Mai Trung Tín post (theo Phương Đăng)

VŨ KHÍ CỦA ĐÀN BÀ

Bóng hồng làm cựu

Bộ trưởng Quốc phòng Nga mất chức

Chân dung người phụ nữ là trung tâm của vụ bê bối khiến cựu Bộ trưởng Quốc phòng Nga Anatoly Serdyukov mất chức và dẫn đến một cuộc cải tổ lớn trong lực lượng vũ trang nước này lần đầu tiên được tiết lộ.

Bà Yevgeniya Vasilyeva, 33 tuổi, được cho là người tình của ông Anatoly Serdyukov, 50 tuổi, người bị Tổng thống Nga Vladimir Putin cách chức tuần trước. Cơ quan điều tra nhà nước đã phát hiện vụ tham nhũng 60 triệu bảng Anh ở Oboronservis, một công ty thuộc quốc phòng, nơi ông giữ chức chủ tịch hội đồng quản trị cho đến năm ngoái.

Cả ông Serdyukov và bà Vasilyeva, giám đốc của Oboronservis đều không bị buộc tội, nhưng bà là nghi can chính trong vụ việc. Các nhà phân tích ở Moscow cho rằng cựu Bộ trưởng Quốc phòng sẽ sớm bị triệu tập thẩm vấn.

Khi cảnh sát lục soát căn hộ sang trọng của bà Vasilyeva tại thủ đô Moscow tháng trước, họ phát hiện ra ông Serdyukov đang ở trong nhà, theo Life News, hãng tin có mối quan hệ thân thiết với điện Kremlin và các cơ quan thực thi pháp luật.

Các nhà điều tra nhà nước đã thu giữ một số kim cương, ngọc, trang sức, đồ cổ và tiền mặt trị giá lên tới 620.000 bảng Anh.

Trong bức ảnh, bà Vasilyeva, tóc màu vàng, mặc chiếc váy lấp lánh nghiêng về phía người bạn có mái tóc màu hạt dẻ trong một nhà hàng. Người chụp cùng bà trong bức ảnh là bà Yekaterina Smetanova, chuyên gia trước đây làm việc cho Bộ Quốc phòng, người bị buộc tội gian lận vào hôm thứ tư tuần trước trong vụ Obronservis cùng chồng là Maxim Zakutaylo.

Tất cả những người ngày bị cáo buộc giúp đỡ mua bán bất hợp pháp tài sản của Bộ Quốc phòng cho các công ty trực thuộc và bán các tài sản của Bộ với giá thấp hơn nhiều so với thị trường cho các công ty trên để ăn tiền lại quả.

Người ta cho rằng thông tin về mối quan hệ của cựu Bộ trưởng và bà Vasilyeva được ông Viktor Zubkov, bố vợ ông Serdyukov, tiết lộ. ông Zubkov, 71 tuổi, là Chủ tịch đầy quyền lực của Tập đoàn dầu khí Nga Gazprom, đồng minh thân cận của Tổng thống Putin. Ông Zubkov rất có thể tức giận vì cựu Bộ trưởng đối xử ghẻ lạnh với con gái mình là Yulia, 42 tuổi.

Cô Vasilyeva hiện đang trị bệnh trong bệnh viện, song sẽ sớm bị thẩm vấn.

(theo Phan Yến Telegraph)

TT OBAMA

GIẤU VỤ NGOẠI TÌNH

CỦA GIÁM ĐỐC CIA ?

Tổng thống Mỹ Barack Obama đang phải đối mặt cáo buộc liên quan vụ từ chức của Giám đốc CIA David Petraeus : Vụ đại tướng Petraeus quan hệ với gái có chồng được FBI phát hiện mấy tháng trước, nhưng bị ỉm đi do bầu cử ? Nhiều khả năng Quốc hội Mỹ sẽ điều tra cáo buộc rằng, vụ ngoại tình của Giám đốc Cục Tình báo Trung ương (CIA) bị bưng bít để bảo vệ chiến dịch tái tranh cử của Tổng thống Obama.

Nhiều người cho rằng, vụ việc được Cục Điều tra Liên bang (FBI) phát hiện hồi đầu năm, nhưng chỉ được công bố sau ngày bầu cử tổng thống.

FBI bắt đầu điều tra hồi tháng 2 sau khi phát hiện máy tính của tướng Petraeus (60 tuổi) bị một người khác truy cập, dấy lên lo ngại về một lỗ hổng bảo mật lớn. Các điều tra viên tin rằng, người truy cập là người tình của ông Petraeus – bà Paula Broadwell (40 tuổi). Vụ điều tra dẫn tới việc phát hiện hàng trăm thư điện tử có nội dung tình cảm, trong đó có một email ngụ ý việc “quan hệ tình dục dưới gầm bàn”.

Ông Frances Townsend, cựu quan chức an ninh chính phủ Mỹ, nay là thành viên Ủy ban Tư vấn CIA, nhận định : “Mỗi khi FBI mở cuộc điều tra về một quan chức cấp cao, họ phải thông báo về việc đó, đặc biệt khi liên quan lĩnh vực tình báo. Rất khó tin rằng Nhà Trắng không biết việc này trước bầu cử”.

Các quan chức Nhà Trắng luôn khẳng định rằng, chỉ đến hôm 7/11 (một ngày sau ngày bầu cử), Tổng thống Obama mới biết vụ ngoại tình của Giám đốc CIA David Petraeus. Ngày 8/11, ông Obama chấp nhận đơn từ chức của đại tướng Petraeus. Vụ việc được công bố ngày 9/11.

Một số chuyên gia cho rằng, vụ bê bối tình ái chỉ là màn khói để ông Petraeus không phải giải trình trước một ủy ban Thượng viện (dự kiến diễn ra trong tuần này) về việc đại sứ Mỹ và ba nhân viên sứ quán thiệt mạng hồi tháng 9 ở thành phố Benghazi của Libya.

Nhà Trắng bị cáo buộc bỏ qua những cảnh báo liên tiếp về một vụ tấn công khủng bố của Al Qaeda nhằm vào Lãnh sự quán Mỹ ở Benghazi.

Một quan chức trong Quốc hội Mỹ nói : “Việc từ chức rất tiện lợi cho chính quyền. Liệu ông ấy (tướng Petraeus) sẽ tiết lộ rằng, CIA biết tòa nhà lãnh sự ở Benghazi có nguy cơ bị tấn công, nhưng Washington không làm gì để bảo đảm an toàn ?”. Các thành viên của Ủy ban Tình báo Thượng viện có thể vẫn bỏ phiếu buộc ông Petraeus phải giải trình.

Một nguồn tin giấu tên nhận định : “Đây có thể là một vụ Watergate nữa, nhưng không phải là sự kiện khiến tổng thống về vườn mà là về việc bưng bít thông tin”.

Bà mẹ hai con Broadwell, người chuyên viết tiểu sử, bắt đầu quan hệ tình ái với tướng Petraeus (chung sống với vợ là Holly 37 năm qua) từ năm 2010, khi bà gặp ông ở Afghanistan. Thời điểm đó, bà Broadwell đang làm nghiên cứu về tiểu sử. Bà nói, tình cảm của họ nảy nở qua những lần tập chống đẩy và chạy 5 dặm trong sa mạc.

Trong thời gian bà Broadwell phỏng vấn ông Petreaus cho cuốn sách của mình, hai người thường chạy trong vùng đồi núi ở thủ đô Kabul của Afghanistan. “Đó là nền tảng mối quan hệ của chúng tôi”, bà nói. Tuy nhiên, bà nói rằng, quan hệ của hai người bắt đầu khi họ ở Washington. Tướng Petraeus chỉ huy các lượng lượng quân sự Mỹ ở Afghanistan và Iraq trước khi dẫn dắt CIA.

Bà Broadwell nói mình đang nghiên cứu tại Trung tâm Lãnh đạo công của Đại học Harvard, và là nghiên cứu sinh về chính sách công tại Trường King’s College London (Anh). Bà nhận bằng thạc sĩ quản lý cộng đồng từ trường Kennedy thuộc Harvard. Bà Broadwell có bằng về địa chính trị và kỹ thuật hệ thống của Học viện Quân sự Mỹ ở West Point. Tại đây, bà đứng đầu trong lớp về xếp loại thể lực. Hồi học phổ thông, bà là người đọc diễn văn từ biệt trong lễ tốt nghiệp. Bà từng làm người mẫu cho một nhà sản xuất súng máy.

(theo Thái AnDaily Mail, New York Times, AP)

Nguyễn Văn Danh post

VĂN HÓA VĂN NGHỆ (24)

NS LAM PHƯƠNG

MỘT ĐỜI THĂNG TRẦM

Từ đầu tháng 11/2012 ở Sài Gòn đang râm rang tin đồn, nhạc sĩ Lam Phương vừa qua đời.

Chúng tôi đi tìm nguồn tin này khắp nơi (trong và ngoài nước) không ai xác nhận tin này. Chúng tôi cũng xin post lại bài viết về nhạc sĩ Lam Phương đến các bạn để tường về một nhạc sĩ tài hoa  (xem trong blog Một Thời Sài Gòn có địa chỉ đường dẫn http://cafevannghe.wordpress.com ngày 26/2/2011) sau đây là bài viết của :

– Nguyễn Ngọc Ngạn

Như thông lệ hằng năm, cứ vào đầu tháng 12, tôi đi trình diễn một tour bên Úc qua mấy thành phố lớn như Sydney, Melbourne, Brisbane và Perth. Năm ngoái, sau buổi văn nghệ tại Casino Crown, tôi được một vài thương gia mời đi ăn cơm rồi ngỏ ý đề nghị tôi đưa nhạc sĩ Lam Phương sang Úc, mặc dù ai cũng biết ông đang ngồi xe lăn từ 10 năm nay, di chuyển đường xa rất khó khăn.

Chỉ vì nhạc Lam Phương quá đặc sắc và đa dạng, nên khán giả bốn phương đều muốn nghe lại và nhất là muốn gặp mặt ông một lần, biết đâu chăng là lần cuối bởi năm nay ông đã 72. Những người ngồi với tôi hôm ấy đều còn nhớ rất rõ, Lam Phương là nhạc sĩ duy nhất mà Trung tâm Thúy Nga đã thực hiện đến 3 cuốn Paris By Night để giới thiệu sự nghiệp của ông :

–  “Bốn Mươi Năm Âm Nhạc Lam Phương” –  “Lam Phương, Dòng Nhạc Tiếp Nối” –  ” Đường Về Quê Hương’

Nói chung, ông là người viết nhạc có tầm ảnh hưởng rộng lớn nhất, xét về mức phổ biến trước cũng như sau năm 1975.

Từ Úc về, tôi sang trình diễn tại mấy nước ở vùng Đông Âu cũ như Ba Lan, Cộng Hòa Séc (Tiệp Khắc) và Slovaskia, những nơi chỉ có toàn người miền Bắc. Tại đây, một lần nữa tôi lại ngạc nhiên nghe bầu show và nhiều khán giả đề nghị tôi mời nhạc sĩ Lam Phương qua cho đồng bào gặp gỡ. Ở Praha, tôi hỏi một cô trong ban tổ chức :

– Lam Phương viết nhiều về người lính thời cũ, chẳng hạn Bức Tâm Thư, Tình Anh Lính Chiến, Chiều Hành Quân, Biết Đến Bao Giờ v.v… Khán giả ở đây chỉ gồm toàn người miền Bắc, từng là công nhân lao động hợp tác, cán bộ tu nghiệp hoặc du học sinh từ Hà Nội. Tổ chức chương trình nhạc sĩ Lam Phương cho họ coi, cháu nhắm có trở ngại gì không ? Bởi đã hát nhạc Lam Phương là phải hát đủ loại, cả nhạc lính lẫn nhạc tình !

Cô gái hân hoan trả lời tôi :

– Không sao đâu chú ! Viết nhạc trong thời chiến mà!  Âm nhạc tất nhiên phải phản ánh cuộc sống mà tác giả đi qua. Cháu mới vào Việt Nam. Sau cuốn Paris By Night Đường Về Quê Hương, cháu thấy hầu hết các tụ điểm ca nhạc trong nước bây giờ đều hát nhạc Lam Phương.

Sau chuyến lưu diễn Âu Châu, tôi về gọi điện thoại hỏi ý kiến và thuyết phục anh Lam Phương, giục anh chịu khó đi với tôi vài chuyến. Tôi tha thiết bảo :

– Cố gắng đi anh ! Khán giả ở đâu cũng mong gặp anh nhất là từ khi nghe tin anh bị tai biến mạch máu não !

Tôi quen anh Lam Phương đã 17 năm, làm việc chung với anh qua 3 cuốn video và nhiều chương trình live shows, tôi biết rõ tính anh rất dè dặt. Anh chỉ sợ di chuyển vất vả mà đến nơi không thành công thì buồn cho cả anh lẫn ban tổ chức. Tôi phải trấn an anh mãi bởi tôi biết rõ cảm tình của khán giả đối với anh. Cuối cùng anh đồng ý trên nguyên tắc : Đầu tháng 12 năm 2010, anh và tôi sẽ bay sang Úc dưới bảng hiệu Thúy Nga, rồi nhân tiện sang nước láng giềng Tân Tây Lan (New Zealand) luôn thể.

Riêng Đông Âu thì anh còn lưỡng lự và các bầu show bên ấy cũng chưa có ngày giờ nhất định bởi việc tổ chức show ở Âu Châu tương đối phức tạp, cần phải phối hợp giữa nhiều quốc gia lân cận.

Trong khi chờ đợi, tôi bàn với Thời Báo mời Lam Phương sang Toronto. Ý định này, anh em Thời Báo và tôi đã có bàn thảo một đôi lần trước đây, nhưng mãi năm nay mới thu xếp được và chỉ có ngày Thứ Bảy 24 tháng 07 là thuận tiện cho cả nhạc sĩ Lam Phương lẫn ban tổ chức. Lam Phương chưa qua Toronto bao giời nên tỏ ra ngần ngại. Tôi phải nhắc lại :

– Từ bao nhiêu năm nay, có show Lam Phương nào thất bại đâu anh ! San Jose, Orange County, Montreal,… chương trình nào cũng đầy ắp khán giả, có nơi không đủ vé bán. Mùa hè Toronto đẹp lắm. Đồng bào Toronto rất yêu văn nghệ. Mời anh sang thăm một lần cho biết !

Anh kết luận bằng một câu quen thuộc :

– Anh kéo tôi đi đâu thì tôi đi đó !

Tôi hiểu ý anh. Rất nhiều nơi muốn tổ chức đêm nhạc Lam Phương. Nhưng ở đâu anh cũng muốn phải có tôi giới thiệu, bởi chúng tôi đã làm việc chung với nhau tới 3 cuốn Paris By Night, tôi hiểu rõ tâm sự và xuất xứ từng ca khúc của anh. Tôi cám ơn anh rồi bảo :

– Tôi phone anh trước, nếu anh đồng ý thì đại diện Thời Báo sẽ liên lạc với anh !

Thời Báo chẳng những chỉ liên lạc với anh Lam Phương bằng phone, mà Nguyễn Đạt và anh Sa Xuân Vũ còn bay sang tận nơi, ghé thăm anh Lam Phương trong căn nhà quạnh hiu trồng đầy bông hồng chung quanh. Anh cảm động gọi cho tôi, cám ơn sự chu đáo của anh em Thời Báo Toronto và hẹn sẽ gặp khán giả Toronto cuối tháng 07.

Đôi nét về Lam Phương

Vào những năm đầu khi mới chia cắt đất nước (1954), dân chúng miền Nam thường được nghe đi nghe lại bài Chuyến Đò Vĩ Tuyến trên đài phát thanh :

“Đêm nay trăng sáng quá anh ơi / Sao ta lìa cách bởi dòng sông bạc hai mầu…”

Lúc ấy, ai cũng tưởng Lam Phương chắc phải là một “ông Bắc kỳ di cư” lớn tuổi, dàn trải tâm tư khắc khoải của mình khi rời đất Bắc vào Nam tìm tự do. Nhưng hóa ra tác giả chỉ là một thanh niên miền Nam mới 18 tuổi, đã khơi lên nỗi xúc động thay cho gần một triệu đồng bào vừa lìa xa cố hương.

Từ cái bước khởi đầu vững chắc ấy, người ta đã nhìn thấy ở trước Lam Phương là một tài năng lớn, một sức sáng tạo đích thực, và quả nhiên như mọi người dự đoán, anh đã cống hiến cho tân nhạc Việt Nam gần 200 ca khúc đặc sắc trong nửa thế kỷ vừa qua.

Lam Phương tên thật là Lâm Đình Phùng, sinh ngày 20/03/1937, tại Rạch Giá. Nội tổ của anh vốn là người gốc Hoa, bỏ nước sang Việt Nam lập nghiệp trong đợt di dân ồ ạt của người Hoa chống đối với nhà Mãn Thanh. Đời ông nội của Lam Phương đã bắt đầu lai Việt Nam và đến thân phụ của anh thì chẳng còn dấu vết gì là người Hoa nữa.

Lam Phương là con đầu lòng, nhưng lớn lên chỉ thấy mẹ và các em trong cảnh nghèo nàn xác xơ. Ông bố đã bỏ đi theo người đàn bà khác từ lúc Lam Phương chưa đủ trí khôn. Mười tuổi, Lam Phương giã từ Rạch Giá lên Sài Gòn, ở trọ nhà người quen trong xóm lao động tăm tối vùng Đa Kao và vào học trung học ở Việt Nam Học Đường. Thời gian này, anh bắt đầu tự học nhạc qua sách vở, phần lớn là bằng tiếng Pháp. Điều này dễ hiểu, bởi ngày ấy nước ta chưa có trường âm nhạc. Thế hệ Lam Phương cũng như các nhạc sĩ lớn tuổi hơn, muốn học nhạc thì hoặc phải tự mò mẫm qua các tài liệu viết bằng tiếng Pháp, hoặc ghi danh hàm thụ các trường chuyên nghiệp bên Paris để họ gửi bài vở sang. Song song với phần nhạc lý, Lam Phương cũng xin học lớp guitar do một ông thầy Việt Nam truyền nghề.

Để trắc nghiệm khả năng học hỏi của mình sau một thời gian miệt mài, năm 1952, lúc mới 15 tuổi, Lam Phương sáng tác ca khúc đầu tay là Chiều Thu Ấy. Anh vay mượn bạn bè và hàng xóm, tự in bản nhạc rồi thuê xe lam chở đi giao cho các quầy hàng bán lẻ. Tuy cũng lấy lại vốn, nhưng ca khúc này chưa gây được tiếng vang. Phải chờ 3 năm sau khi 18 tuổi, Lam Phương mới tung ra được một số sáng tác nổi đình nổi đám ngay như Kiếp Nghèo, Chuyến Đò Vĩ Tuyến, Nhạc Rừng Khuya, Trăng Thanh Bình, Khúc Ca Ngày Mưa, Nắng Đẹp Miền Nam v.v…

Nhạc của Lam Phương nhanh chóng tràn lan trong học đường trên phạm vi cả nước. Hầu như trường nào cũng cho học trò đồng ca hoặc múa hát những bài tươi vui lành mạnh, phổ biến nhất là Khúc Ca Ngày Mưa và Nắng Đẹp Miền Nam. Ở những nhạc phẩm này, người ta thấy ngay sự phản ánh rất rõ nét một thời thanh bình rộn rã của những năm đầu nền Đệ nhất Cộng hòa.

Năm 21, Lam Phương nhập ngũ. Thời ấy, thanh niên đi quân dịch chỉ có một năm bởi là nghĩa vụ quân sự trong thời bình. Tại quân trường, anh viết Bức Tâm Thư, hô hào thanh niên sốt sắng đi quân dịch. Ngày mãn khóa, anh sáng tác 2 bản nhạc nổi tiếng là Tình Anh Lính Chiến và Chiều Hành Quân. Anh kể với tôi: Vì không biết rõ xuất xứ sáng tác bài Tình Anh Lính Chiến, cho nên sau này nhiều ca sĩ thường hát câu: “Anh chiến trường, em nơi hậu tuyến”. Thật sự thì hát như vậy là sai, bởi anh viết cho bạn bè đồng ngũ trước khi chia tay ở quân trường, mỗi người đi mỗi nơi, nên câu hát đúng là ‘Anh chiến trường, tôi nơi hậu tuyến”. Đây là tình đồng đội chứ không phải tình yêu trai gái.

Mãn hạn quân dịch, trở về đời sống dân sự, Lam Phương tiếp tục sáng tác và tự xuất bản các tác phẩm của mình. Nhạc của anh có sức phổ biến sâu rộng, là một trong những nhạc sĩ thành công nhất ở miền Nam, giúp anh thoát khỏi cảnh lầm than mà anh đã mô tả qua bản Kiếp Nghèo mấy năm về trước.

Lúc ấy, nhạc sĩ Phạm Duy đang phụ trách trung tâm Quốc Gia Điện Ảnh, nghe tiếng Lam Phương, gọi anh đến và giới thiệu với đạo diễn Lưu Bạch Đàn để Lam Phương đóng vai chính trong phim Chân Trời Mới bên cạnh nữ tài tử Mai Ly và kịch sĩ lão thành Vũ Huân. Đây là một phim truyện nhằm cổ võ cho quốc sách Ấp Chiến Lược, đồng thời đả phá tệ nạn quan liêu phong kiến ở xã ấp.

Khi tên tuổi bắt đầu vững vàng, Lam Phương lập gia đình với kịch sĩ kiêm ca sĩ Túy Hồng. Từ đó anh phụ trách thêm công việc viết nhạc nền cho ban kịch Sống, cho chúng thêm hàng loạt ca khúc đặc sắc như Thu Sầu, Nghẹn Ngào, Trăm Nhớ Ngàn Thương, Phút Cuối, Ngày Buồn v.v…

Tình hình chiến sự miền Nam gia tăng, Lam Phương được gọi tái ngũ. Anh mặc quân phục trở lại và gia nhập Ban Văn Nghệ Bảo An (Địa Phương Quân). Khi ban này giải tán, anh chuyển qua ban văn nghệ Hoa Tình Thương. Rồi Hoa Tình Thương cũng giải tán để biến thành Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương, nơi Lam Phương cộng tác cho đến ngày mất miền Nam.

Trong khoảng thời gian này, sức sáng tác của Lam Phương càng dàn trải trên nhiều thể loại rất phong phú mà đặc biệt một điểm là hầu hết ca khúc nào anh đưa ra cũng đều trở thành Top Hit trên thị trường, điển hình như Chờ Người, Tình Bơ Vơ, Duyên Kiếp, Thành Phố Buồn, Tình Chết Theo Mùa Đông v.v… đưa anh vào vị trí một nhạc sĩ thành công nhất Việt Nam về mặt tài chánh.

Sáng ngày 30/4/1975, anh quyết định vào phút chót, đem gia đình chạy lên tàu Trường Xuân của thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy, cùng với gần 4000 đồng bào ra khơi. Trên tàu, anh gặp Elvis Phương, ca sĩ đầu tiên đã hát bài Chờ Người của anh khoảng năm 1972. Cũng trong đám người dày đặc đó, có một cô bé còn bế trên tay, sau này là á hậu Việt Nam tại Paris và trở thành nữ ca sĩ Bảo Hân.

Vì không có ý định ra đi, cho nên Lam Phương hoàn toàn chẳng chuẩn bị bất cứ thứ hành trang nào để đem theo. Anh bỏ lại chiếc xe hơi, hai căn nhà lớn và khoảng 30 triệu đồng trong ngân hàng để lên đường với hai bàn tay trắng và vài bộ quần áo ! Lúc ấy, lương một vị tổng giám đốc hoặc một vị đại tá trong quân đội chỉ có mấy chục ngàn một tháng ! (nên nhớ vàng 9999 Kim Thành lúc đó chỉ có 36.000d9VN/lượng)

Định cư ở Mỹ, cái job đầu tiên anh làm trong hãng Sears là lau sàn nhà và cọ cầu tiêu! Rồi chuyển sang làm thợ mài, thợ tiện, bus boy. Tuy vậy, cứ mỗi cuối tuần anh vẫn cố gắng thuê một nhà hàng, biến thành phòng trà ca nhạc để đồng hương có chỗ gặp nhau và để chính anh cùng Túy Hồng đỡ nhớ sân khấu. Nghề này, chẳng những lợi tức không có bao nhiêu mà buồn thay, chỉ sau một khoảng thời gian ngắn, anh khám phá ra người bạn đời không còn thủy chung với anh nữa. Anh cay đắng vật vã, cố gắng hàn gắn nhưng không xong. Anh biết cái thế của anh đã mất hẳn từ khi ra hải ngoại, bởi tiền bạc, danh vọng đều chỉ còn là trong kỷ niệm. Nỗi đau ray rứt của cuộc tình tan vỡ trên đất khách đã là động lực sâu thẳm khiến anh sáng tác mấy bản nhạc rất bi thương, trong đó có một bài để đời là Lầm :

“Anh đã lầm đưa em sang đây / Để đêm trường nghe tiếng thở dài / Thà cuộc đời im trong lòng đất…”

Rồi anh ngậm ngùi bỏ Hoa Kỳ sang Paris, xin vào làm công việc đóng gói quét dọn cho một tiệm tạp hóa. Cũng tại đây, anh gặp lại ông bà Tô Văn Lai, chủ nhân Trung tâm băng nhạc Thúy Nga, vốn đã quen biết anh ở Sài Gòn từ trước năm 75. Thúy Nga ngày ấy cũng còn quá nghèo, chỉ sang lại những băng cũ mang theo từ Việt Nam, nên chả có việc gì cho Lam Phương làm. Chính bản thân ông Tô Văn Lai, Giáo sư Triết ở Sài Gòn, dân trường Tây từ nhỏ, giờ đây cũng phải đi học nghề sửa xe và đứng bơm xăng ở vùng Bondi, ngoại ô Paris.

Lam Phương tiếp tục sống lầm lũi cho qua ngày ở kinh thành ánh sáng, mãi cho đến khi anh bất ngờ gặp một khúc rẽ tình cảm mới: Một người đàn bà rất đẹp đã đến với trái tim anh, giúp anh xóa đi những ngày tăm tối vừa qua. Nhờ khúc rẽ ấy, chúng ta mới có được một loạt ca khúc chan hòa niềm vui như Mùa Thu Yêu Đương, Tình Hồng Paris, Tình Đẹp Như Mơ, và nhất là Bài Tango Cho Em :

“Từ ngày có em về/ Nhà mình ngập ánh trăng thề…”

Cũng trong khoảng thời gian tạm cư ở Paris, anh sáng tác 3 ca khúc nổi tiếng khác mà giờ này thính giả vẫn thích nghe đi nghe lại :

Cho Em Quên Tuổi Ngọc : Anh đặt cả lời Pháp lẫn lời Việt, viết cho một cuốn phim. Tựa tiếng Pháp là C’est Toi.

Em Đi Rồi : Anh viết cho chuyện tình tan vỡ của nữ ca sĩ Họa My, khi Họa My sang Pháp để lại người chồng ở Việt Nam.

Một Mình : Cảm xúc của chính anh buổi sáng thức dậy, cô đơn nhìn ra cửa trong ánh bình minh.

Bước sang đầu thập tiên 1990, Trung tâm Thúy Nga tương đối đã có cơ sở vững vàng ở Paris lẫn Cali sau khi sản xuất thành công một loạt video tuồng cải lương và các chương trình Paris By Night bắt đầu từ năm 1983. Lúc ấy, Thúy Nga mới quyết định thực hiện một cuốn Paris By Night chủ đề nhạc Lam Phương.

Đó là lần đầu tiên tôi gặp anh Lam Phương vào tháng 03 năm 1993, khi trời Paris còn đang se lạnh. Mặc dầu lúc này Lam Phương đã chia tay người đàn bà từng mang cho anh “những nụ hồng Paris”, nhưng cuộc sống của anh đã tạm ổn định cả mặt tinh thần lẫn vật chất, một phần nhờ có cô em gái từ Việt Nam sang tỵ nạn, mở tiệm ăn Như Ánh ngay tại Quận 13, giao cho anh làm manager.

Lúc gặp tôi, anh đã hoàn toàn lấy lại phong độ, tìm lại sự tin yêu trong cuộc đời, quên hết những nhọc nhằn gần 20 năm sóng gió vừa qua. Anh cho biết : Anh ít đọc sách của tôi, nhưng em gái anh, chủ nhà hàng, thì bất cứ lúc nào rảnh rỗi, cô cũng để cuốn tiểu thuyết Màu Cỏ Úa. Nhờ vậy, tuy gặp nhau lần đầu mà anh với tôi đã có cảm tưởng như quen nhau từ lâu.

Bài học đầu tiên tôi học ở anh Lam Phương là sự bình dị và khiêm tốn. Một người từng nổi tiếng từ lúc tuổi chưa đến 20, từng có một cuộc sống giàu sang ở Sài Gòn, giờ này ngồi tiếp chuyện tôi trong cái quán nhỏ, bằng một thái độ rất chân tình và lịch sự, mặc dầu tôi thua anh về mọi mặt. Cái ấn tượng ban đầu ấy khắc ghi mãi trong lòng tôi cho đến hôm nay.

Sau sự thành công của Paris By Night “Bốn Mươi Năm Âm Nhạc Lam Phương”, chỉ hơn một năm sau, Thúy Nga lại thực hiện thêm một chương trình Lam Phương thứ 2 bởi nhạc anh còn quá nhiều. Cuốn này tôi đặt tựa đề là “Lam Phương, Dòng Nhạc Tiếp Nối’.

Sau cuốn băng ấy, Lam Phương quay về định cư tại Hoa Kỳ năm 1995. Người đàn bà bảo lãnh anh trở lại Mỹ tuy không phải là một cuộc tình lớn trong đời, nhưng anh cần một mái ấm ổn định ở tuổi đã trên 55. Về lại Cali, anh tiếp tục sáng tác và lâu lâu phụ việc với Trung tâm Thúy Nga lúc này đang trên đà thăng tiến mạnh mẽ.

Dòng đời đang êm trôi thì ngày 13/3/1999, trong lúc đang dự tiệc ở nhà một người thân, không may anh bị tai biến mạch máu não. Từ đó anh nói không ra lời, một nửa thân thể gần như bại liệt hoàn toàn. Bàn tay đánh đàn ghi nốt nhạc mấy chục năm qua, bây giờ không sử dụng được nữa. Anh chị em nghệ sĩ cùng nhau tổ chức đêm nhạc Lam Phương tại nhà hàng Majestic để hỗ trợ anh về cả hai mặt tinh thần và tài chánh. Tôi bay sang góp mặt, anh chỉ nắm tay tôi ứa nước mắt mà nói không thành câu.

Vài hôm sau, người đàn bà đang chung sống với anh, cũng lặng lẽ chia tay, bỏ lại anh trên chiếc xe lăn, bơ vơ trong căn nhà vắng, để ngày nay anh thấm thía với nỗi quạnh hiu như những lời ca tiên tri chính anh đã viết :

“Sớm mai thức giấc / Nhìn quanh một mình !”

Thời gian trôi qua quá nhanh ! Mới đó mà Lam Phương “nhìn quanh một mình” đã 11 năm ! Anh đã cố gắng vượt bậc, cố giữ tâm hồn thư thái và thể dục đều đặn. Nhờ vậy thỉnh thoảng anh có thể tạm bỏ xe lăn, đứng dậy chống gậy đi một vòng quanh nhà. Nỗi buồn lớn nhất của anh từ ngày gặp nạn là không còn đánh đàn và viết nhạc được nữa bởi một nửa thân thể vẫn hoàn toàn bất động, mặc dầu trí óc anh rất sáng suốt.

(Theo Thoi Bao)

Xin mời thưởng thức nhạc phẩm của nhạc sĩ Lam Phương, do ca sĩ Quang Dũng, Túy Hồng trình bày :

Click vào đường dẫn sau đây :

Một Mình

http://www.youtube.com/watch?v=m_B1mBTmpXE&feature=email

Mời thưởng thức 2 nhạc phẩm (nghe thấy đúng là trong mà chát thật:

Thu sầu (st Lam Phương)

http://www.yousendit.com/transfer.php?acti…60F23F0413AA166

Kiếp nghèo (st Lam Phương)

http://www.yousendit.com/transfer.php?acti…ED6290C2256E2CB

VỀ NHÀ VĂN LÃO THÀNH

LÊ XUYÊN

– Nguyễn Việt

Tháng 3/2012 là tháng tròn 8 năm ngày mất của nhà văn lão thành Lê Xuyên. Và khi nhắc đến tên ông, không kể giới văn nghệ sĩ, ký giả còn đa số mọi người dân miền Nam khi xưa và đến bây giờ hình như từ trong nước ra đến hải ngoại đều biết đến tên ông qua tác phẩm “Chú Tư Cầu”, một giọng văn giản dị nhưng xúc tích nhiều ngôn từ, ngữ điệu của người miệt đồng bằng sông Cửu Long.

Tôi nhớ mãi một kỷ niệm khó quên, do là người trong ban biên tập của nhật báo Trắng Đen, phụ trách trang trong tức trách nhiệm với những bài vở chuyên mục và cả những feuilleton (tiểu thuyết trường thiên tải đăng mỗi ngày) từ các nhà văn tên tuổi bấy giờ như Trần Đức Lai, Vị Thủy, Lê Xuyên, bà Lan Phương, Trương Đạm Thủy, Kim Sơn, Từ Khánh Phụng, Thương Lan v.v…

Nhà văn Lê Xuyên lúc đó đang làm tổng biên tập bên báo Dân Ý (có trụ sở tòa soạn trên đường Gia Long, đối diện rạp long Phụng) nhưng báo nào mời ông viết feuilleton ông cũng gật đầu cái rẹt. Tính ra, lúc đó mỗi ngày nhà văn Lê Xuyên phải nạp bài cho 3, 4 tờ báo và còn chịu trách nhiệm bài vở bên tờ Dân Ý. Nhiều người nói ông phát tài, với chức vụ và các feuilleton đó, mỗi tháng ông lãnh lương cũng gần cả trăm ngàn. Nên biết với tên tuổi của nhà văn Lê Xuyên, không báo nào trả tiền tác quyền dưới 15 ngàn/tháng (những nhà văn khác chỉ ở khoảng 10 đến 12 ngàn) mà vàng lúc đó chỉ trên 30 ngàn/lượng. Vậy mà ông vẫn đi chiếc vespa cà tang “thời Bảo Đại còn ở truồng tắm mưa” (theo lời dí dỏm của các đồng nghiệp với ông).

Ông chủ báo Trắng Đen giao nhiệm vụ cho tôi, người phụ trách các feuilleton “không để chừa trắng tiểu thuyết của ai với lời cáo lỗi : tác giả bị bệnh bất ngờ, xin cáo lỗi tạm ngưng 1 kỳ”. Ông chủ báo còn nhấn mạnh, nhất là những tiểu thuyết đang “ăn khách” của Trần Đức Lai, Lê Xuyên.

Chính vì lẽ đó, đôi khi có nhà văn bị cảm cúm thật, đôi khi vì quá mệt  mỏi bởi các bài vở khác không còn thời gian… viết. Nhà văn Lê Xuyên thì thường xuyên, nói theo ngôn từ hiện đại ngày nay là bị quá tải, nên luôn luôn trễ giờ hay quên “nộp bài” cho báo. Tôi phải ngồi nặn… thêm khúc không có bài để không “cáo lỗi cùng bạn đọc”. Nhưng mình đâu phải cha đẻ cốt truyện, cho nên những đoạn văn ấy chỉ dám tả cảnh, hay trở lại hồi tưởng v.v… cho trang báo lúc nào cũng đầy chữ. Mà qua bên báo Dân Ý hối ông nộp cũng không xong, đành phải thất lễ.

Một hôm nhà văn Lê Xuyên – sau khi quên nộp bài – ông đến không như những nhà văn khác với bộ mặt giận dỗi – một phần do tự ái, bởi những báo khác nếu không nộp bài kịp giờ thì họ chừa trắng – ông đến lại cười cười nói với tôi “chú mày muốn chia lương với tao sao ?” biết câu nói đùa, nhưng tôi vẫn phải thanh minh “ông chủ báo không cho em để trắng tiểu thuyết của ai, qua hối anh viết cũng không xong, đành viết theo kiểu vô thưởng vô phạt nhằm trám chỗ chờ anh giao bài tiếp thôi mà”. Nhà văn Lê Xuyên, vẫn nụ cười nhân hậu nói : “Ừ để tao cố gắng giao bài cho chú mày đều đặn”.

Tính nhà văn Lê Xuyên là như vậy, và nghề viết feuilleton cũng thường gặp những trường hợp này.

Lê Hoàng Nguyễn (tổng hợp)

NGÀY GIỖ NS TRƯỜNG KỲ

Ngày 23/3/2012 vừa qua là ngày Trường Kỳ mất đã  3 năm. Gởi bài viết về Trường Kỳ đã in trong sách “Rong chơi cuối đời quên lãng” do bạn bè viết – nhân  giỗ đầu năm 2010.

Trường  Kỳ và Tuyển Tập Nghệ  sĩ

Tin Trường Kỳ qua đời đến với tôi vào lúc 2 giờ trưa  ngày thứ hai 23/3/2009   theo giờ Đông bộ Sydney – Australia tức chiều tối chủ nhật 22/ 3 ở Toronto – Canada.

Tự dưng tôi không tin vào thư Email mà tôi nhận được. Tôi bèn viết thư mail  hỏi  lại bạn bè bên Cali. Và  chỉ 15 phút sau, tôi  được tin chính thức bạn tôi Trường Kỳ thực sự đã qua đời khoảng trưa chủ nhật 22/3 sau khi được chở đi Cứu Cấp tại một bệnh viện ở Toronto.

Theo lời thuật lại mà tôi đọc được trên Mail của các thân hữu Trường Kỳ, thì được biết ngày thứ bẩy  21/3 Trường Kỳ từ Montreal sang Toronto để dự buổi ra  mắt   phát hành một  CD mới mà Trường Kỳ đã nhận lời. Trước  khi đi Toronto, sức khoẻ của bạn tôi không đến nỗi gì, áp huyết  hơi thấp. Như vậy chứng tỏ bạn tôi vẫn yêu nghề viết lách nên nhất quyết  lên đường.

Và như số mênh đã an bài, bạn tôi đã được Chúa gọi về trưa  chủ nhật  22/3 mà   không có  Vợ, Con bên cạnh.

Quen biết  Trường Kỳ

Vào  đầu thập niên 70, qua  sự giới  thiệu của nhà báo Ngọc Hoài Phương (tuần báo Kịch Ảnh – hiện nay là chủ nhiệm tạp chí  Hồn Việt), tôi quen biết Trường Kỳ  trong   dịp tôi ghé tuần báo  Kịch Ảnh. Và  sau đôi lần gặp  gỡ nhau ở các phòng trà ca nhạc   Queenbee hay Rizt, tôi và Kỳ quen thân nhau. Chúng tôi có những tin tức về Văn nghệ  hay  trao đổi lẫn nhau.

Khi  nền Điện ảnh Việt nam phát  triển. Nam ca  sĩ kiêm  ông bầu phòng trà Rizt   Jo Marcel cũng tự thực hiện một  phim truyện 16 ly, mà truyện phim lại  là  của Trường Kỳ “Vết  chân hoang”. Đây là  một cuốn phim hoàn toàn do các  bạn Trẻ  thực hiện. Nữ  tài tử  chính trong phim là  Diễn viên Minh Lý. Một khám phá mới của Jo Marcel. Trong buổi ra mắt phim “Vết chân hoang“ rất đông anh em  ký giả Tân nhạc – Điện ảnh của các báo đã đến phòng trà Rizt để xem. Và bạn tôi mặc dù là tác gỉa của “Vết chân hoang “ vẫn đứng tận ngoài  cửa để đón anh em  ký gỉa  chúng tôi. Một điều hiếm có  trong buổi ra mắt phim. Chứng tỏ bạn tôi cũng đóng góp  một phần nhỏ nhoi trong việc thực hiện phim “Vết chân hoang“

Sau lần ra mắt phim đó, Trường Kỳ thường rủ tôi  ghé chốn “Bồng Lai“ ở đường  Nguyễn Trung Trực nơi cư ngụ của bạn tôi để ăn uống hay đấu láo. Nhưng vì binh  nghiệp nên  thỉnh thoảng tôi mới ghé  thăm và ngủ lại qua  đêm sau khi uống cạn vài  chai bia 33 với các món ăn Bắc Kỳ được mua về từ Quán Cơm Bà  Cả Đọi  trên  đường Nguyễn Huệ.

Trường  Kỳ  và Cây Mùa  Xuân Chiến sĩ

Mặc dù suốt cuộc  đời trai trẻ, tTrai độc nhất và  cận thị nặng, tuy vậy Kỳ vẫn  luôn luôn  sát  cánh  cùng Tổng Cục CTCT để tổ chức Đại hội Nhạc Trẻ gây qũy Muà  Xuân cho các  Chiến sĩ   mỗi dịp Tết  đến, từ năm  1964 đến  đầu năm 1975. Phải  nói   với bộ 3 Trường Kỳ, Nam Lộc, Tùng Giang các buổi  Đại nhạc hội gây qũy Mùa  Xuân   Chiến sĩ đã thu hút rất đông hàng chục ngàn bạn Trẻ đến tham dự, lúc tổ chức ở Sở Thú, Sân Vận động Hoa Lư hay sân Trường Taberd nơi Kỳ đã  theo học  thời niên thiếu.

Trường Kỳ  và  Tuyển tập Nghệ sĩ

Sau  ngày 30/4/1975, tôi và Kỳ không còn liên lạc với nhau, vì mỗi người mỗi ngả. Đến năm 1980, trong một lần nghe lén đài VOA, tôi được biết bạn tôi đã đến được bến bờ Tự Do, định cư ở Nhật bản một thời gian sau đó qua Canada định cư.

Sau  khi nghỉ làm ở Bưu điện năm 1995, Trường kỳ  dành nhiều thời giờ để bắt đầu viết sách “Tuyển tập Nghệ sĩ “, cùng cộng tác với một số báo chí ở Canada, Cali  và Đài phát thanh VOA trong mục “Nghệ sĩ  và Đời Sống” phát thanh mỗi tuần 1 lần.

Năm 1996, tôi mới liên lạc lại với Trường Kỳ. Và nhận lời bán sách Tuyển tập  Nghệ sĩ ở Sydney, và cộng tác với Kỳ viết  giới thiệu một số Nam nữ ca sĩ và các ban  nhạc  ở Sydney. Tuyển tập nghệ sĩ cuối cùng tôi bán  giúp cho Kỳ là Tuyển  tập Nghệ sĩ  số 6. Ngoài ra Tuyển tập Nghệ sĩ viết về các  Nghệ sĩ Cải lương đã bán hết nên  không có sách bán ở Sydney.

Khi  nghe tin Trường Kỳ viết và phát hành Sách “Tuyển tập Nghệ sĩ “Bác TTH   (bạn thân với  bố cuả  Kỳ) đã  có nhắn với tôi rủ Kỳ đến Sydney để ra mắt sách và Bác  cháu gặp nhau. Nhưng Kỳ vẫn lưỡng lự vì ngại đường xa, từ Bắc bán cầu xuống  Nam bán  cầu.

Nghe đâu vào đầu năm 2009, Kỳ đã dự tính Úc du với sự bảo trợ của Tuần báo Tivi Tuần san ở Melbourne, nhưng vì bà  già vợ của Kỳ ở VN bị đau, nên Kỳ đã hủy bỏ  chuyến Úc du và trở về VN cùng lúc ghé Thái Lan. (xem ảnh trên : hàng đứng : bà Kim Yến – chị Khánh Ly – Ngọc An – vợ nhà thơ Thiên Hà – hàng ngồi : Quỳnh Như, nhà văn Văn Quang, Trường Kỳ và Thiên Hà).

Trên đây là những kỷ niệm của tôi với Trường Kỳ. Tôi ghi lại để tưởng nhớ  người bạn hiền mang tên Vũ trường Kỳ  .

Nguyễn Toàn (Sydney/Australia)

NGHI ÁN “KỶ VẬT CHO EM”

CÂU CHUYỆN VỀ

“KỶ VẬT CHO EM”

Nhận được rất nhiều thư đề nghị tôi viết về những sự kiện quanh bài thơ Kỷ Vật Cho Em mà nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành ca khúc gây xôn xao giới yêu thơ, yêu nhạc một thời trước năm 1975. Thực tình tôi không biết khởi đầu từ đâu, và viết những sự kiện gì, bởi rất nhiều sự kiện và mình có nên viết hay không ? Thôi thì kể lan man một vài chuyện về bài thơ đó vậy. Xuất xứ bài thơ của tôi đăng trên nhật báo Độc Lập vào năm 1970 với tựa đầu tiên “Để trả lời một câu hỏi” đề tặng một người con gái tên Hương. Trang sáng tác của tờ báo này do Ấu Lăng (tức nhà thơ Trần Dạ Từ chồng của nhà văn nữ Nhã Ca) phụ  trách.

Tôi thường xuyên đăng bài ở trang này, có thể nói một tháng 30 ngày thì bài tôi xuất hiện khoảng  hơn 20 ngày với tên Linh Phương – Vương Thị Ái Khanh và Phạm Thị Âu Cơ. Khi nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành ca khúc với duy nhất tên ông, tôi không có phản ứng gì. Nhưng tôi có người bạn làm việc ở bản tin THT đã đưa vấn đề tác quyền lên trang tin tức của một tờ nhật báo với đại ý “Tác giả Kỷ Vật Cho Em sẽ kiện nhạc sĩ Phạm Duy ra tòa”.

Tiếp theo là tờ tuần báo Sân Khấu Truyền Hình, tác giả Phan Bảo Quân cho in một bài viết đề cập tác quyền và tên Linh Phương phải được để  là đồng tác giả bản nhạc Kỷ Vật Cho Em. Thời đó ở Sài Gòn có trên 20 tờ nhật báo, 30 tờ tuần báo và rất nhiều tạp chí bán nguyệt san, nguyệt san… Và chuyện tác quyền giữa tôi và nhạc sĩ Phạm Duy đều có bài viết, thư nhạc sĩ Phạm Duy gởi tôi, thư tôi trả lời… hầu hết trên báo chí lúc ấy. Cuối cùng thì một người cháu của Phạm Duy là Phạm Duy Nghĩa tìm gặp tôi tại địa chỉ 104/23 đường Yersin nhà người bạn thân của tôi là nhà thơ Vũ Trọng Quang. Phạm Duy Nghĩa đưa tôi đến phòng trà ca nhạc Đêm Màu Hồng nơi Ban Thăng Long thường xuyên trình diễn. Ở đây, tôi và nhạc sĩ Phạm Duy đã có sự thông cảm với nhau về vấn đề bài thơ Kỷ Vật Cho Em.

Nhạc sĩ Phạm Duy chở tôi trên chiếc xe Trắc-xông đen đến phòng trà Queen-Bee do nhạc sĩ Ngọc Chánh làm chủ xị. Ở Queen-Bee nhạc sĩ Phạm Duy đã giới thiệu tôi trước công chúng về tác giả bài thơ Kỷ Vật Cho Em. Sau cái bắt tay giữa tôi với nhạc sĩ Phạm Duy, nhạc sĩ Ngọc Chánh và quái kiệt Trần Văn Trạch, ca sĩ Thái Thanh đã trình bày bài thơ phổ nhạc này.

Sáng hôm sau, tôi đến tư gia của nhạc sĩ Phạm Duy 215 E/2 đường Chi Lăng – Phú Nhuận ăn cơm và ký hợp đồng bài thơ Kỷ Vật Cho Em tại đây. Trong bản hợp đồng tiền tác quyền là 30.000 đồng (thời điểm đó giá một lượng vàng nếu tôi nhớ không lầm là khoảng 10.000 đồng đến 12.000 đồng), nhưng thực tế thì nhạc sĩ Phạm Duy trả tôi 50.000 đồng (30.000 đồng bằng Sec nhận ở Pháp Á ngân hàng – 20.000 đồng tiền mặt.)

Lúc bản Kỷ Vật Cho Em được hát là cuộc chiến tranh Việt Nam trở nên dữ dội, nên đã gây những chấn động lớn lao vào tâm hồn của những quân nhân Sài Gòn cũng như mọi tầng lớp dân chúng. Như trong hồi ký của nhạc sĩ Phạm Duy phát hành đã dành chương hai mươi hai viết về Kỷ Vật Cho em và tác giả có đoạn :

“…Tôi hát bài này trước tiên tại phòng trà Ritz của Jo Marcel với ban nhạc Dreamers, rồi hầu hết các ca sĩ từ Thái Thanh, Lệ Thu, Khánh Ly qua Thanh Lan, Nhật Trường đều thu thanh vào băng nhạc. Bài hát trở thành một hiện tượng lớn của thời đó. Ở phòng trà, khi ca sĩ hát bài đó lên, bao giờ cũng có sự náo động nơi khán thính giả. Nếu là thường dân thì phản ứng cũng vừa phải, nhưng vì hồi đó dân nhà binh ở bốn vùng chiến thuật về Sài Gòn là đi phòng trà và khi trong đám thính giả có một sĩ quan đi nghỉ phép hay một thương phế binh là có sự phản ứng ghê hồn nơi người nghe. Có thể nói bài này gây một không khí phản chiến, nhưng có một cái gì cao hơn chính trị. Nó nói đến định mạng của con người Việt Nam mà ai cũng phải chấp nhận…”

Cuộc chiến tranh càng ngày càng trở nên khốc liệt, nhất là cuộc hành quân Lam Sơn 719 qua bên kia Lào. Có nguồn tin tôi đã nằm lại ở vùng Hạ Lào, không hiểu xuất phát từ đâu, và cái chết của Linh Phương tác giả Kỷ Vật Cho Em còn có bài viết của tác giả Trần Tường Trình đăng trên nhật báo Sóng Thần của ông Chu Văn Bình (tức nhà văn Chu Tử) và một số phân ưu chia buồn trên các báo khác. Rồi mặt trận Kampuchea bùng nổ, tôi lại được khai tử thêm lần nữa tại chiến trường này. Lúc đó, anh Thiện Mộc Lan ký giả báo Đuốc Nhà Nam đã cố công tìm sự thật về cái chết của tôi.

Sau nhiều ngày tìm hết chỗ này đến chỗ khác qua nhiều nguồn, ký giả Thiện Mộc Lan đã đến nhà nhạc sĩ Phạm Duy như tác giả bài báo đã kể : “…Chúng tôi chợt nghĩ đến nhạc sĩ Phạm Duy, hy vọng rằng giữa nhạc sĩ và nhà thơ có nhiều liên hệ từ lúc Kỷ Vật Cho Em ra đời, thế nào Phạm Duy cũng biết rõ về Linh Phương. Khi nghe chúng tôi báo tin Linh Phương đã chết, nhạc sĩ họ Phạm sửng sốt :

– Linh Phương mới thăm tôi cách đây nửa tháng mà. Lẽ nào …như vậy được. Ôi dzời ! Tôi nghĩ rằng anh ấy chưa chết đâu… “. Được nhạc sĩ Phạm Duy ghi cho địa chỉ, ký giả Thiên Mộc Lan tìm đến tư gia nhà thơ Vũ Trọng Quang và gặp tôi tại đây. Báo Đuốc Nhà Nam đã  đăng loạt bài 4 kỳ báo qua những tít :

1- “Nhà thơ có nhiều huyền thoại, tác giả “Kỷ Vật Cho Em” Linh Phương còn sống hay đã vĩnh viễn ra đi ?

2- Liên lạc khắp nơi Đuốc Nhà nam mới tìm ra tông tích tác giả Kỷ Vật Cho Em.

3- Linh Phương đã nói gì với Đuốc Nhà Nam.

4- Linh Phương thích làm thơ nhưng không mang danh “thi sĩ “.

Thực ra, không chỉ bài thơ Kỷ Vật Cho Em làm tốn nhiều giấy mực báo chí, mà còn có 2 bài thơ đăng cùng một số báo trên tờ tuần báo Khởi Hành của Hội Văn nghệ sĩ quân đội Sài Gòn, đó là bài thơ “Bài cho chiến trường Đông Dương” nói về những cái chết của người Việt Nam trên đất Kampuchea, Hạ Lào… và bài “Từ giã bọn mày” nói về thân phận của những Lao công đào binh. Tôi chỉ còn nhớ 3 khổ thơ của bài này như sau:

“Từ giã bọn mày mai tao lên núi

Mặc áo lao công đập đá xây thành

Làm bạn vắt mòng chung vui với muỗi

Đắp lũy thông hào chờ cuộc giao tranh

Từ giã bọn mày tao đi nhặt nốt

Võ đạn đồng rơi rớt giữa quê hương

Từ giã bọn mày tao đi nhặt nốt

Dưới ruộng- dưới đồng- những máu- những xương…

Từ giã bọn mày xin đừng đưa tiễn

Dù một lần tao làm gã tội nhân

Từ giã bọn mày mai tao xuống biển

Tay ngoằn nghoèo vẽ trọn chữ Việt Nam”.

Khi báo phát hành khoảng một giờ sau thì bị cảnh sát tịch thu tất cả những số báo còn lại. Đấy là trường hợp có một không hai vì đây là tờ báo của Hội văn nghệ sĩ quân đội.

Sau năm 1975, đúng hơn là 1978 tôi từ Côn Đảo lang bạt kỳ hồ về Cà Mau, ba chìm bảy nổi, bị người ta “đánh” tơi tả, không còn chỗ dung thân dạt về Kiên Giang cho đến bây giờ. Có những lúc tôi chảy nước mắt khi tự hỏi : “Tại sao người ta không sống với nhau bằng tấm lòng để cư xử với nhau tử tế hơn ?”

Có lẽ tôi lan man hơi nhiều, dù còn có biết bao chuyện quanh bài thơ Kỷ Vật Cho Em mà tôi chưa thể kể hết, chỉ hy vọng một ngày nào đó tôi viết một cuốn hồi ký, họa may mới dàn trải được số phận của bài thơ Kỷ Vật Cho em.

Nguyên văn bài thơ :

KỶ VẬT CHO EM

Em hỏi anh bao giờ trở lại

Xin trả lời mai mốt anh về

Không bằng chiến thắng trận Pleime

Hay Đức Cơ- Đồng Xoài- Bình Giả

Anh trở về hàng cây nghiêng ngã

Anh trở về hòm gỗ cài hoa

Anh trở về bằng chiếc băng ca

Trên trực thăng sơn màu tang trắng

Mai trở về chiều hoang trốn nắng

Poncho buồn liệm kín hồn anh

Mai trở về bờ tóc em xanh

Vội vã chít khăn sô vĩnh biệt

Mai anh về em sầu thê thiết

Kỷ vật đây viên đạn màu đồng

Cho em làm kỷ niệm sang song

Đời con gái một lần dang dở

Mai anh về trên đôi nạng gỗ

Bại tướng về làm gã cụt chân

Em ngại ngùng dạo phố mùa xuân

Bên người yêu tật nguyền chai đá

Thì thôi hãy nhìn nhau xa lạ

Em nhìn anh – ánh mắt chưa quen

Anh nhìn em – anh cố sẽ quên

Tình nghĩa cũ một lần trăn trối

LINH PHƯƠNG

Yên Huỳnh post

Trên đây là thông tin từ Linh Phương, còn trên diễn đàn đã có nghi vấn về bài thơ này, cho rằng Linh Phương “đạo thơ” ?!, Mời các bạn đọc một phản hồi sau đây, và các bạn cũng có thể phân tích ai mới là tác giả bài thơ.

Bài viết này được post trong blog “Một thời Sài Gòn” vào ngày 8/10/2011, có đường dẫn :https://cafevannghe.wordpress.com/  với tựa “Nghi án Kỷ Vật Cho Em”.

KỶ VẬT CHO EM…

THƠ CỦA AI ?

Bài thơ liên-quan bản nhạc Kỷ-Vật Cho Em của Phạm-Duy

Hơn 40 năm dài, từ năm 1969. Tình cờ qua trang của lính, tôi đọc được một bài viết của anh Tr/Tá Bùi Đức-Lạc PB ND liên-quan đến người bạn ND quá-cố của tôi xin chia – xẻ cùng anh em.

Bài nhạc nổi danh của nhạc-sỹ Phạm-Duy đã được nhiều ca-sỹ hát đi hát lại, nói lên nổi lòng của anh em trẻ đi vào cuộc chiến thuở bấy giờ thật xúc-động và ngậm-ngùi !

Sự thật tác-giả không phải của Phương-Linh (admin: tức Linh Phương) mà của Chuẩn-Nghị !

Chuẩn-Nghị tên thật là Nguyễn Đức-Nghị người Phan-Rang. Đi khóa 26 Thủ-Đức, anh ta viết nhiều thơ đăng trên báo Văn-Nghệ Tiền-Phong trong trang thơ của Lý Thụy-Ý phụ trách.

Năm 1969, tôi bị thương mới hồi-phục, Nghị đóng quân ở Bình-Điền khi lại thăm Nghị và các anh em trong đơn-vị cũ trong đó có Nguyễn-Trọng-Nhi, Trần Chí Mỹ, và các anh em khác.

Khi tâm-sự riêng với nhau, Nghị rất bực-tức về bài thơ mà anh làm gởi đăng báo Tiền-Phong lại được Phạm-Duy phổ-nhạc với tên tác-giả khác ! Người sĩ quan trẻ trong đơn-vị Nghị nhờ đưa bài thơ này cho Lý Thụy Ý lại giao cho nhạc-sỹ Phạm-Duy, thấy hay nên ông này làm bài nhạc luôn !

Trong bài thơ của Nghị là lời nhắn lại cho Nga người tình mà khi hữu sự Nghị biên thư cho tôi trao cho cô ấy. Hoàn cảnh đang bị bế tắc vì mẹ cô Nga không thích Nghị người miền Bắc ! Sau đó khi đi hành-quân ở Tây-Ninh Nghị tử trận.

Chuyện khiếu-nại với Phạm-Duy kể như im luôn và bài nhạc được phổ biến với lời thơ của Phương Linh mãi cho đến nay chỉ có một bài viết của anh cựu Tr/Tá Nhảy Dù Bùi Đức-Lạc đưa ra trở lại.

Bài thơ này Nghị viết bằng mực đỏ, cho tôi xem, nhưng vì lời thơ quá chán đời, tôi không chịu lấy, chỉ đọc qua thôi ! Trước khi tôi bị thương ở Vên Vên Đá Hàn, Nghị có tặng cho tôi bốn câu thơ cũng giọng thơ chán đời chết chóc, Nghị viết trong một miếng giấy khổ lớn cũng bằng mực đỏ và trao cho tôi trong phòng ngủ của đơn-vị, tôi cho là điềm xấu xé đi sau khi đọc nó.

Nghị nói : “Tao cho mày bốn câu thơ này làm kỷ-niệm ! Nếu tao có chết mày lấy ra đọc để nhớ tao !“ Tôi còn nhớ nó như sau :

“Ngày mai gục chết đau thương,

Thây ma vất-vưõng nơi phương trời nào .

Người yêu ai có nguyện cầu ?

Cỏ hoang xanh mọc lên màu lãng-quên ! “

(Chuẩn-Nghị)

Khi Nghi mất, đem xác về nghĩa-trang Quân-Đội Biên-Hoà, tôi và Nga có lên tiễn linh cửu lần cuối cùng để đưa về chôn ở PhanRang. Sau đây là bài thơ chánh mà Chuẩn Nghị viết lúc ấy gởi  báo Tiền Phong nhưng không đến. Xin gởi các bạn xem :

KỶ VẬT

Em hỏi

Xin trả lời mai mốt anh về.

Anh trở về không bằng Mũ Đỏ Áo Hoa,

Anh trở về không bằng huy- chương chiến-thắng.

Anh trở về trong chiều hoang chiếu nắng,

Trong hòm gỗ hoặc trên chiếc băng -ca.

Anh trở về nằm giữa vòng hoa,

Những vòng hoa tang chan-hòa nước mắt. 

Anh gởi về cho em vài kỷ-vật,

Đây chiếc nón sắt xuyên mấy lỗ đạn thù.

Nó đã từng che nắng che mưa,

Đã từng hứng cho anh giọt nước.

Chiều dừng quân nơi địa-đầu lạnh buốt,

Nấu vội-vàng trong đó nắm cơm khô.

Anh gởi cho em một tấm poncho,

Đã rách nát theo hình-hài năm tháng.

Lều dã-chiến trên đồi hoang cháy nắng,

Che cơn mưa gió lạnh buổi giao mùa.

Làm chiếc võng nằm nhìn đời lính đong-đưa,

Và….khi anh chết cũng poncho tẫn-liệm.

Nay anh gửi cho em làm kỷ-niệm,

Nhận không em chút tình lính này đây ?

Tình lính đơn-sơ vì chinh-chiến kéo dài,

Nhưng tình lính chỉ lạt phai

Khi hình-hài và con tim biến-thể.

Chuẩn-Nghị 1969.

Gởi các bạn một chút gì để nhớ lại thời son trẻ, mong những lời mọn này giải-tõa được u-uẫn của linh-hồn bạn tôi… Thân,

TT Phong

LỜI BÀN CỦA “CAO BỒI GIÀ” : theo lời bạn TT Phong xác nhận, nhạc phẩm “Kỷ vật cho em” do NS Phạm Duy phổ nhạc là từ bài thơ “Kỷ vật” của Chuẩn-Nghị. Nhưng từ nhiều năm nay trên diễn đàn văn nghệ, mọi người đều cho rằng Phạm Duy phổ từ bài thơ “Để trả lời một câu hỏi” của Linh Phương.

Vì nội dung 2 bài thơ “Kỷ Vật” của Chuẩn Nghị và bài “Để trả lời một câu hỏi” của Linh Phương về âm điệu không khác nhau, chỉ có vài câu được sửa chữa (không biết khi phổ nhạc, nhạc sĩ Phạm Duy có chỉnh lời cho đúng tông điệu hay không ? mà nhất định khi thơ phổ nhạc thì phải có sửa lại lời thơ cho lời hợp với âm giai).

Nhưng không hiểu tại sao bài thơ của Linh Phương “giống y chang” lời trong nhạc phẩm “Kỷ vật cho em” của Phạm Duy ? (xen phần Linh Phương post nguyên văn xác nhận bài thơ ở đoạn trên).

Còn nói về nhà báo Thiện Mộc Lan, Trần Tường Trình (còn có tên Trần Thanh tâm), Phan Bảo Quân (còn có tên Vũ Ngọc Đức) đều là bạn thân – đồng nghiệp – của Cao Bồi Già, thời bấy giờ có đưa tôi một bài viết từ tay ký giả Phạm Hồng Vân giao lại, nói rằng “mày làm scandal này đi, mai mốt có chầu nhậu”, nhưng tôi từ chối, bởi lúc đó tôi đang “làm báo chí” cho cơ sở Nguồn Sống của nhạc sĩ Ngọc Chánh, có tiệm bán băng nhạc Khai Sáng trên đường Công Lý, dưới lầu phòng trà khiêu vũ trường International Quốc Tế. Mà Ngọc Chánh đang ký độc quyền khai thác nhạc phẩm “Kỷ vật cho em” của Phạm Duy.

Cho nên lúc đó Chuẩn Nghị đã mất, người cầm bài thơ “Kỷ vật” định giao qua cho Lý Thụy Ý cũng không còn, vì thế không có đính chính các bài viết này. Và một câu hỏi đặt ra, chính Linh Phương cũng có nói dư luận cho rằng “tác giả Kỷ Vật Cho Em đã qua đời”, sao mà logic với phản hồi của bạn TTPhong về việc tác giả Chuẩn Nghị đã qua đời ?

Vậy các bạn có ai biết thêm chi tiết xin cho thêm lời phản hồi.

KINH HÃI

‘CHỢ ĐỘC DƯỢC’

HÀ THÀNH

Một nồi ngô luộc chỉ cần cho vài thìa “săm-pết” (còn gọi là muối diêm) là để cả tuần không thiu. Một nồi chè to chỉ vài viên “B1” là ngọt lừ như cho cả kg đường kính…

Đường hóa học tràn lan ở chợ !

Trong vai người tìm mua đường hóa học về luộc ngô, chúng tôi tiếp cận khu bán hàng khô của chợ Đồng Xuân – Bắc Qua (quận Hoàn Kiếm). Tại đây, chúng tôi được người bán hàng giới thiệu loại đường “mía”, có giá 55.000/gói 1kg. Thông tin trên bao bì gói đường in bằng tiếng Trung Quốc, mặt trước in hình bốn cây mía, mặt sau đề tên loại đường là “sodium cyclamate”. Hạt đường dạng tinh thể nhỏ màu trắng, dẹt và hơi dính.

Theo lời quảng cáo của người bán, loại đường này được nhiều người ưa chuộng bởi nó ngọt gấp 50 lần đường kính, vì vậy “một nồi ngô to chỉ cần cho khoảng 2 thìa đường là đủ luộc trong cả ngày”. Tuy nhiên qua tìm hiểu chúng tôi được biết, đường cyclamate thực chất là đường hóa học. Nguy hiểm hơn, đây là chất làm ngọt nhân tạo, không có giá trị về mặt dinh dưỡng và không có trong danh mục các phụ gia thực phẩm được phép sử dụng.

Tỏ vẻ chưa hài lòng về loại đường nói trên, chúng tôi hỏi về loại đường hóa học viên to bằng hạt đậu thì người bán hàng tại chợ Đồng Xuân khẳng định chắc nịch là có hàng nhưng muốn lấy thì phải chờ. Tất tả chạy đi một lúc, người bán hàng quay lại, mắt trước mắt sau ngó nghiêng dáo dác rồi lôi vội túi đường được phủ trong chiếc khăn tay và phân trần : “Trị an ở đây mà bắt được thì mệt lắm !”. Loại đường này cũng xuất xứ từ Trung Quốc, có tên gọi Tang Jing, được bán với giá 90.000đ/gói 500g. Người bán cho biết loại đường này rất ngọt, “một nồi ngô to chỉ cần cho từ 5-6 viên là đủ”.

Tiếp tục đi “mua đường” tại chợ Dịch Vọng (quận Cầu Giấy), chúng tôi được một người bán hàng cho biết ở đây có nhiều loại đường hóa học khác nhau, cả của Việt Nam và của Trung Quốc, giá cả giao động từ 20.000-300.000đ/kg. Chị này cũng tiết lộ thêm, mỗi loại đường chỉ hợp với một kiểu món ăn. Cụ thể, đường “B1” (viên đường có dạng giống viên thuốc B1) thường chỉ dùng cho nước dùng phở hay để pha nước chấm, còn đường “mía” và đường “dải lụa” thường được người mua cho vào chè hay nước luộc ngô vì có độ ngọt cao hơn. Khi PV hỏi mua, chị bán hàng mắt lấm, mày lét đảo một vòng để quan sát rồi mới ghé vào tai chúng tôi nói : “Cứ để lại địa chỉ, chị sẽ cho người mang đến tận nơi”.

Khác với hai chợ trên, tại chợ Ngã Tư Sở, đường hóa học được bày bán khá công khai ở các cửa hàng khô. Ngoài các loại đường đã đề cập ở trên như đường “mía”, đường Tang Jing hay “B1”, một người bán hàng ở đây còn đưa ra một loại khác. Loại này dạng viên giống đường Tang Jing nhưng hạt to hơn, nhãn mác bằng tiếng Trung Quốc và có giá 150.000 đ/gói 500g. Theo lời người bán, đường này còn ngọt hơn đường “mía” hay đường Tang Jing, vì thế giá cũng cao hơn.

Ngô luộc cả tuần không… thiu!

Không như đường hóa học được các chủ hàng khô bày bán công khai, “săm-pết” thuộc loại hàng hiếm và khó mua. Qua lời giới thiệu của những người bán hàng ở chợ Hôm (quận Hai Bà Trưng), chúng tôi tìm đến cơ sở chuyên bán thuốc bảo quản thực phẩm trên phố Hàng Buồm. Khi chúng tôi hỏi mua loại thuốc bảo quản để chống thiu thối cho ngô luộc, người bán đưa ra một loại thuốc có tên gọi là “săm-pết”, được gói trong bao bì không nhãn mác với giá 40.000đ/kg, dạng bột trắng và có mùi hăng rất khó chịu.

Theo lời người bán, một nồi ngô luộc chỉ cho từ 1-2 thìa cà phê “săm-pết” là để cả tuần cũng không hỏng. Người này cũng cho biết thêm: “Dạo này nhu cầu chưa cao nên cũng ít người đến mua loại này cho vào ngô. Phần lớn là họ đến mua “săm-pết” để ướp măng hay bảo quản thịt, xúc xích…”. Trong lúc chủ hàng đang thao thao về công dụng của loại hóa chất này thì một khách hàng dừng xe, tấp vào quán mua 4kg “săm-pết”. Ông chủ hàng thấy khách quen đon đả: “Tay này lấy “săm-pết” để chuyên ướp măng, không tin chú cứ hỏi chuyện”. Tưởng chúng tôi là người mới vào nghề, vị khách mua “săm-pết” về ướp măng thõng thượt buông một câu đầy kẻ cả: “Măng mà thiếu cái này (săm-pết – PV) thì coi như vứt!”.

Tại một cửa hàng, hàng khô trong chợ Mỹ Đình (huyện Từ Liêm), người bán đưa ra một túi bột màu trắng, không rõ nhãn mác với giá 15.000đ/100gram và quảng cáo: “Nhiều người đến mua loại này của chị lắm. Người ta ướp cả tấn măng để cả năm cũng không hỏng”. Khi được hỏi về tên gọi và xuất xứ, chị này cho biết chẳng rõ tên là gì, chỉ gọi nôm na là “thuốc chống thiu thối”, có điều, loại hàng này rất khó mua, nhiều khi phải lên tận biên giới mới có.

Quay trở lại chợ Đồng Xuân, khi chúng tôi hỏi mua loại thuốc bảo quản ngô luộc sao cho lâu thiu, một chủ hàng khô cho biết là có hàng nhưng phải đặt trước thì mới lấy về. Theo mô tả của người bán, loại thuốc này được đóng trong bao bì in tiếng Việt, có tên gọi “Thuốc chống mốc”, dạng bột giống hạt nêm, màu nâu, mùi hăng và giá rất cao, 290.000đ/gói 500g. Người bán cũng cho biết thêm: “Nhiều người không biết công dụng bảo quản thực phẩm của loại này vì nó được dùng trong công nghiệp!”. Có đi mới hay, độc dược đang được đưa vào miệng người dân ngay các chợ giữa Hà thành hoa lệ.

Lan caysu post (Theo GiadinhNet)

VÌ SAO BÃO

MANG TÊN PHỤ NỮ ? 

Nhân tiện Bà Chằng Sandy viếng vùng Đông Bắc Hoa Kỳ, hơn nữa lại có vài nữ Đồng Môn trú ngụ ở DC, nên bài này xin được chia sẻ cùng quý bạn ! Nhưng xin được thanh minh thanh nga trước là hòan tòan không có ý nói xa nói gần gì đến những Phái Yếu hiền dịu như ma sơ và xinh như mộng của chúng ta đâu đấy nhé 🙂

Vì sao bão mang tên phụ nữ ?

Trên thế giới, chỉ có Việt Nam là gọi bão theo số, còn toàn cầu đều đặt tên bão theo các danh từ mỹ mìều và thơ mộng vẫn dùng để gọi các cô gái dịu dàng và xinh đẹp. Đã nhiều lần tổ chức bảo vệ nhân quyền kêu ca về vấn đề này, và các quốc gia cũng thử sữa chữa. Nhưng than ôi, hễ đặt tên bão khác đi, thì hoặc nó không đến, hoặc tệ hơn nó đến mà hổng ai đề phòng, gây hậu quả thảm khốc.

Gần đây, các nhà khoa học đã tổ chức hội thảo, xem xét sự giống nhau và khác nhau giữa cơn bão và  “quý cô”. Cuối cùng họ đã đưa ra kết luận như sau :

Sự giống nhau:

1/- Bão và phụ nữ đều hình thành từ những vùng bí hiểm và từ những nguyên nhân bí hiểm. 2/- Đường đi của bão và phụ nữ đều không thể đoán trước. 3/- Cả phụ nữ và bão đều có thể bất ngờ mạnh lên. 4/- Cả 2 đều có kèm theo mưa. 5/- Cả hai đều có thể gây hư hại cho cây cối, nhà cửa và hoa màu. 6/- Trước khi bão tới và trước khi phụ nữ nổi giận, trời rất đẹp. 7/- Vật thổi tung trước tiên thường là quần áo. 8/- Phương pháp đề phòng tốt nhất là đóng cửa ngồi im trong nhà, 9/- Có nhiều tiếng nức mạnh. 10/- Muốn tồn tại đều phải biết sống chung. 11/. Ngay khi bão đổ tới và trước khi phụ nữ ra tay, trời đen tối và yên lặng lạ thường. 12/. Khi bão và phụ nữ ra đi, ta đều mất đi nhà, xe, và của cải, có khi mất luôn cả tánh mạng.

Còn sau đây là những điểm khác nhau cơ bản :

1/- Bão nổi lên theo mùa, phụ nữ nổi lên quanh năm. 2/- Bão tàn phá lung tung, phụ nữ nhiều lúc chỉ tàn phá 1 chỗ. 3/- Bão càng ngày càng yếu đi, phụ nữ càng ngày càng mạnh lên. 4/- Bão ồn ào mới đáng sợ, phụ nữ yên lặng càng đáng sợ hơn. 5/- Trời nổi bão khi khí lạnh về, phụ nữ nổi bão khi quý ông không về. 6/- Bão mạnh khi nó to, phụ nữ mạnh khi họ nhỏ. 7/- Muốn an toàn ta phải chạy xa bão, muốn an toàn ta phải lại gần phụ nữ. 8/- Bão làm đắm thuyền, phụ nữ làm đắm mình. 9/- Bão cần mây tan, phụ nữ chẳng cần mây gì hết.

Sau khi kết luận này đưa ra, chị em phản đối kịch liệt, đến mức các nhà khoa học phát hoảng, phải triệu tập khẩn cấp một cuộc họp so sánh bão với đàn ông và đưa ra bảng tổng kết là :

A/- Sự khác nhau giữa bão và đàn ông :

1/. Bão kèm theo sấm chớp, đàn ông chỉ kèm theo những lời hứa suông.

2/. Bão hay đổ bộ vào vùng quen. Đàn ông hay đổ bộ vào vùng lạ.

3/. Bão đôi khi không chịu vào bờ, đàn ông đôi khi không chịu xa bờ.

B/- Sự giống nhau giữa bão và đàn ông :

1/. Cả hai càng đi xa càng yếu đi.

2/. Cả hai nhiều lúc đều đe dọa rất cao rồi chả làm gì cả.

3/. Cả hai khi tàn đều làm ướt cảnh vật.

4/. Cả hai đôi khi chỉ được thiên hạ nhớ đến do sức tàn phá mà thôi.

Mỹ Nhàn post

THẾ GIỚI TÂM LINH (7)

CHUYỆN KỂ VỀ

CHA TRƯƠNG BỬU DIỆP

Hình ảnh này tôi nghĩ giống hình ảnh của bà Chúa Xứ ở núi Sam, Châu Đốc quá. Người viết nói : “Tôi không phải là người Công giáo, hơn nữa lại là một giáo viên (ngày trước gọi là giáo sư trung học) có đầu óc khoa học và ưa chuộng thực tế hơn là những sự tin tưởng mang tính siêu hình”, nhưng nay không phải suy nghĩ nữa, chỉ cần nhìn vào ngôi nhà thờ mới hơn 59 tỉ đồng, tức gần 3 triệu đô-la, ấy là chưa kể các pho tượng 12 vị thánh tông đồ lớn gấp 2 hay 3 lần người thật, toàn bằng gõ đỏ tức loại gỗ quý hiện nay không còn có ở Việt Nam (nhưng còn có ở Campuchia và Lào) mà theo tôi biết, giá mỗi pho tới vài trăm triệu đồng, vậy thì tiền “nội thất” cũng tới hàng triệu đô-la, là có ngay niềm tin. Quả thật đáng trân trọng !

Thưa quý bạn, Bạc Liêu là một tỉnh nhỏ ở vùng đồng bằng sông Cửu Long nhưng có nhiều chuyện nổi tiếng, như về lúa gạo, về muối, về nhãn, về… Công tử Bạc Liêu (1900-1973) trong thời Pháp thuộc, về vụ án Đồng Nọc Nạn của những năm 1928-1930, và về ngôi nhà thờ họ Tắc Sậy với sự linh ứng của Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp, mà gần đây cả trong nước lẫn ngoài nước ai cũng biết.

Tôi không phải là người Công giáo, hơn nữa lại là một giáo viên (ngày trước gọi là giáo sư trung học) có đầu óc khoa học và ưa chuộng thực tế hơn là những sự tin tưởng mang tính siêu hình. Tôi đã từng dạy học tại Bạc Liêu suốt 6 năm trời (1965-1971) và học trò của tôi tại các huyện Vĩnh Lợi, Vĩnh Châu, Phước Long, Giá Rai v.v… đông lắm, chúng tôi thường xuống dưới đó chơi. Tôi rất quen thuộc với cái huyện (ngày trước gọi là quận) Giá Rai có ngôi nhà thờ nhỏ tí Tắc Sậy lợp tôn, nằm bên cạnh lộ sau khi đi qua ngôi chợ cũng nhỏ như vậy của thị trấn Hộ Phòng – thị trấn của huyện Giá Rai – khoảng một cây số.

Bây giờ, trong thời buổi này, nhà thờ Tắc Sậy tự nhiên nổi tiếng do sự linh thiêng “ai đến khấn nguyện điều gì đều được” của Cha Diệp. Có điều tôi muốn thưa với quý bạn rằng Nhà thờ Tắc Sậy huyện Giá Rai thuộc tình Bạc Liêu chứ không phải thuộc tỉnh Cà Mau. Tất cả các tài liệu đều ghi Bạc Liêu nhưng dân chúng thường nói Ca Mau bởi vì sau năm 1975, khi Cha Trương Bửu Diệp bắt đầu nổi tiếng thì Bạc Liêu thuộc về Cà Mau, kết hợp với tỉnh Cà Mau thành tỉnh Minh Hải, người ta quen gọi là Cà Mau chứ ít khi gọi là Minh Hải. Ngoài ra, Nhà thờ Tắc Sậy nằm trên đường Bạc Liêu đi Cà Mau, cách Bạc Liêu 37 cây số trong khi chỉ cách Cà Mau có 20 cây số nên mọi người dễ bị lầm.

Quý bạn hỏi vậy thì đối với những chuyện đồn đại, bản thân Đoàn Dự tin hay không tin ? Tôi xin trả lời rằng tôi không dám nói tin hay không tin, nhưng theo tôi nghĩ, Nhà thờ Tắc Sậy là một ngôi nhà thờ rất nhỏ – nhỏ không thể nào nhỏ hơn được nữa – lại nằm trong một thị trấn cũng nhỏ, đồng không mông quạnh, ở phần gần như cuối cùng đất nước, cách Sài Gòn tới hơn 300 cây số, vậy mà nay được xây dựng thành một cơ ngơi to lớn, hiện đại, nguyên tiền xây cất đã hơn 59 tỉ đồng, tức gần 3 triệu đô-la, ấy là chưa kể các pho tượng 12 vị thánh tông đồ lớn gấp 2 hay 3 lần người thật, toàn bằng gõ đỏ tức loại gỗ quý hiện nay không còn có ở Việt Nam (nhưng còn có ở Campuchia và Lào) mà theo tôi biết, giá mỗi pho tới vài trăm triệu đồng, vậy thì tiền “nội thất” cũng tới hàng triệu đô-la. Toàn là do khách thập phương, lương cũng như giáo, nhất là Việt Kiều tại các nước gửi tới tạ ơn cả.

Phải có cái gì đó thiêng liêng và đầy tin tưởng người ta mới dâng hiến lên Cha như thế ! Mặt khác tôi cũng nghĩ, khi bị bắt cùng với 70 người vừa chức sắc vừa giáo dân trong họ đạo, Linh mục Phanxicô Trương Bửu Diệp đã hy sinh tính mạng của mình để cứu họ. Sau khi qua đời, ngài hiển linh ban ơn cho người này người kia, “ai xin thì cũng đều được”. Rồi bây giờ mọi người dâng lễ tạ ơn ngài, biến ngôi nhà thờ nhỏ xíu của ngài thành nơi khang trang, hiện đại. Tất cả những việc đó đều là tình người. Đối với tôi, bất cứ cái gì thuộc về tình người đều đáng ca ngợi.

Quý bạn cũng hỏi những chuyện về Cha Diệp thì ai cũng biết, tại sao tôi còn thuật lại ? Xin thưa, tính tôi vẫn thế, không kể thì thôi, đã kể là rất chi tiết. Tôi sợ quý bạn tuy biết nhưng biết từng mảng, không thành hệ thống. Bây giờ tôi xin tường thuật từ đầu đến cuối thật rõ để quý bạn hiểu, xin mời quý bạn xem xét… 

Tiểu sử Linh mục Trương Bửu Diệp

Cha Phanxicô Trương Bửu Diệp sinh ngày 01/01/1897, một tháng sau được Cha Giuse Sớm rửa tội ngày 02/02/1897 tại họ đạo Cồn Phước, nay thuộc ấp Mỹ Lợi, xã Mỹ Luông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Cha ngài là Micae Trương Văn Đặng. Mẹ ngài là Lucia Lê Thị Thanh. Gia đình sinh sống tại họ đạo Cồn Phước tỉnh An Giang.

Năm 1904, lúc ngài 7 tuổi thì mẹ mất. Cha ngài dời gia đình lên Battambang bên Campuchia, sinh sống bằng nghề thợ mộc. Tại đây, thân phụ ngài tục huyền với bà Maria Nguyễn thị Phước, sinh năm 1890, quê gốc tại Mỹ Luông, Chợ Mới, An Giang. Kế mẫu đã sinh cho ngài người em gái tên là Trương thị Thìn (1913), hiện còn sống tại họ đạo Bến Dinh, xã Tân Hòa, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

Năm 1909, cha Phêrô Lê Huỳnh Tiền gửi ngài vào Tiểu chủng viện Cù lao Giêng, xã Tấn Mỹ, Chợ Mới tỉnh An Giang. Học xong tại Tiểu chủng viện, ngài lên Đại chủng viện Nam Vang, Campuchia, (lúc đó các họ đạo An Giang, Châu Đốc, Hà Tiên trực thuộc giáo phận Pnom Penh, Campuchia).

Năm 1924, sau thời gian tu học, ngài được thụ phong linh mục tại Nam Vang dưới thời Đức Cha Chabalier người Pháp. Lễ vinh quy và mở tay được tổ chức tại nhà người cô ruột là bà Sáu Nhiều, tại họ đạo Cồn Phước. Từ năm 1924-1927, ngài được bề trên bổ nhiệm làm Cha phó họ đạo Hố Trư, một họ đạo của người Việt sinh sống tại tỉnh Kandal, Campuchia. Từ năm 1927-1929, ngài về làm giáo sư tại Tiểu chủng viện Cù lao Giêng tỉnh An Giang.

Tháng 03 năm 1930, ngài về trông nom họ đạo Tắc Sậy, quận Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu. Trong những năm làm cha sở, ngài quan hệ, giúp đỡ, thành lập nhiều họ đạo khác tại các vùng phụ cận như : Bà Đốc, Cam Bô, An Hải, Đầu Sấu, Chủ Chí, Khúc Tréo, Đồng Gò, Rạch Rắn.

Hoàn cảnh xã hội nhiễu nhương những năm 1945-1946, chiến tranh loạn lạc, bà con nhân dân di tản, Cha Bề Trên địa phận Bạc Liêu là Phêrô Trần Minh Ký và cả các cha người Pháp cũng khuyên ngài lên Bạc Liêu lánh mặt, khi nào tình hình yên ổn thì sẽ trở lại họ đạo Tắc Sậy, nhưng ngài trả lời : “Tôi sống giữa đàn chiên và nếu có chết cũng chết giữa đàn chiên, không đi đâu cả”.

Ngày 12/03/1946, ngài bị bắt cùng với trên 70 chức sắc và giáo dân tại họ đạo Tắc Sậy, bị lùa đi và nhốt tại lẫm lúa nhà ông giáo Sự ở Cây Dừa. Người ta định giết tất cả nhưng ngài nói chính ngài là chủ chăn các con chiên đó, vậy xin chết thay cho các con chiên của ngài. Họ chấp nhận. Mọi người được thả còn ngài thì bị đem đi thủ tiêu.

Những người trong họ đạo kể rằng đêm hôm ấy ngài về báo mộng cho các vị chức sắc trong họ đạo biết chỗ họ ném xác ngài, trong cái ao nhà ông giáo Sự. Các vị đến nơi được báo mộng thì vớt được xác ngài đã bị chặt đầu với một vết chém ngang cổ chỗ gần mang tai, có ba vết chém khác trên mình. Thân xác ngài không hiểu sao bị lột hết quần áo, trần trụi như Chúa Giêsu trên thập giá, nhưng hai tay vẫn chắp trước ngực như đang cầu nguyện và nét mặt ngài vẫn bình thản, không có vẻ gì sợ hãi.

Các vị chức sắc lén đưa xác ngài về chôn bí mật trong phòng thánh nhà thờ Khúc Tréo (nhà ông giáo Sự thuộc họ đạo Khúc Tréo, làm thế kín đáo hơn đưa về Tắc Sậy). Như vậy ngài đã tử vì đạo vào ngày 12 tháng 03 năm 1946, nhằm ngày mồng 09 tháng 02 năm Bính Tuất.

23 năm sau, tức năm 1969, hài cốt ngài được cải táng, di dời về Nhà thờ Tắc Sậy, nơi ngài đã làm chủ chăn trong 16 năm và là cha sở thứ nhì của họ đạo Tắc Sậy.

20 năm sau nữa, tức năm 1989, ngôi mộ của ngài được trùng tu thành một ngôi nhà mộ nho nhỏ lợp tôn ở phía sau Nhà thờ Tắc Sậy cũng nhỏ như vậy và khánh thành vào ngày 04/06/1989.

Đầu năm 2010, một ngôi nhà mộ cực kỳ khang trang và hiện đại đã xây dựng xong, hài cốt ngài được di chuyển vào đó với lễ cải táng rất long trọng do đức Giám Mục địa phận Cần Thơ chứng kiến. Ngày nào cũng có các tín hữu ở khắp mọi nơi trong nước cũng như ngoài nước, bên lương cũng như bên giáo, tới thăm viếng, khấn nguyện và tin tưởng vào sự linh ứng của ngài.

Chuyện một số phép lạ của Cha Bửu Diệp

Hiện nay, tuy Giáo hội Công giáo chưa xét phong Thánh cho Cha Bửu Diệp, nhưng trong lòng nhiều tín hữu Công giáo, kể cả một số người thuộc các tôn giáo khác, đã coi Cha như một vị Thánh, vì rất nhiều người khấn xin với ngài và được ngài ban cho như ý. Tại các nhà thờ Công giáo trong nước, rất nhiều giáo dân xin lễ tạ ơn ngài. Đặc biệt, nhiều người không phải tín đồ Thiên Chúa giáo cũng rất kính mến, tin tưởng ở ngài. Những tấm bảng tạ ơn Cha Phanxicô Trương Bửu Diệp được gắn trên tường trong căn phòng nguyện tại Nhà thờ Tắc Sậy nhiều không biết bao nhiêu mà kể.

Theo chúng tôi được biết, ở bên Mỹ, cụ Joan Baotixita Võ Hữu Hạnh, một nhà văn lớn tuổi, đã sáng lập “Hội những người con của Cha Trương Bửu Diệp”. Theo cụ, Cha Trương Bửu Diệp đã ban phép lạ cho nhiều người, cả lương cũng như giáo. Sau đây là một số chuyện về các phép lạ đó, bởi vậy tiếng tăm về ngài ngày càng lừng lẫy.

Chuyện gia đình ông Lâm ở Lâm Đồng, Đà Lạt : Ông bà Lâm không phải tín đồ Thiên chúa giáo và chuyện này đã diễn ra năm 1977, do chính ông Lâm kể cho ông Ngọc Quang nghe, ông Ngọc Quang ghi lại trên tập san Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, do cụ Võ Hữu Hạnh chủ trương.

“Bà Lâm bị bệnh viêm ruột và đau dạ dày từ lâu, bệnh đã trở thành vô phương cứu chữa. Bác sĩ tại các bệnh viện ở Sài Gòn đều bó tay. Ông Lâm đành đưa vợ từ Sài Gòn về Lâm Đồng để bà sống những ngày cuối cùng của mình. Giữa lúc gia đình vừa đưa bà Lâm về tới nhà thì có một vị khách đi đường xa, xe bị hư, trong khi chờ tài xế sửa, ghé vào thăm. Khách là một người cao lớn, khỏe mạnh, gương mặt chữ điền, hàm râu cánh én, vẻ người phúc hậu với bộ áo dài đen của linh mục.

Ông Lâm vốn tính tình hiền lành, thường rất tôn trọng các vị tu hành, dù lương hay giáo. Mặc dầu nhà đang bận rộn vì vợ bệnh nặng nhưng ông cũng lịch sự tiếp đón khách. Vị linh mục tinh ý hỏi tại sao nét mặt gia chủ có vẻ buồn rầu. Ông Lâm nói thật là vợ bệnh nặng, mới đưa từ Sài Gòn về nhà chờ chết. Vị linh mục nói rằng lúc trước mình cũng bị bệnh nặng như vậy, nhờ một ông bác sĩ tên Hữu cho uống loại thuốc này khỏi bệnh, bây giờ còn dư lại mấy viên. Cha lấy trong túi áo ra ba viên thuốc trao cho ông Lâm và dặn chiều cho bà uống một viên, tối lúc 10 giờ một viên và sáng hôm sau một viên nữa, thế nào cũng khỏi. Ông Lâm tuy không tin lắm nhưng trong lúc tuyệt vọng, ai bảo sao cũng đành nghe vậy. Giữa lúc ấy người tài xế vào thưa xe đã sửa xong, vị linh mục bèn từ giã chủ nhà ra đi. Chủ nhà cảm ơn Cha và hỏi cho biết Cha ở đâu, vị linh mục nói mình trông coi xứ đạo Tắc Sậy – tỉnh Bạc Liêu ?.

Sau khi uống viên thuốc thứ nhất vài giờ, bà Lâm cảm thấy bớt đau, trong mình dễ chịu, biết đói và thèm ăn, ngủ ngon. Buổi tối, khoảng chừng 10 giờ, tự nhiên bà thức giấc và nhớ lời Cha dặn, bèn uống thêm viên thuốc thứ hai. Sáng hôm sau thức dậy, bà thấy trong người khỏe khoắn, không còn mệt mỏi và đau đớn như trước. Bà sung sướng báo tin cho chồng hay. Ông Lâm mừng quá bèn đem viên thuốc còn lại đến các tiệm để làm mẫu, mua thêm cho chắc ăn. Nhưng ông đi khắp nơi, kể cả các tiệm thuốc Tây lẫn thuốc Bắc, song chẳng ai biết đó là thuốc gì. Ông đành trở về, cho bà uống nốt viên còn lại và định có dịp sẽ xuống Minh Hải (năm 1977, hai tỉnh Bạc Liêu và Cà Mau bị sáp nhập lại với nhau thành tỉnh Minh Hải) thăm Cha và nhờ Cha nói với ông “bác sĩ Hữu” bán thêm giúp.

Muốn đi từ Lâm Đồng xuống Cà Mau thì phải về Sài Gòn, xuống Cần Thơ, qua Sóc Trăng rồi mới tới Bạc Liêu, và Hộ Phòng là thị trấn của huyện Giá Rai tỉnh Bạc Liêu, cách thị xã Bạc Liêu 37 cây số, nơi có Nhà thờ Tắc Sậy. Việc giao thông lúc ấy rất khó khăn, phải xếp hàng từ khuya ở Bến Xe Miền Tây để mua vé xe, có khi xếp hàng cũng không mua được vé, đường đi lại lồi lõm, hết sức cực khổ. Bà Lâm mới khỏi bệnh, khó chịu đựng nổi với những chiếc xe cà rịch cà tàng, cổ lỗ đó. Đang lúc ông Lâm lo âu thì có người cháu làm trong cơ quan nhà nước đến chơi, cho biết anh ta sắp đi công tác tại Minh Hải để giao dịch mua lương thực cho tỉnh. Ông Lâm mừng quá, bèn nói với cháu cho đi nhờ xe xuống Tắc Sậy, tiền xăng ông chịu. Người cháu nhận lời vì Nhà thờ Tắc Sậy nằm ngay trên đường Bạc Liêu đi Cà Mau và cách thị xã Cà Mau khoảng 20 cây số, anh ta chở chú thím tới Tắc Sậy rồi xuống Cà Mau không có gì khó.

Khi qua Bạc Liêu, xuống tới thị trấn Hộ Phòng, Nhà thờ Tắc Sậy nằm cách chợ Hộ Phòng khoảng một cây số, ở phía bên trái. Ông bà Lâm không thể ngờ được nơi ở của vị cha sứ ân nhân lại nhỏ như vậy. Đó là ngôi nhà thờ mái lợp tôn, vách ván, xiêu vẹo trông rất tiêu điều. Đất nhà thờ rộng mênh mông nhưng chung quanh toàn đồng ruộng, dân cư thưa thớt.

Chiếc sân đất của nhà thờ không có cổng. Vợ chồng ông Lâm xuống xe, đi vô. Một ông lão bộc (thường gọi là ông Từ) đang quét trên sân. Trông thấy khách lạ, ông Từ có vẻ ngạc nhiên vì ít khi có khách phương xa đến thăm ngôi nhà thờ này. Ông Lâm nói muốn gặp cha sở, ông Từ mời vào bên trong rồi vào mời cha.

Một lát sau, vị linh mục ra, ngài cho biết ngài là Linh mục Phêrô Nguyễn Ngọc Tỏ, cha sở họ đạo Tắc Sậy. Ông bà Lâm rất ngạc nhiên, vị linh mục này trông không giống vị linh mục đã cho thuốc một chút nào hết mà sao hai vị đều tự nhận mình là cha sở họ đạo Tắc Sậy ? Ông Lâm bày tỏ sự tình và kể mình đã gặp một vị linh mục cao lớn, tóc ngắn, gương mặt chữ điền, hàm râu cá chốt. Cha Tỏ mỉm cười, không lấy gì làm lạ, bèn dẫn vợ chồng ông Lâm qua phía bên hông nhà thờ, tới ngôi mộ của Cha Diệp. Vừa nhìn thấy tấm hình trên bia mộ, tự nhiên ông Lâm quỳ phục xuống và quả quyết đây chính là vị ân nhân đã cho thuốc, cứu bà Lâm khỏi bệnh. Bà Lâm cũng quỳ xuống tạ ơn ngài. Ông bà là người bên lương, không biết làm dấu Thánh giá.

Lúc ra về, ông bà Lâm gửi Cha sở một số tiền nho nhỏ để giúp nhà thờ vì lúc ấy ai cũng nghèo, ông bà không có nhiều. Có lẽ ông bà Lâm là những người đầu tiên đã giúp nhà thờ từ năm 1977”.

Chuyện bức ảnh đẫm máu : Sau đây là nguyên văn bức thư của GS Trần Anh Linh gởi cho cụ Võ Hữu Hạnh, nói về bức ảnh đẫm máu. Xin ghi chú thêm rằng chuyện này xảy ra cách đây khoảng chừng 2 năm (2008) và hiện nay Linh mục Gioan Minh vẫn còn ở tại Nhà thờ Hiển Linh đường Ngô Tất Tố (Dương Công Trừng cũ) thuộc giáo phận Thị Nghè. Ngài nổi tiếng về việc khấn nguyện Đức Mẹ giùm những người bệnh tật kết quả rất tốt. Hằng ngày mọi người ở khắp các nơi đến nhờ ngài khấn rất đông nhưng chính quyền địa phương đã ra lệnh cấm vì không muốn có sự tụ tập đông đúc.

Sau đây là bức thư của GS Trần Anh Linh:

Anh Hạnh thân mến,

Tôi xin gửi tặng anh món quà quí giá mà Cha Diệp đã ban cho tôi qua Cha Gioan Minh: Cha Diệp đã thực hiện một phép lạ nhãn tiền là dùng chính tấm ảnh mà chúng ta đã cho họa sĩ Đại Hàn ở khu Phúc Lộc Thọ vẽ rồi in ra nhiều ấn bản, vừa làm thành sách, vừa in thành ảnh gởi tặng và bán khắp nơi. Tấm ảnh đó đã đổ máu đào lênh láng từ vết chém bằng đao kiếm đứt cổ, máu Cha đã đổ ra thấm ướt làm mờ hàng chữ Trương Bửu Diệp bên dưới.

Câu chuyện xảy ra như sau : Cha Gioan Minh (cựu Tuyên Úy), sau 12 năm học tập cải tạo, đã được cho về và sống ở nhà thờ Chúa Hiển Linh tại Thị Nghè nơi xưa kia Cha Dụ đã thành lập. Cha Minh ở lại Việt Nam, không xin ra nước ngoài theo diện HO dù cha có tới 12 năm ở tù.

Một hôm cha vào Nhà sách Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp ở đường Kỳ Đồng và chọn mua một tấm ảnh của Cha Diệp mà cha đã nghe có nhiều phép lạ. Cô bán hàng dùng giấy báo gói bức ảnh có đóng khung sẵn trao cho cha Minh. Cha Minh về đến nhà, tính mở ra để treo lên tường thì một ơn lạ đã xảy ra, là máu tươi từ cổ bức ảnh tuôn trào ra thấm ướt cả tờ báo gói bức tranh.

Cha Minh kinh ngạc bèn cho đó là một dấu chỉ quan trọng, nên đã gói lại cẩn thận và lặng lẽ đem lên Tòa Tổng Giám Mục Saigon trình với Đức Cha Phạm Minh Mẫn. Theo cha Minh cho biết thì tấm ảnh thấm máu này đã được gởi qua để Tòa Thánh xét nghiệm, hy vọng rằng đã đến lúc Tòa Thánh cho lập Ban Điều Tra, tìm hiểu về các ơn lành Cha Diệp đã làm mà việc lạ lùng làm cho máu đào từ vết cổ đổ ra sẽ là một trong những chứng cớ để Tòa Thánh có thể tôn phong Chân Phước cho Cha.

Tôi là bạn thân của cha Minh, nên cha đã tặng tôi một tấm. Tôi sao lại và gởi tặng anh, đây là tài liệu mới nhất về Cha Diệp, anh nên ghi chú vào tập sách Các Ơn Lành của Cha”. Trần Anh Linh.

Chuyện ông chủ thầu vật liệu xây dựng : Từ những năm thuộc thập niên 1980 trở về sau, hằng năm cứ vào các ngày 11/12 tháng 03 dương lịch, dòng người lương, giáo từ các nơi lại đổ về Tắc Sậy. Trên những chiếc xe đò chở khách, người ta có thể thấy hình một vị linh mục mặt vuông chữ điền rất dễ mến. Họ xuống để dự lễ giỗ của Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp.

Ông Phước, người trông coi phần mộ của Cha Diệp tại Nhà thờ Tắc Sậy, kể lại câu chuyện sau đây vào một buổi trưa tháng 04-2010 như sau:

“Vào khoảng những năm đầu thập niên 1980, bờ kinh cạnh khu nhà thờ này còn là một bãi đất trống, làm nơi ghe và xe cộ dừng lại đổ hàng. Nửa đêm, có một ông chủ ghe chở đầy vật liệu xây dựng như gạch, cát, xi-măng… đậu bên bờ kinh. Ông bỗng trông thấy một vị khách mặc áo dài đen theo kiểu nhà dòng từ trên bờ bước xuống. Vị khách tự xưng mình là cha xứ Nhà thờ Tắc Sậy, muốn mua hết các vật liệu trên ghe để xây lại nhà thờ. Giá cả xong xuôi, chủ ghe đồng ý bán và hẹn hôm sau sẽ cho công nhân đem hàng lên xong ông sẽ nhận tiền.

Sáng hôm sau, trước khi giao hàng, chủ ghe lên nhà thờ, định gặp cha xứ để biết chỗ cho công nhân xếp hàng. Đến khi gặp linh mục Phêrô Nguyễn Ngọc Tỏ, ông rất ngạc nhiên, từ giọng nói cho tới gương mặt, thân hình, vị linh mục này trông không giống với vị khách có ria mép hôm trước một chút nào cả. Cha Tỏ nói : “Tôi hiểu, đó chính là linh hồn cha sở Phanxicô Trương Bửu Diệp đấy. Ý ngài muốn xây lại nhà thờ nên hiện ra như vậy”. Cha kể cho ông chủ thầu nghe các chuyện linh ứng của Cha Bửu Diệp rồi nói: “Ý tôi cũng muốn xây lại ngôi nhà thờ cho đàng hoàng nhưng họ đạo nghèo, chưa đủ tiền. Thôi thì đành cáo lỗi với ông và hẹn khi khác”. Ông chủ thầu nói: “Cha Diệp đã linh ứng như vậy thì con không dám lấy tiền. Mặc dầu con là người bên lương nhưng con xin hiến tất cả các vật liệu trên ghe để nhà thờ xây sửa lại, không nhận một đồng nào cả”. Ông chủ thầu lập tức cho người khuân gạch, cát, xi-măng từ dưới ghe lên rồi đi, ngay cả tiền công bốc xếp của các công nhân ông cũng tự trả, không để nhà thờ phải trả.

Không ngờ từ đấy ông chủ ghe buôn bán ngày càng phát đạt. Ông cho rằng mình được Cha Diệp phò hộ nên mỗi lần đi qua Hộ Phòng ông thường quay lại Nhà thờ Tắc Sậy để tạ ơn Cha.

Cũng theo ông Phước, những chuyện linh ứng của Cha Diệp ngày một lan rộng. Từ đó về sau, khách thập phương kéo về nườm nượp để cầu xin Cha ban ơn lành. Nhất là các nghệ sĩ cải lương nổi tiếng, rất nhiều người xuống, họ cầu xin Cha chuyện này chuyện khác, và ai cũng được toại nguyện. Lời nguyện đắc thành, họ đến đền ơn Cha, người thì ghế đá, người thì vật dụng dùng cho nhà thờ, người thì tiền bạc…, nhiều không sao kể xiết. Cứ thế, vào những này cuối tuần hoặc trong dịp lễ giỗ Cha (12 tháng 03 dương lịch), khách thập phương kể cả trong nước lẫn ngoài nước về kính viếng Cha đông như trẩy hội. Có nhiều người đem theo cả những chai nước La Vie đến để bên cạnh mộ, cầu nguyện trước khi mang về cho người trong gia đình. Nhưng cũng có những người tin tưởng đến độ cầu nguyện trong nhà thờ, trước mộ của Cha chưa đủ, họ còn hỏi thăm, tìm đến chiếc ao nhỏ của gia đình ông giáo Sự ngày xưa để chiêm ngưỡng nơi Cha đã bị sát hại.

Điều lạ lùng hơn nữa là theo như lời của vị cha xứ hiện nay là Linh mục Phaolô Nguyễn Thanh Bình, thì có tới 70% khách thập phương xuống Giá Rai kính ngưỡng Cha Diệp là người ngoại đạo hoặc Việt Kiều từ nước ngoài về. Có những người chưa về nhưng đã “nghe nói” tới sự linh ứng của Cha nên đã gửi tiền về giúp nhà thờ xây dựng được một cơ ngơi lớn lao như ngày nay, khả dĩ có thể đón tiếp bất cứ các nhóm hành hương nào dù đông bao nhiêu, họ đều có chỗ nghỉ ngơi đàng hoàng mà không cần phải đóng góp gì cả.

Để kết luận bài này, tôi xin thưa với quý vị độc giả thân mến rằng tôi không phải là người Công giáo, nhưng tôi biết trong Thánh kinh Công giáo có câu nói của Đức chúa Giêsu : “Phúc cho ai không thấy mà tin”. Vậy nay tôi xin dùng câu nói này để cầu Chúa và Cha Diệp ban ơn cho quý vị. Amen.

Yên Huỳnh post (theo Đoàn Dự ghi chép)

LỜI NGUYỀN TECUMSEH

Ám ảnh các đời Tổng thống Mỹ

“Tổng thống Mỹ nào đắc cử vào năm kết thúc bằng số 0 sẽ chết trong nhiệm kỳ”. Liệu lời nguyền Tecumseh còn phát huy tác dụng với Tổng thống Bush, đắc cử năm 2000 ?

Lời nguyền độc địa

Lời nguyền Tecumseh hay còn gọi là Lời nguyền Tippecanoe, Lời nguyền Tổng thống, Lời nguyền năm kết thúc bằng số 0, Lời nguyền 20 năm, đều là những tên gọi khác nhau được dùng để mô tả thời kỳ mà cứ 20 năm một lần, từ 1840 đến 1960, mỗi đời Tổng thống Mỹ đắc cử hay tái cử vào năm kết thúc bằng số 0 như 00, 20, 40, 60, 80 đều sẽ chết khi đang trong nhiệm kỳ.

Cho tới nay, lời nguyền độc địa này ứng nghiệm trong hầu hết các trường hợp, ngoại trừ một trường hợp đặc biệt. Đó là Tổng thống Ronald Reagan, đắc cử lần đầu tiên vào năm 1980, bị ám sát hụt khi mới cầm quyền 69 ngày.

Vị Tổng thống duy nhất chết khi đang trong nhiệm kỳ nhưng không liên quan tới lời nguyền Tecumseh là Tổng thống Zachary Taylor, đắc cử năm 1848 nhưng chết vì bệnh tả năm 1850 – điều đáng chú ý ở đây là năm vị Tổng thống này qua đời có số kết thúc là 0.

Tổng thống hiện nay, George W.Bush đắc cử lần đầu năm 2000 và tái cử năm 2004, cũng có thể không hoàn tất nhiệm kỳ nếu lời nguyền Tecumseh linh ứng. Ngược lại, nếu tiếp tục sống sót qua hai năm cuối của nhiệm kỳ, Tổng thống Bush sẽ là người thứ hai chứng kiến lời nguyền Tecumseh không có tác dụng.

Lời nguyền – một phần văn hóa Mỹ

Lời nguyền Tecumseh lần đầu tiên được nhắc tới trong cuốn sách Tin hay không tin của Ripley, xuất bản năm 1934. Cuốn sách viết về Tecumseh – người bị đánh bại dưới tay William Henry Harrison trong Trận chiến Tippecanoe năm 1811. Một câu chuyện khác đề cập tới người anh em cùng cha khác mẹ của Tecumseh là Tenskwatawa – người bị cho là công bố lời nguyền trong khi đang ngồi làm mẫu vẽ. Câu chuyện thứ hai này được công chúng chấp nhận nhưng nhiều học giả vẫn còn nghi ngờ về tính xác thực của nó.

Câu chuyện về lời nguyền Tecumseh, được cả thế giới biết đến chính là một phần của văn hóa Mỹ. Thậm chí, nó còn được dạy như các bài học lịch sử trong trường. Làm sao có thể giải thích khác được sự tiếp nối khủng khiếp của 7 đời Tổng thống Mỹ, vốn không sống sót tới hết nhiệm kỳ trong khoảng thời gian 20 năm.

ruyền thuyết thứ nhất : Tecumseh nổi hơn hẳn những người khác nhờ lòng dũng cảm trong chiến đấu. Ông là một tín đồ thành kính của quy tắc rằng toàn bộ đất đai của người da đỏ là sở hữu của chỉ mình người da đỏ. Theo quan điểm của Tecumseh, việc chuyển nhượng hay mua bán đất đai không thể thuộc quyền của một cá nhân bộ lạc.

Khi nước Mỹ từ chối công nhận nguyên tắc này, Tecumseh đã thành lập một đội quân gồm những người Mỹ bản địa từ Tây Bắc, phương Nam và phía đông thung lũng Missippi chiến đấu vì quyền đối với đất đai của người Mỹ bản địa. Kế hoạch bị thất bại khi anh em cùng cha khác mẹ với Tecumseh là Tenskwatawa, còn gọi là nhà tiên tri, thất trận trong cuộc chiến Tippecanoe .

Dù Tecumseh là thủ lĩnh của Shawnee nhưng Tenskwatawa không chỉ là một chiến binh bình thường mà quan trọng hơn là lãnh đạo tinh thần của bộ lạc. Tenskwatawa thành nhà tiên tri của Shawnee sau khi nhận được sấm truyền – được cho là từ Cha cuộc sống của người da đỏ. Uy tín của Tenskwatawa càng tăng khi ông tiên đoán được thiên thực vào năm 1806 và động đất năm 1811.

Năm 1811, khi Tecumseh vắng mặt để đào tạo tân binh, Tướng William Henry Harrison và các binh sĩ đã tiến đánh Shawnee của nhà tiên tri. Do Tecumseh vắng mặt, Tenskwatawa đã chỉ huy cuộc phản công lúc rạng đông – trận đánh khai màn cuộc chiến Tippecanoe ngày 7/11.

Các binh lính của Tướng Harrison đã đánh bại những người da đỏ và trả thù bằng cách tàn phá nơi định cư của họ. Cuối cùng, cuộc chiến được coi là hòa và quân Mỹ rút lui. Tuy vậy, Tippecanoe đã phá vỡ quyền lực của Shawnee và trở thành điểm mốc lịch sử, đánh dấu sự sụp đổ của phong trào quân sự của người da đỏ. Khi Tecumseh trở lại, ông đã trả tự do cho những tù binh mà Shawnee bắt được và gửi họ mang một thông điệp tới cho Tướng Harrison.

Truyền thuyết thứ 2 : Truyện thứ hai về lời nguyền được Tenskwatawa đưa ra sau đó vào năm 1836. Dường như nhà tiên tri lúc đó đang ngồi mẫu cho bức chân dung và cuộc trò chuyện đề cập tới kỳ bầu cử Tổng thống sắp tới. Martin Van Buren – Phó Tổng thống Mỹ lúc đó đang cạnh tranh với Tướng Harrison – vị tướng nổi tiếng trong trận chiến Tippecanoe, cựu thống sứ lãnh thổ của người da đỏ, trong cuộc đua vào ghế tổng thống Mỹ.

Tenskwatawa lúc đó đã tiên đoán : ’’Harrison sẽ không thắng trong cuộc bầu cử năm nay. Nhưng ông ta sẽ thắng trong lần tới. Nếu thắng ông ta sẽ không hoàn tất được nhiệm kỳ. Ông ta sẽ chết khi còn tại chức’’.

’’Sẽ không có Tổng thống nào chết khi đang tại nhiệm’’, một số người phản đối.

’’Nhưng Harrison sẽ chết. Tôi có thể khẳng định điều đó’’, nhà tiên tri nói. ’’Khi ông ta chết, các người sẽ nhớ về cái chết của Tecumseh. Các người nghĩ rằng ta đã mất đi quyền lực. Ta chính là người buộc trời phải tối sầm lại và khiến những người đàn ông da đỏ phải bỏ rượu mạnh. Nhưng ta có thể nói rằng Harrison sẽ chết. Sau ông ta, mỗi Tổng thống Mỹ được bầu mỗi 20 năm sau đó sẽ chết. Mỗi khi Tổng thống chết, mọi người sẽ phải nhớ về cái chết của những người da đỏ’’.

Kể từ khi bầu cử Tổng thống Mỹ được tổ chức 4 năm một lần, cứ 20 năm bầu cử lại diễn ra vào năm kết thúc bằng số 0.

Ứng nghiệm qua các đời Tổng thống

1840 : Tướng William Henry Harrison, người đánh bại Tecumseh, đã thắng trong cuộc bầu cử Tổng thống năm 1840 dù ông không phải là người được phần đông công chúng ưa thích. Ngày Harrison phát biểu nhậm chức, thời tiết lạnh và nhiều gió. Bài phát biểu kéo dài 1h40 phút và tân Tổng thống bị cảm lạnh. Một tháng sau, Tổng thống chết vì viêm phổi. Nhiều người bắt đầu sợ hãi.

1860 : Hai mươi năm sau đó lại tới kỳ bầu cử Tổng thống. Lần này, người đắc cử là Abraham Lincoln, năm 1860. Ngay trong thời gian đầu nắm quyền, Tổng thống Lincoln bị người ủng hộ phương Nam là John Wilkes Booth giết chết.

1880 : James Garfield đắc cử năm 1880 và chỉ sống được 4 tháng với nhiệm kỳ Tổng thống. Ông bị Charles J.Guiteau, một kẻ thần kinh không ổn định ám sát.

1900 : William McKinley tái đắc cử nhiệm kỳ hai năm 1900. Sau đó một năm rưỡi, ông bị Leon F.Czolgosz – kẻ tự nhận là kẻ thù của Jesu giết hại. Leon đã thừa nhận là thủ phạm vì cho rằng McKinley là ’’kẻ thù của nhân dân’’.

1920: Sau thế chiến II, người Mỹ tỏ ra mệt mỏi với Tổng thống Wilson và năm 1920 cử tri bỏ phiếu cho một người hoàn toàn đối lập ông. Tổng thống mới là Warren G.Harding, người bị coi là một trong những lãnh đạo tệ nhất của nước Mỹ. Trong một chuyến vi hành, Harding bị chết vì đau tim ngay trong phòng tại khách sạn Palace.

1940: Một trong những Tổng thống được lòng dân Mỹ nhất, người đắc cử Tổng thống tới 4 lần chính là Franklin Delano Roosevelt. Năm 1940, ông tái đắc cử lần thứ 3. Nhưng không lâu sau đó, khi được bầu làm Tổng thống lần thứ 4, Roosevelt đã qua đời vì chứng phình mạch. Kể từ khi tái cử Tổng thống nhiệm kỳ 4 vào năm kết thúc bằng số 0-1940, cái chết của nhà lãnh đạo này được coi là một phần của lời nguyền Tecumseh.

1960: Vị Tổng thống trẻ nhất của nước Mỹ John F.Kenedy đắc cử năm 1960 trong một cuộc bầu cử sít sao nhất từ trước tới nay. Ngày 22/11/1963, ông bị bắn ở Dallas . Ủy ban Warren đã buộc tội Lee Harvey Oswald là thủ phạm vụ ám sát. Tuy nhiên, nhiều người tin rằng Oswald chỉ là vật hiến tế cho một trong những âm mưu nổi tiếng nhất trong thế kỷ 20.

Ngoại lệ hiếm

Vị Tổng thống đầu tiên phá bỏ lời nguyền chính là Ronald Reagan, đắc cử năm 1980. Tuy nhiên, dư luận về chuyện này rất khác nhau. John Hinckley đã bắn Tổng thống Reagan 69 ngày sau khi ông nhậm chức. Vết thương rất nặng và các bác sĩ nói Tổng thống có thể mất mạng.

Nhiều người cho rằng Tổng thống Reagan thoát nạn nhờ vợ – bà Nancy , một người bị ám ảnh bởi lời nguyền và khá mê tín.

Có một bí mật lưu truyền trong Nhà Trắng rằng tất cả các cam kết và nghị định thư mà Tổng thống Reagan phê chuẩn đều được thực hiện theo sao và thuật chiêm tinh. Các chuyến thăm chính thức, nghị định thư hay tiếp đón đều được tổ chức theo thuật chiêm tinh.

Thời đó, Đệ nhất phu nhân Nancy đã tổ chức những buổi cầu nguyện tập thể cầu cho chồng thoát nạn. Buổi lễ này có đông đảo người Mỹ tham gia, gồm cả người Mỹ bản địa (người da đỏ). Người ta cho rằng việc này đã phá bỏ được lời nguyền. Tuy nhiên, cũng có người tin rằng lời nguyền đã ứng nghiệm khi cựu Tổng thống Reagan qua đời vì bệnh Alzheimer – vốn phát tác từ vết thương cũ.

Lời nguyền có ứng với TT Bush ?

Câu trả lời chỉ có thể sáng tỏ vào ngày 20/1/2009 khi Tổng thống Bush – đắc cử năm 2000, trao lại trách nhiệm lãnh đạo nước Mỹ cho người kế nhiệm.

Ông Bush từng thoát chết trong vụ mưu sát tại Grudia. Trong khi người đứng đầu nước Mỹ đang có bài phát biểu, Vladimir Arutina đã ném quả lựu đạn từ một nơi cách 20m, nhưng do trục trặc nên lựu đạn không nổ.

Các bác sĩ cũng khẳng định rằng sức khỏe ông Bush rất tốt nên khả năng ông qua đời vì bệnh tật trong vòng 2 năm tới là rất thấp.

Mặc dù vậy, ngay cả những người chưa bao giờ biết đến lời nguyền Tecumseh cũng đều thừa nhận rằng khả năng ông Bush bị ám sát là khá cao.

Xuân Mai post (Theo Hoài Linh – VNN)

VĂN HÓA VĂN NGHỆ (23)

NHẠC SĨ Y VÂN

TÌNH KHÚC NHƯ

NHÂN CHỨNG KỶ NIỆM

Tiếp theo bản tin : VĂN HÓA VĂN NGHỆ (21)

Mời bạn bấm vào đường dẫn trên.

Nói tới đời thường của cố nhạc sĩ Y Vân, tôi nghĩ không ai có thẩm quyền hơn người bạn đời thứ hai, người sau cùng, chia sẻ buồn vui với ông mấy chục năm thăng trầm; nhất là những năm tháng sau biến cố tháng 4/1975. Đó là bà Minh Lâm. Hơn một lần bà tâm sự rằng :

“Nhiều người thêu dệt Y Vân thành một con người đa tình, trăng hoa. Là vợ chồng, mấy mươi năm đầu gối tay ấp nên tôi rất hiểu nhà tôi. Anh ấy là một người đàng hoàng, có gì cũng thật thà kể với vợ (kể cả những việc sâu kín như trường hợp lấy nghệ danh Y Vân). Anh ấy rất có hiếu với mẹ và thương yêu vợ con.

“Thời gian sau năm 1975, Y Vân tham gia Đoàn ca nhạc Hương Miền Nam, rồi nhận viết nhạc cho nhiều nguồn : phối nhạc cho Saigon Audio, viết nhạc phim, nhạc nền cho sân khấu… Anh làm việc cật lực bất kể ngày đêm. Ban trưa, nhìn anh xoay trần viết nhạc dưới mái tôn thấp nóng hầm hập, thấy thương vô cùng. Trời thương, nên giai đoạn đó anh được ‘đặt hàng’ dồn dập, có thể nói là ‘ăn nên, làm ra’, nhờ đó mà gia đình chúng tôi xây lại được căn nhà tạm gọi là ngăn nắp, nhưng anh làm ra cho mẹ con chúng tôi hưởng, bởi chỉ một năm sau thì anh mất…” (6)

Kể lại phản ứng của thân mẫu nhạc sĩ Y Vân / Trần Tấn Hậu, người đàn bà không đi thêm bước, dù còn trẻ khi người chồng qua đời (Bà ở vậy nuôi con. Nhờ thế, chúng ta có được ca khúc bất tử “Lòng Mẹ”), người vợ tấm cám của cố nhạc sĩ Y Vân cho biết : “Dạo ấy, đứng trước quan tài của anh đang được quàn tại Hội Âm nhạc TP. Mẹ chồng tôi không hề khóc một tiếng. Có lẽ tất cả nước mắt để khóc thương con, bà cụ đã âm thầm nuốt ngược vào trong. Chúng tôi nghe bà cụ nói : “Người đời thường bảo : Con ‘đi’ trước mẹ là bất hiếu, nhưng mẹ chẳng trách con đâu bởi con đã làm tròn chữ hiếu ngay từ lúc viết xong bài ‘Lòng mẹ’… Con đi trước mẹ nhưng không nợ mẹ, vì mẹ nuôi con 20 năm nhưng con đã nuôi mẹ đến 40 năm…’

“10 tháng sau, Mẹ nhạc sĩ Y Vân mất.” (7)

Về âm nhạc của cố nhạc sĩ Y Vân không chỉ có “Lòng mẹ.” Ông còn để lại cho đời mảng tình khúc, phong phú, rậm rạp như một khu rừng tâm tưởng thăng hoa.

Tôi hằng nghĩ, một tình khúc khi đạt được cả hai yếu tố : Giai điệu đẹp, và ca từ ý nghĩa hoặc, tâm lý thì, những tình khúc ấy sẽ có một vị trí, một chỗ đứng như những kỷ niệm bất hoại trong nhiều cuộc tình đôi lứa. Như những hạt giống gieo trồng an ủi những tâm hồn cô độc. Chúng như người bạn đồng hành, như nhân chứng đi theo tới cuối đời kẻ nào từng có đôi lần hát lên trong ánh sáng yêu thương hay, bóng tối đoạn lìa.

Theo tôi, hầu hết tình ca Y Vân / Trần Tấn Hậu đều có được tính chất đặc biệt này.

Nhìn lại, chúng ta thấy hàng trăm tình khúc của họ Trần chẳng những được đón nhận một cách nồng nàn ngay khi tác phẩm mới phổ biến mà, chúng còn được yêu quý trải qua nhiều thế hệ – Hiểu theo nghĩa chúng đã ở lại bền lâu trong ký ức.

Những tình khúc của Y Vân như “Đồi thông,” Ngăn Cách,” “Đêm giã từ (phổ thơ Thể Vân), “Thôi,” “Đừng lừa dối nhau,” Người em sầu mộng” (phổ thơ Lưu Trọng Lư),  “Hãy yêu tôi” (phổ thơ Đinh Hùng), “Những bước chân âm thầm (phổ thơ Kim Tuấn) v.v…dù với nội dung nào, cũng đều như những nhân chứng của kỷ niệm. Như người bạn thân thiết nhất của những kẻ lạc lõng, cô đơn!

Bên cạnh đó, ca khúc “Ảo ảnh” của Y Vân, sớm được nhiều giai thoại (hay huyền thoại) tìm đến, vây quanh !

Tôi không biết “Ảo ảnh” với những chi tiết được báo Thanh Niên, cột mục “Nghệ thuật yêu” đăng tải, có nằm trong điều mà, người bạn đời của cố nhạc sĩ Y vân từng than phiền là “thêu dệt” (?) – Nhưng, cách gì thì, dưới đây cũng là một giai thoại làm mủi lòng nhiều người :

 “Y Vân lập gia đình năm 1963, lúc này anh đã là trưởng ban nhạc Y Vân danh tiếng ở Sài Gòn (cùng với sự cộng tác của các ca sĩ Thanh Thoại, Tuyết Mai, Mai Hương…). Một buổi trưa năm 1965, từ đài phát thanh, Y Vân dắt xe máy ra cổng chuẩn bị về thì có một chú bé chạy đến mời anh vào quán nước cạnh đấy. Nơi đây, một thiếu nữ khá xinh ngồi chờ sẵn, chú bé giới thiệu đó là chị của mình, tên Huyền, đang là sinh viên Ban Việt-Hán, Đại học Văn khoa Sài Gòn. Huyền có đôi mắt to, đen và buồn. Trên bâu áo của nàng có một mảnh tang đen. Y Vân cố nhớ lại xem mình đã gặp cô gái này ở đâu chưa, nhưng chịu thua. Theo phép xã giao anh ngỏ lời chia buồn. Nhưng cô gái lắc đầu, buồn bã : ‘Em đâu có người thân nào qua đời. Mảnh tang này là dành cho mối tình của em đó !’. Y Vân sượng sùng, anh cũng manh nha đoán rằng phải có một điều bí ẩn gì đó mới khiến cô gái này vượt qua nỗi e dè thường thấy của phái nữ, không ngại điều thị phi để đánh bạo gặp anh, nhưng cũng khó mở miệng để hỏi, đành chỉ ngồi nói chuyện bâng quơ một lát rồi viện cớ cáo từ.

“Hai hôm sau, Y Vân tìm đến nhà Huyền theo địa chỉ cô đã cho. Đó là một căn nhà vách gỗ đơn sơ nhưng ngăn nắp, sạch sẽ nằm bên chiếc ao rau muống trong con hẻm đường Trương Minh Giảng (gần chợ Phú Nhuận bây giờ). Huyền không có nhà nhưng cậu em trai đã thổ lộ với chàng nhạc sĩ những điều thầm kín của chị mình. Chú bé cho biết họ là con của một địa chủ tiếng tăm ở Long An, được gia đình gửi lên Sài Gòn trọ học. Huyền rất thích âm nhạc và ca hát, đặc biệt là thích nhạc của tác giả Y Vân. Những cuốn vở học trò của Huyền cũng được cô kẻ khung, chép nhạc (hầu hết là nhạc của Y Vân). Tiền gia đình gửi lên để Huyền hoàn tất chương trình cử nhân Văn khoa lại được nàng đem đóng học phí vào… lớp dạy đàn Tây Ban cầm. Suốt ngày Huyền chỉ ôm đàn và hát nhạc Y Vân.

“Việc học bê trễ, mấy năm liền chẳng đậu thêm được chứng chỉ nào. Thấy vậy, ông bố đã bắt hai chị em về quê, ép gả Huyền cho một anh trung úy hải quân. Huyền quyết liệt từ chối. Bẽ mặt với nhà trai, ông bố đăng báo từ con. Huyền đau khổ, trút tâm sự với em trai rằng đã yêu nhạc sĩ Y Vân. Sau khi bàn tính, hai chị em trốn nhà lên Sài Gòn, Huyền phải tìm việc làm để mưu sinh và nuôi hy vọng có ngày sẽ được cùng người trong mộng kết tóc se tơ. Sau nhiều lần dò hỏi, biết chắc nhạc sĩ Y Vân đã có gia đình, Huyền làm một mảnh tang đen, luôn đeo nó trên bâu áo…” (8)

Tác gỉa bài báo kết luận, ca khúc “Ảo ảnh” ra đời từ chuyện tình tuyệt vọng ấy.

Thêu Dệt Và, Sự Thật 

Tôi vẫn nghĩ, cái giá mà một người nổi tiếng phải trả, chính là những tin đồn, những dư luận xấu / tốt thêu dệt bên cạnh hào quang của người ấy. Nhất là với các nghệ sĩ ở lãnh vực âm nhạc và trình diễn.

Mức độ tin đồn, thêu dệt xấu / tốt thường tỷ lệ thuận với tiếng tăm mà nghệ sĩ ấy đạt được.

Trước đây nhiều năm, khi công nghệ thông tin chưa phát triển, tin đồn hoặc những thêu dệt quanh đời riêng một nghệ sĩ nổi tiếng, chỉ được phổ biến bằng phương tiện truyền tai. Người này kể với người kia những điều mà họ hãnh diện cho rằng chỉ mình họ biết được!

Nếu những dư luận mang nhiều tính “hư cấu” kia, có được phổ biến trên mặt báo thì, cách gì nó cũng vẫn bị giới hạn với số lượng ấn bản tờ báo đó bán được.

Nhưng từ khi internet ra đời thì, đây là một biến cố lớn của sinh hoạt nhân loại. Hiểu theo cả hai nghĩa tốt và xấu; đúng và sai…

Thí dụ, ở một nơi xa xăm hay một quốc gia nào đó, thiên tai xẩy ra; tức thì, chỉ ít phút sau, mọi người đều biết. Thay vì chúng ta phải đợi, để biết sau nhiều giờ, do báo chí, truyền thông loan tải. Tiếp theo mức độ nhanh nhậy này, là sự lên tiếng chia buồn, tiếp tay cứu trợ nạn nhân, giúp đỡ của các quốc gia khá; tùy theo hoàn cảnh, phương tiện của từng quốc gia ấy. Sự liên đới mang tính tương thân, tương ái này, theo tôi, là một hành động rất ý nghĩa của cộng đồng nhân loại. Từ đó, dù bị bất hạnh bởi thiên tai, các nạn nhân cũng được an ủi, cảm thấy ấm áp phần nào khi họ thấy rõ mình không bị lãng quên.

Nhưng mặt trái của sự nhanh nhậy kia, lại là tính chất vô trách nhiệm: Không thể kiểm chứng những tin tức, bài vở thuộc loại tin đồn, thêu dệt chung quanh đời riêng của các văn nghệ sĩ – Một khi loại tin tức, bài vở ấy được phổ biến trên on-line, tức không-gian-ảo.

Lại nữa, những nhân vật bị / được nói tới, hay những người có liên hệ hầu như không có thói quen lên tiếng đính chính, hoặc chỉnh sửa những dữ kiện thiếu trung thực.

Vì thế, những người muốn nghiên cứu, viết về một tác giả nào đó, vào on-line để tìm thêm tin tức như tiểu sử, sự nghiệp, đời thường một nhân vật, không có cách nào để kiểm chứng đúng / sai – Ngoài sự chọn lựa một trong hai điều, tùy mục đích người viết là:

– Lọc ra những gì được coi là tốt đẹp, hoặc ngược lại về nhân vật mình định viết…(9)

Với nhạc sĩ Y Vân, ông không chỉ nổi tiếng với hàng trăm ca khúc trữ tình mà, còn là tác giả ca khúc “Lòng mẹ” một ca khúc mà tôi muốn được ví như một thứ “quốc ca của tình mẫu tử” thì, tin tức, bài viết liên quan tới ông, từ tiểu sử, sự nghiệp sáng tác tới sinh hoạt đời thường của ông, đương nhiên được nhiều người ghi nhận. Thậm chí, có tác giả vì qúa yêu mến ông (?) mà, tạo thêm những “huyền thoại” bao quanh đời thường của ông.

Trước những tin tức, bài vở không đúng hoặc, mang tính “thêu dệt” phổ biến trên các trang mạng, sau khi nhạc sĩ Y Vân từ trần, thân nhân (tôi muốn nói vợ, con) của tác giả “Ảo ảnh” đã không hề có lời đính chính, giải thích.

Tuy nhiên, may thay, sau loạt bài viết về cố nhạc sĩ Y Vân / Trần Tấn Hậu, chúng tôi đã nhận được những tin tức chính xác, rất hữu ích cho những ai muốn nghiên cứu sâu xa về đời riêng của tác giả “Biển sầu.”

Số lượng tin tức quý báu mà chúng tôi vừa nhắc tới, được cung cấp bởi bà Như Hường, người bạn đời thứ nhất của cố nhạc sĩ Y Vân / Trần Tấn Hậu. (10)

Từ bà Như Hường, tương lai, những ai muốn nghiên cứu hay viết tiểu sử về cuộc đời tác giả “quốc ca của tình mẫu tử” sẽ có những dữ kiện xác thực sau đây :

Năm 1959 (không phải 1962 hay 1963), nhạc sĩ Y Vân chính thức kết hôn lần thứ nhất với bà Như Hường.

Một năm sau, năm 1960, họ có với nhau, con trai đầu lòng. Sau đó, là 3 ái nữ.

Những ca khúc nổi tiếng, còn lưu truyền tới bây giờ của cố nhạc sĩ Y Vân / Trần Tấn Hậu như “Ảo ảnh,” “Ngăn cách” v.v.… được họ Trần sáng tác trong thời gian chung sống với người bạn đời thứ nhất của ông.

Riêng “Biển sầu” và “Người vợ hiền” là hai ca khúc nhạc sĩ Y Vân viết cho bà Như Hường, như một bày tỏ cụ thể tình yêu, lòng trân trọng của ông dành cho người bạn đời thứ nhất của ông.

Hơn mười năm sau, tức năm 1970, với sự hy sinh rất hiếm xẩy ra trong thời hiện tại, bà Như Hường đã đi cưới vợ cho nhạc sĩ Y Vân.

Theo tiết lộ của Như Hường thì người vợ thứ hai của cố nhạc sĩ Y Vân, tên Minh Lâm – – Là em con cô, con cậu với bà Như Hường. (Thân phụ của bà Minh Lâm là em trai của thân mẫu bà Như Hường.) Cảm thông trước mối tình mãnh liệt của em gái, bà Như Hường đã có quyết định trên, mặc dù bà gặp nhiều phản đối trong gia đình. Điều đáng nói thêm, hai chị em rất hòa thuận.

Nhạc sĩ Y Vân ăn ở với người bạn đời thứ hai của ông, có thêm 4 người con. Cũng gồm có 1 trai và 3 gái. Nói cách khác, cố nhạc sĩ Y Vân có tất cả 8 người con, gồm 2 trai 6 gái.

Bà Như Hường còn xác nhận, bản chất cố nhạc sĩ Y Vân rất đứng đắn. Bà nêu thí dụ chuyện cô Huyền yêu nhạc sĩ Y Vân, từng được đề cập trên báo Thanh Niên, cột mục “Nghệ thuật yêu,” sau đấy phổ biến trên Internet, là một trong những “thêu dệt” do người viết vì quá yêu mến (?) nhạc sĩ Y Vân, nên đã gán ghép cho ông !.

Để kết luận, tôi nghĩ, tuy thiếu thời, nhạc sĩ Y Vân / Trần Tấn Hậu không được thong thả như những người bạn cùng trang lứa với ông – Nhưng bù lại, với lòng hiếu đễ, bản chất nghiêm túc và, tài năng thiên phú, tác giả “Lòng mẹ,” xứng đáng nhận được tình yêu thương, sự hy sinh cao cả mà, người bạn đời thứ nhất, bà Như Hường, đã dành cho ông.

Du Tử Lê (Calif. Oct. 2012.)

Chú thích: (6), (7): Nguyễn Việt, bđd.(8): Nguồn đd.

(9): Cá nhân tôi, trong hầu hết các bài viết của mình, những ngày gần đây, cũng nằm trong số người này. Vì không thể kiểm chứng tin tức được phổ biến trên on-line / không-gian-ảo, nên tôi luôn ghi chú rõ tư liệu được trích dẫn từ đâu, cũng như danh tánh trang chủ (web-site) tức nguồn của những bài vở ấy.

Trần Văn Tư post

BÍ ẨN LĂNG SỌ Ở HUẾ

Ai ở xứ Huế quan tâm đến chuyện hưng vong của triều Nguyễn đều biết di tích lịch sử Lăng Sọ gắn liền với nhiều chuyện ly kỳ nhuốm “mùi” binh đao khốc liệt và đậm chất huyền linh. Lý lịch của Lăng Sọ đậm nét của sự hận thù, toát đạo hiếu nghĩa của tình phụ tử và tính khảng khái của bậc quân vương “ơn đền – tội phạt”.

Lăng Sọ – đúng như tên gọi nghĩa đen của nó, là nơi an táng sọ người. Dân gian đồn rằng chủ nhân của chiếc đầu lâu được an táng ở cổ mộ từng bị nhà Tây Sơn quật mồ là con của một vị chúa và là thân phụ của một vị vua. Một người quyền cao chức trọng như thế cớ sao chỉ được chôn cất phần đầu, còn phần thi thể thì nơi đâu, vì sao lại có sự lạ như vậy ?!

Vị quân vương bạc phận

Từ nội thành Huế, đi lên hữu ngạn sông Hương khoảng 8km người ta sẽ gặp khu lăng mộ bề thế nằm ven đường, ẩn dưới rừng thông đại thụ với bảng chú giải “Lăng Cơ Thánh”. Quốc sử triều Nguyễn giải thích rằng “Cơ” có nghĩa nền tảng và “Thánh” là đạo đức thánh thiện. Khi được ghép với nhau, cụm từ Cơ Thánh hàm ý khó lòng lay chuyển đạo đức thánh thiện của các vị hoàng đế triều Nguyễn.

Lăng Cơ Thánh được dân gian quen gọi là Lăng Sọ. Một vài chú dẫn của các bậc cao niên và cả trong chính sử triều Nguyễn cho chúng tôi biết rằng chủ nhân của Lăng Sọ chính là Hưng Tổ Hiếu Khang Hoàng đế, con trai thứ 2 của Chúa Võ Vương, thân phụ của Vua Gia Long, người sáng lập vương triều Nguyễn với 13 đời vua trị vì trong 143 năm, mà vị vua cuối cùng là Hoàng đế Bảo Đại.

Thời gian và những biến chuyển của thời cuộc đã bào mòn, làm hư hại khá nhiều công trình ở Lăng Sọ nhưng không vì thế mà hủy đi vẻ hùng tráng và sự thơ mộng ở nơi an nghỉ ngàn đời của thân phụ vị vua vốn nổi tiếng về tài thao lược và ý chí phục quốc.

Lần theo sử liệu, mới biết năm 1765, khi Chúa Nguyễn Phúc Khoát băng hà (Võ Vương, vị chúa Nguyễn thứ 8).Lẽ ra theo di chiếu tiên vương thì người con trai thứ 2 là Nguyễn Phúc Luân nối ngôi. Nhưng quyền thần lúc bấy giờ là tể tướng Trương Phúc Loan cùng một số gian thần lộng quyền sửa đổi di chiếu, giam Nguyễn Phúc Luân vào ngục và lập người em nhỏ tuổi hơn là Nguyễn Phúc Thuần lên ngôi để dễ bề giám sát (lên ngôi lúc 12 tuổi, bị quân Tây Sơn sát hại năm 1777).

Tháng 10/1765, vì lo buồn và vì bạo bệnh nên Nguyễn Phúc Luân qua đời ở phủ đệ, hưởng dương 33 tuổi, để lại 10 người con (6 nam, 4 nữ), trong đó có Nguyễn Ánh, tức Vua Gia Long. Một số tư liệu nói rằng trong số 6 hoàng nam của Nguyễn Phúc Luân thì có 4 người bị quân Tây Sơn giết, một người con chết lúc nhỏ, chỉ hoàng nam cuối cùng là Nguyễn Ánh còn sống. Khi lên ngôi, Gia Long đã suy tôn cha là Hưng Tổ Hiếu Khang Hoàng đế.

Lăng Sọ như những lăng vua chúa ngày trước tọa lạc trên đồi cao, lưng tựa núi, trước mặt có sông Hương làm “tự thuỷ”, hai bên có núi chầu làm thế “tay ngai” (tả long hữu hổ). Khu vực tẩm (nơi chôn chiếc sọ Chúa Nguyễn Phúc Luân) được bao bọc bởi tường thành khổng lồ, quy mô hoành tráng với nhiều công trình nhưng phần lớn đã bị chiến tranh hủy hoại, chỉ còn lại khu vực chính, nơi có nấm mồ hình vuông, 3 tầng chôn sọ Chúa Nguyễn Phúc Luân vẫn nguyên vẹn.

Trước và sau mộ đều có bia đình đắp nổi hình rồng 5 móng, biểu hiện của bậc quân vương. Sự tài hoa của người thợ ngày trước giúp người ghé thăm nhận thấy con mãnh long này rất đặc biệt, nó có vẻ già nua, u uất nhưng lại toát quyền uy hơn những mãnh long tại các lăng vua Khải Định, Tự Đức, Thiệu Trị…

Sử nhà Nguyễn ghi Lăng Thoại Thánh được xây từ năm 1765, 25 năm sau lăng bị quân Tây Sơn quật, đến năm 1808 được Vua Gia Long cho xây lại ngay vị trí cũ. “Lăng Hưng Tổ Hiếu Khang Hoàng đế gọi là Lăng Cơ Thánh, ở núi Hưng Nghiệp, phủ Thừa Thiên. Bảo thành cao 6 thước 3 tấc, chu vi 28 trượng, xây gạch, trước mở một cửa, còn đằng trước làm bái đình hai cấp, tả hữu có lan can, phía đông làm điện Canh Y, phía tây làm Thần Khố, đều ba gian” – trích sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ do nội các triều Nguyễn biên soạn.

Trong gió lộng chiều tà, thả mình dưới gốc thông đại thụ hơn 200 năm tuổi với thân rễ u nần và thắp nén hương cho ngôi cổ mộ khổng lồ vốn dĩ chỉ có chiếc sọ của thân phụ Vua Gia Long, không khí liêu trai, có phần buồn thảm. Tiếng thông reo lao xao trong gió chiều như muốn kể lại câu chuyện buồn của vị “con chúa cha vua” lúc sống gặp tai ương, về trời lâm khổ nạn để rồi mộ phần bị bươi quật, xương cốt bị ném xuống sông, nỗi buồn đau đến khôn tả!

Chính sử kể rằng : năm 1790, tướng Tây Sơn là Nguyễn Văn Ngu đã cho quân quật mồ, bới mộ và bốc xương cốt của vị chúa đã mất ném xuống khúc sông Hương đối diện lăng. Đang lúc đó thì tướng Ngu hay tin tư dinh của mình bị bốc cháy nên bỏ dở việc kéo quân về dập lửa.

Nhân cơ hội ấy, một ngư dân làng Cư Chánh vốn có tình cảm với vị chúa bạc phận đã cùng các con nhảy xuống mò mẫm dưới sông sâu và vớt được hài cốt của vị chúa, chôn cất cẩn trọng. Năm 1801, tiến công vào Huế, nhận được tin ấy, Vua Gia Long đã chọn ngày lành tháng tốt an táng xương cốt thân phụ vào chỗ cũ và đến năm 1808 (có tư liệu ghi năm 1806) thì tiến hành xây dựng lăng mộ, đặt tên là Thoại Thánh, tức Lăng Sọ ở khu vực hiện tại.

Hành trình nhận cốt nhục của vua Gia Long

Quanh chuyện Chúa Nguyễn Phúc Luân bị quật mồ, dân gian lưu truyền truyền thuyết khác. Điều này được ông L.Cadière (Hội truyền giáo hải ngoại Paris) ghi chép vào năm 1923 : “Xương cốt của chúa đã bị nhà Tây Sơn ném xuống sông, ngay trước mặt lăng hiện nay. Vào một đêm nọ, một ngư dân tên Nguyễn Ngọc Huyên khi kéo chiếc vó của mình lên thì thấy trong vó có một sọ người. Người ngư dân ném cái xương sọ đi xa, lần thứ 2 xương sọ lại xuất hiện trước chiếc vó của mình. Người ngư dân run sợ ném chiếc sọ đi và khấn thầm “nếu đây là chiếc sọ của ngài nào có quyền lực linh thiêng thì xin trở lại trong vó của tôi”.

Và lần thứ 3, chiếc xương sọ lại xuất hiện. Thế rồi người ta cho rằng đó chính là xương sọ của hoàng đế và để nhận ra điều này, Vua Gia Long đã rạch cánh tay cho một giọt máu nhỏ lên xương sọ, ngay tức khắc giọt máu được chiếc xương khô hút lấy một cách khao khát, điều này đã minh thị tình máu mủ của cha con không thể nghi ngờ gì nữa”.

Rời khu vực nơi an táng chiếc sọ của Chúa Nguyễn Phúc Luân, chúng tôi tiến về phía trước, lần về phía bờ sông, những mong bắt gặp hình ảnh của hơn 200 năm trước, khi Vua Gia Long (sau khi dẹp nhà Tây Sơn, chúa Nguyễn Ánh lên ngôi vua, lấy niên hiệu Gia Long) cùng triều thần long trọng lập hương án ở khu vực Lăng Sọ rồi đích thân vua cầm dao rạch tay trích lấy máu để thử mối liên hệ máu mủ giữa mình và chiếc sọ người được ngư dân Nguyễn Ngọc Huyên tìm thấy.

Để rồi khi thấy chiếc sọ hút máu một cách khát khao, vị quân vương bật khóc trong sự vỡ òa của triều thần. Câu chuyện đậm chất liêu trai, huyền bí được ghi chép trong sử sách triều Nguyễn, được lưu truyền trong nhân gian như muốn truyền gửi thông điệp về tình phụ tử, về đạo làm con, bất kể người đó là vị vua đứng đầu thiên hạ nhưng luôn bỏng cháy nỗi hoài nhớ bóng hình người cha đã khuất đến lúc chết vẫn còn gặp sóng gió, tai ương!

Bên bờ sông Hương trước lăng Thoại Thánh, chúng tôi cứ thế miên man trong những ghi chép của người xưa về thời khắc Vua Gia Long nhận ra di cốt của phụ thân. Chuyện kể rằng sau khi làm lễ an táng long trọng chiếc sọ của thân phụ, Gia Long với niềm tin dưới đáy sông trước Lăng Sọ còn xương cốt của đấng sinh thành đã ban lệnh lấp toàn bộ hữu ngạn trước mặt lăng, xem đó là nấm mồ và bày biện hương án cúng tế linh đình, trang trọng.

Khi mọi việc hoàn tất, Vua Gia Long đã cho đại thần mời gặp ông Nguyễn Ngọc Huyên, người tìm ra chiếc sọ của thân phụ rồi ban thưởng trọng hậu, phong tước cho ông này cùng các con cháu. Khi ông Huyên qua đời, triều đình đã ban đặc ân, cho lập miếu thờ nằm bên hông Lăng Sọ.

Tính từ thời điểm mộ Chúa Nguyễn Phúc Luân bị tướng Tây Sơn quật mồ đến nay đã 222 năm, ngần ấy thời gian với quá nhiều biến chuyển của thời cuộc làm thay đổi vận mệnh của đất nước đủ để khép lại nhiều câu chuyện của một thời quá vãng. Nhưng với Lăng Sọ, những hiện thực lịch sử khốc liệt, ly kỳ, huyền bí ngày nào vẫn được người dân xứ Huế nằm lòng, lưu truyền từ đời này sang đời khác.

Hôm đến viếng Lăng Sọ, thật bất ngờ khi chúng tôi thấy ngôi cổ miếu nằm bên hông lăng cổ kính, ẩn dưới mấy gốc đại thụ cội rễ u nần. Hỏi ra mới biết đấy là miếu thờ người ngư dân nhờ vớt được sọ của thân phụ Vua Gia Long mà được phong quan, khi chết được thiên tử phá lệ cho lập miếu thờ cạnh mộ phần thân phụ. Ngôi miếu cổ xây bằng bê-tông, mái xuôi hình chữ V úp ngược, bên trong hương án có hình ảnh kỳ lạ, đó là hình con hạc cách điệu trong thế vờn mây sống động.

Một số tư liệu của người Pháp khi đến quan chiêm tại đây ghi rằng cái am ấy và những cổ thụ là nơi trú ẩn của các hiện tượng huyền hoặc: “Vào ban đêm, những nữ yêu tinh ẩn trú thường xuất hiện dưới ánh trăng, mang áo quần trắng và đầu bịt một cái khăn xanh nhảy múa ở giữa sân lớn lát gạch trước lăng”. Ấy nhưng theo các bậc cao niên đang sống quanh khu vực Lăng Sọ, sở dĩ có lời đồn ấy nhằm tránh việc khu lặng mộ thân phụ Vua Gia Long bị kẻ xấu quấy rối, làm mất tính thiêng linh.

Các bậc cao niên cũng kể rằng thời cha ông mình có truyền lại để canh giữ lăng, triều đình lập nên đội quân hộ lăng, biên chế quan đại thần nhị phẩm cả văn lẫn võ ngày đêm túc trực không cho bất kỳ ai đến gần. Và để cho nơi an nghỉ ngàn đời của vua cha thêm phần bình yên, tươi lạc, đích thân Vua Gia Long và sau đó là Vua Minh Mạng đã ban chiếu chỉ, đôn đốc việc trồng thông khắp khu vực này cũng như cúng nhiều vật quý như đồ tự khí bằng vàng, bạc, đồng, trang trí cành vàng lá ngọc quanh khu tẩm (mộ).

Tồn tại đến nay đã hơn 200 năm, qua bao biến chuyển của thời cuộc, những đồ thờ tự quý giá ở Lăng Sọ không còn nữa nhưng dù sao, sự tồn tại của ngôi lăng, nơi yên nghỉ của vị “con chúa cha vua” với tường thành vững chãi qua trăm năm vẫn bao bọc khu tẩm có hình dáng lạ kỳ, và đặc biệt là những gốc thông đại thụ vững chãi, xanh mướt cũng đủ để an ủi thế nhân lắm rồi. Nhất là với những ai quan tâm đến triều Nguyễn xưa trong giai đoạn đất nước lâm vào cảnh nội chiến khốc liệt, mà cuộc chiến giữa Vua Gia Long và Vua Quang Trung là minh thị đậm nét nhất !

Đọc thêm :

Theo Nguyễn Phước Tộc giản yếu, 6 công tử con Chúa Nguyễn Phúc Luân gồm có :

1/- Nguyễn Phúc Cao (thụy phong Tương Dương Quận công),

2/- Nguyễn Phúc Đồng (thụy phong Hải Đông Quận Vương),

3/- Nguyễn Phúc Ánh (Vua Gia Long),

4/- Một người con mất lúc còn nhỏ không rõ tên,

5/- Nguyễn Phúc Mân (thụy phong An Biên Quận công) và

6/- Nguyễn Phúc Điền (thụy phong Thông Hóa Quận Vương).

4 công nữ gồm : Ngọc Tú, Ngọc Đào, Ngọc Toàn và Ngọc Du (lấy Võ Tánh, có công giúp Nguyễn Ánh chống nhà Tây Sơn, tuẫn tiết tại thành Bình Định vào năm 1801, được Vua Gia Long sau khi chính thức lập nên triều Nguyễn truy phong Dực vận công thần Thái úy Quốc công). (Theo An ninh Thế giới)

Yên Huỳnh post

Muốn con làm nghề gì?

Một cập vọ chồng trẻ đi hưởng tuần trăng mật, trước khi đi mẹ cô gái  dặn dò hai người :

– Nếu “lúc đó” mà làm từ từ đứa bé sau nầy làm Kỹ Sư, nhanh hơn  thì làm Bác Sĩ, còn nếu  nhanh và mạnh sau nầy nó sẻ đạp xích lô-,

Cả hai vợ chồng đều mưốn đứa trẻ sau nầy làm Kỹ Sư, nên trước khi lên giường nguời chồng còn nhắc nhỡ :

– Em ơi Kỹ Sư nhé. nhưng được 10 phút cô vợ rên rĩ :

– Thôi kệ cho nó làm Bác Sĩ đi Anh,

Nhưng chỉ 5 phút sau, anh chồng la lên :

– Đễ Anh cho nó đạp xích lô thấy mẹ nó luôn.

Chim

 Một chị nhà quê vào đồn công an đăng ký kết hôn, chị cán bộ công an hỏi :

– Lấy chồng lần đầu hả?

Chị nhà quê :

– Dạ lần đầu,

Chị cán bộ hỏi :

-Tên gì, ở với nhau từ bao giờ ?

Chị nhà quê đáp :

– Dạ  Lê thị Chim, mới ở với nhau tối hôm qua.

Chị cán bộ:

– Mới ở với nhau tới hôm qua à ? Chim có ê không ?

Chị nhà quê đỏ mặt ấp úng không nói gì, chị cán bộ bực mình gằn giọng :

-Tôi hỏi chị, chim có ê không ?

Chị nhà quê thẹn thùng, thỏ thẻ :

– Dạ lúc đầu cũng hơi ê ê.

Chị cán bộ bực tức quát lên :

– Tôi hỏi Chị tên chim không có chử ê hay là tên chim có chử  ê,? mắc mớ gì đến lúc đầu với lúc sau, vớ vẩn.

Bốn đời chồng vẫn còn ‘zin’

Một cô gái đi thi hoa hậu, đến phần thi vấn đáp, ban giám khảo nhìn vào hồ sơ thì thấy ghi bốn đời chồng nhưng vẫn còn “zin”. Ban giám khảo thấy vậy liền hỏi : “Tại sao cô 4 đời chồng rồi mà vẫn còn zin ?”

Cô gái trả lời :

– Lấy anh chàng đầu là một anh chàng công tác tại phòng điều tra xét hỏi nên cứ : “Giữ nguyên vẹn”, do vậy không làm ăn chi hết. Người chồng thứ hai là một nhà hùng biện nên : “Nói thì hay chứ không biết làm”. Người chồng thứ ba công tác tại viện bảo tàng nên : “Không rờ vào hiện vật”. Người chồng thứ tư công tác tại phòng kế hoạch nên chỉ: “Vạch ra rồi để đó chứ không làm tiếp”

Mỹ Nhàn post

VĂN HÓA VĂN NGHỆ (22)

TÂN ĐỊNH CỦA TÔI

Tôi có khá nhiều kỷ niệm đối với Tân Định ! Có bạn nào ở Tân Định không ?

Bích Vân

Tôi đi để lại đường xưa

Cùng bao kỷ niệm nắng mưa bên đời…

Chả hiểu tại sao nhưng hễ cứ nghe ai nhắc hoặc nói đến hai chữ Tân Định là tôi lại thấy lòng nao nao, xúc động một cách kỳ lạ. Không kềm được. Chỉ mới nghe đến hai chữ Tân Định không thôi là đã thấy cả một quãng đời thơ ấu thần tiên như hiện ra trước mắt với biết bao kỷ niệm vui buồn thân yêu, cả một thời mới lớn vô tư đầy mơ với mộng, và cũng cả … một thời “đổi đời” khốn đốn chật vật lúc nào cũng chỉ nghĩ đến cái ăn, cái mặc….

Bao  nhiêu  kỷ  niệm  ngày  xưa  đó

Đầy  ắp  trong  tôi  dìm  hơi  thở

Sắp  xếp  làm  sao  những  mến  thương

Cho  tròn  nỗi  nhớ  khung  trời  cũ .

Đã ở Saigon ai mà chả biết hoặc chưa từng đi ngang qua nhà thờ Tân Định ? Qua Hai Bà Trưng, con đường chính nối liền Phú Nhuận và… cứ thế đi thẳng tắp lên phố ? Đi thẳng ra chỗ tượng đức Trần Hưng Đạo ở bến Bạch Đằng, giang sơn của Hải Quân thì có lẽ chính xác hơn, nhưng phố Catinat và Bonard cũng đã nằm lẩn quẩn gần đâu đấy, chỉ cách có vài bước. Cái đất Tân Định của tôi có nhiều… thứ nổi tiếng lắm nhé. Rất rất nhiều thứ. Những nhân vật trứ danh của vùng quận nhất Tân Định nói chung, và khu Nhà Thờ của tôi nói riêng, thì… ối thôi hằng hà vô số, nhớ sao cho hết và kể sao cho xuể ? Một thí dụ nôm na thôi, tầm thường thôi, nhưng chắc chắn sẽ còn rất nhiêù người vào lứa tuổi sồn sồn như tôi khó mà quên cho được…

Chú Hòa (còn được gọi một cách thân mật là Chí Hòa) có cái xe đẩy bán sirop đá bào ở đầu cái hẻm đối diện với nhà thờ Tân Định. Những buổi trưa nắng gắt mà được sà vào dầm dầm khuấy khuấy một ly “đá nhận” thoang thoảng chút mùi chanh muối rồi chấm chấm mút mút từng muỗng đá bào có xịt xịt tí sirop mầu xanh mầu đỏ, thì cứ gọi là coi ông mặt trời như… nơ-pa, đã khát và mát ruột gì đâu !!!!

Lại nhớ hồi tôi còn đầu tắt mặt tối với cái quán café cóc (sau 75 ấy mà, buôn bán nhì nhằng chỉ mong kiếm đủ tiền đi chợ hằng ngày thôi, có mấy ai mà chẳng phải thế, như tôi, nhỉ ?) cũng ở ngay đầu hẻm, đã biết bao lần chú Hòa thương hại “giải vây” cho tôi vay tạm từng cục nước đá BGI để tôi phục vụ bán cà-phê “sữa đá” hay “đen đá” cho những người vừa tan lễ nhà thờ ùa vào hàng loạt… khiến tôi lính quýnh tíu tít pha pha chế chế luôn tay không kịp thở và cái thứ hàng gì tôi bày bán cũng hết sạch nhẵn, chỉ trong nhấp nháy, sau những giờ tan lễ ngày chủ nhật.

Cái quán cà-phê cóc của tôi thật ra thì chả có mấy người còn nhớ đến, nhưng nức tiếng lắm lắm cả Sài Gòn lẫn Chợ Lớn là (quán đàng hoàng) Café Thu Hương nằm gần ngã tư đèn xanh đèn đỏ Hiền Vương (đường Mayer cũ và bây giờ hình như là Võ thị Sáu thì phải). Ngày xưa, lúc đang còn trong thời kỳ nhắng nhố… sắp sửa thành người lớn, bọn ghiền ngồi cà-phê chúng tôi cứ phân vân không biết phải chọn cà-phê Văn Hoa Dakao hay Thu Hương Tân Định để được nghe những bài nhạc ngoại quốc “mới ra lò”, thịnh hành nhất, rô-măng-tic nhất… Văn Hoa thì nhạc hay, âm thanh hay và có mấy cô caissières yé yé xinh xẻo nhưng cà-phê lại chỉ tàm tạm thôi nên chúng tôi đóng đô Thu Hương thường hơn, vả lại những hôm lười đi xa, tôi chỉ việc băng qua đường là đã tới, gần xịt.

Gần xịt hơn nữa là cái quán bánh xèo Đinh Công Tráng rộn rịp từ xế xế chiều cho đến tối khuya, lúc nào cũng tấp nập người và xe. Nghe nói sau gần 40 năm rồi mà đến bây giờ vẫn còn tấp nập xe và người, cả ngày lẫn đêm nữa cơ đấy !

Đi quá thêm vài ba bước nữa là tới cái ngõ hẻm của nghệ sĩ Tùng Lâm, danh tiếng thì cả nước biết. Tôi thường đi băng tắt ngang cái hẻm này mỗi ngày để ra chợ, cái hẻm đâm thẳng vào hông chợ, đầu hẻm có xe nước miá (pha lẫn với dâu Đàlạt) của chị Tám, trời thần ơi là ngon, nhất là được uống vào những buổi tối cúp điện. Có lẽ chưa có loại nước uống nào trên thế giới, theo tôi nghĩ, mà vừa rẻ, vừa đã khát, vừa ngon lại vừa bổ như nước mía, nếu đừng để ý đến cái đám nhặng xanh bay vần vũ trên những xác mía đã được ép lâý nước rồi, cũng như những đẵn miá chưa ép.

Cứ gì phải ra tận ngoài Hà Nội để mò đến Chả Cá Lã Vọng mới thưởng thức cho được cái món chả cá thìa là chấm mắm tôm ? chả cá Sơn Hải ở ngay ngã ba Lý Trần Quán và Đinh Công Tráng (còn gọi là Calmette) mà không ngon ư ? Cứ gọi là lịm cả người đi ấy chứ ! Và trong cái ngõ hẻm sát kế bên còn có một nhân vật, lúc còn sinh thời, đã từng làm mưa làm gió trong giới điện ảnh hồi đó : tài tử Đoàn Châu Mậu, bố của Tuyền, cô bạn học cùng lớp với tôi ở M.C. và cùng học violon với ông xã nhà tôi ở trường Quốc Gia âm nhạc. Một cô bạn tính tình hiền hậu, lành như cục đất, ai nói gì cũng chỉ ngỏn ngoẻn cười. Cô bạn này của tôi đã có dạo, trước 75 một chút, cùng với Đức Huy là một Duo khá nổi tiếng trong làng ca nhạc Saigon.

Cha Tr. của giáo xứ Tân Định những năm 70 cũng là một nhân vật được nhắc đến khá nhiều, nhất là trong giới trẻ. Một thần tượng, một… hiện tượng lạ thì đúng hơn, đáp ứng được cái “máu hippie” của bọn choai choai chúng tôi thuở bấy giờ. Những buổi lễ của Cha, dành riêng cho giới trẻ, lúc nào cũng đông nghẹt !

Bọn con gái chúng tôi mê nhất là bộ râu quai nón của Cha, giọng nói từ tốn “lịm cả hồn” và những bài giảng rất là giản dị và cởi mở, những bài thánh ca soạn theo thể loại mới, nghe mà cứ “ngơ ngẩn cả người” vì… hay ! Tôi biết, đã có khối con chiên ghẻ bỗng dưng trở thành ngoan đạo, chăm chỉ sốt sắng đi lễ nhà thờ không bỏ sót chủ nhật nào cũng chỉ vì …Cha, và trong số những con chiên ghẻ đó có tôi.

Sát bên nhà thờ Tân Định là trường Thiên Phước. Ngôi trường đạo này là của các Sơ, chỉ nhận toàn con gái và có một đặc điểm rất dễ thương là bắt các nữ sinh phải mặc đồng phục váy mầu hồng thay vì mặc váy mầu xanh nước biển đậm và blouse trắng như các trường đạo khác (Couvent des Oiseaux, Régina Pacis và Régina Mundi… chẳng hạn). Cứ đến giờ tan học là cả khu Tân Định nhộn nhịp hẳn lên với một đàn bướm mầu hồng khổng lồ ríu rít túa ra xúm đông xúm đỏ các gánh hàng rong túc trực sẵn trước cổng trường, trông vui mắt đáo để. Quà vặt của vùng Tân Định là có tiếng đấy. Có tiếng là ngon! Mà cũng có tiếng là đắt ! Chả thế mà người ta vẫn thường kháo với nhau là “chợ Tân Định chỉ dành riêng cho những dân nhà giầu, bán toàn hàng “tuyển” nên mắc như quỷ (?). Mà cũng đúng thôi, tiền nào của nấy !”

Chẳng ngoa tí nào sất, thật, dân vùng Tân Định phần lớn là “có máu mặt” cả mà ! Những ngôi nhà lịch sự xinh xắn trong các con hẻm tương đối rộng rãi nếu so với những con hẻm của các vùng khác, và những cửa tiệm khang trang buôn bán sầm uất ngoài mặt đường đã nói lên rằng thì là… Quận Nhất không phải khi khổng khi không mà được gọi là Quận Nhất, nghĩa là nhất trong các quận của Saigon ! Và những lý do để dẫn chứng thì kể đến mai, mốt cũng chưa hết.

Trước tiên phải kể đến lý do … yên ổn : năm 68 trong trận Mậu Thân, cái đất Tân Định chả suy xuyển một mảy may nào, ở đâu nhốn nháo chứ quanh vùng tôi ở vẫn cứ êm ru bà rù. Và kiểm lại trong ký ức, tôi rất ít khi nghe nói tới các băng đảng anh chị xuất thân hay những hành vi phạm pháp xuất phát từ cái xứ Tân Định. Chỉ cần nhiêu đó thôi, thế đã đủ là lý do chính đáng hàng đầu chưa nhỉ, để chán vạn dân Saigon ôm ấp giấc mơ có được “hộ khẩu” trong vùng này ? Thế thì văn hóa nữa nhé

Yểm Yểm thư quán trên đường Trần Văn Thạch chắc nhiều người trong giới chữ nghĩa vẫn chưa quên. Còn nữa, đối diện với chợ Tân Định ngay đầu cái xóm sát với nhà thuốc bắc Kim Khuê (có trưng một ông hổ to thật to, và thật, đứng chình ình trong tiệm) là chỗ cho mướn sách với một kho truyện phong phú không thể tả được ! Trên thì giời dưới thì sách, thôi thì không thiếu một thể loại hay tác giả danh tiếng nào. Những Văn Bình Z.28, “Lửa cháy Thành Phiên Ngung”, “Thủy Hử” hay Kim Dung hay Duyên Anh hay Ian Fleming v..v.., đã góp cái vốn kiến thức cho biết bao già trẻ lớn bé không chỉ vùng Tân Định.

Còn giới văn nghệ sĩ tụ tập trong vùng này thì đông vô số kể. Nào là nữ ca sĩ Bạch Quyên và Tuyết Mai của những năm “hồi đó lâu lắm rồi”, nào là nữ diễn viên kịch Mỹ Chi, nào là nữ sĩ Nguyệt Hồ nổi tiếng như cồn nhờ tài bói bài tây…

Nói chi đâu xa, cũng vào đầu những năm 60, ngay trong cái ngõ trước cửa Nhà Thờ của tôi, ông hàng xóm soạn giả Hoàng Khâm là… số dzách trong làng cải lương. Mỗi tối khuya mà thấy ông bách bộ đi tới rồi lại đi lui, phía bên kia đường nhà thờ, để vắt tim nặn óc viết kịch bản dựng tuồng cho các gánh hát (hạng nhất thôi đấy nhé) là thiên hạ xung quanh nhìn bằng con mắt ngưỡng mộ ghê lắm.

Hiệu uốn tóc Mô-Đéc (dấu sắc) sát bên nách hiệu thuốc tây của nhà tôi cũng được các tài tử giai nhân của cả Sài Gòn tận tình chiếu cố. Cô em Lìn Dí làm chủ tiệm này còn bà chị Lìn Chế có thêm một tiệm nữa, cũng tên Mô-Đéc, nhưng nằm trên phố, đường Lê Lợi. Hai tiệm này lúc nào cũng đông nghẹt, nhất là vào những mùa Noel hay Tết, dễ thường khách đến “làm đầu” phải chờ đến cả tiếng đồng hồ mới được phục vụ. Chú Cóong, chú Cai có những bàn tay bằng vàng, được các bà các cô “tán tiu” nhiều nhất. Cứ vào đây là khắc biết hết tuốt tuồn tuột những chuyện “trong nhà ngoài phố” của… cả làng trên xóm dưới, bảo đảm !

Chỉ cách nhau chưa đầy ba phút đi bộ mà cái vùng tôi ở có đến hai rạp ciné. Bên hông chợ là rạp Mô-Đẹc (dấu nặng) và mặt trước của chợ là rạp Kinh Thành. Hai rạp này thay phiên nhau chiếu những phim Ấn Độ và cao bồi hay ra phết, thỉnh thoảng để thay đổi không khí lại mời các gánh Cải Lương hay Hồ Quảng về trình diễn, làm nghẽn cứng cả xe cộ lưu thông vào những giờ sắp mở màn hay vãn tuồng.

Đấy là những dẫn chứng (mê ly chưa ?) liên quan đến “cái đầu” mà tôi chỉ đại khái sơ qua thôi.

Còn “cái bụng” ư ? Hai con đường Hiền Vương và Pasteur với một dẫy các hàng phở, món quốc hồn quốc túy vang danh khắp năm châu bốn biển, chả là cái nôi của nền văn hóa ẩm thực của nước Việt Nam đó sao ? Dân sành sõi chỉ ăn phở thịt bò ở Pasteur hay phở gà trên đường Hiền Vương. Và Phở Pasteur đã trở thành bảng hiệu của vô số tiệm Phở, điển hình là ở Boston bên Mỹ, của Mr. Lê D.

Tiệm bán giò chả Bạch Ngọc và Phú Hương, cũng trên đường Hiền Vương thì… lọ là phải ngôn, nổi tiếng quá xá trời là ngon không đâu bằng. Bánh dầy, bánh giò, chả cốm, chả quế, giò lụa, giò bò không chê vào đâu được ! Ăn giò chả của hai tiệm này với bánh mì nóng hôi hổi của lò Poitou gần đấy thì ngon phải biết, quên cả chết !

Ăn rồi lại muốn xơi thêm

No căng nứt bụng, cứ chêm, vẫn thèm…

Tôi còn nhớ, mãi, trong chuyến viếng thăm Little Saigon, cái cảm giác ngạc nhiên đến sững sờ khi bước chân vào lò giò chả Thái Bình trên đường Brookhurst. Cầm khoanh chả bò trên tay, cái mùi rau thìa là ngào ngạt xộc vào mũi, xông thẳng lên óc. Chao ôi là quen thuộc! là thân yêu ! Trong một lóe chớp, dường như tôi thấy cả một quê hương Việt Nam, cả một bầu trời Tân Định ùa đến trước mặt. Tôi lặng cả người. Từ khi bị xa xứ, gần hai chục năm rồi, có lẽ đây là lần đầu tiên tôi được ngửi lại cái mùi chả bò quyến rũ này. Quyến rũ kỳ diệu cái khứu giác. Tôi cắn ngập răng, nghiến ngấu, mê mẩn. Quyến rũ thần tình cái vị giác. Không ngờ cái mùi, cái vị của một món ăn lại có sức khơi dậy kỷ niệm mãnh liệt dường ấy. Tả làm sao cho xiết những xúc động của tôi lúc đó, lúc mang cái tinh túy đặc biệt của xứ sở tôi vào long ? Cám ơn lò giò chả Thái Bình đã cho tôi tìm lại hương vị độc đáo không bao giờ quên được này. Cám ơn cả Van´s bakery với những ô mai, những bánh mứt đủ các loại, gợi cho tôi nhớ biết mấy cái tuổi nhỡ nhỡ nhàng nhàng, lúc nào trong túi cũng sẵn, trong miệng cũng ngậm, ghiền ô mai như trẻ con nhai kẹo chewing-gum. Tôi mua nhiều lắm, mỗi thứ ô mai “Bắc Việt” mấy lạng, đem về Đức, để khi nhấm nháp thì nhớ ngược trở lại những ngày phiêu lưu, ôi tuyệt vời, bên Cali.

Nhưng thôi, đấy là một “thế giới nhớ” khác vẫn rất rất đậm nét (còn mới toanh), bây giờ tôi đang nhớ Tân Định, nhớ cái khu Tân Định của tôi cơ mà.

Tôi đang kể đến đâu nhỉ ? Gì nữa nhỉ ? À, cái quán điểm tâm cơm tấm bì gần bên trường dậy lái xe hơi của ông nghị sĩ Huyền, cũng vẫn trên đường Hiền Vương, không thể không góp phần vào “nghệ thuật ăn uống” của vùng Tân Định. Cô Mỹ Trinh, cô láng giềng của quán này bây giờ lại góp phần vào nền kịch nghệ hải ngoại bên Mỹ nữa đấy.

Và nhắc đến tiệm hòm Tobia thì không ai là không biết. Không chỉ nổi tiếng ở Việt Nam mà thôi, tôi đã thấy bảng hiệu Tobia ở miền Nam Cali nữa cơ. Hình như bây giờ nằm trên đường Newland street của thành phố Westminster, trước đó thì trên đường Edinger ? Không biết tiệm bán hòm này có liên hệ gì với vợ chồng Bùi và Cathy Tobia Tân Định, những người vẫn hay… ngồi cùng chiếu với vợ chồng tôi vào những ngày cuối tuần, hồi còn ở bên nhà ?

Những “tai to mặt lớn” cũng không thiếu, khét tiếng nhất phải kể đến ngài “Th. đen” với chiếc xe Camaro độc nhất vô nhị, luých vô cùng, nhất xứ, vào những năm đầu 70. Đối diện với tư dinh (bên trong cũng luých không kém, sau 75 trở thành trường Mẫu giáo) của ông vua điện lạnh này là tiệm Trinh shoes. Một biệt danh lẫy lừng trong giới ăn mặc thời trang của Saigon: Hảo‘s Trinh shoes, giới trẻ “xịn” thời đó ai mà chẳng biết ?

Sở dĩ nói vòng vo, nhắc nhở tùm lum là tại vì… nhớ quá đấy mà. Chả là đêm qua nằm mơ, tôi thấy tôi đang đi chợ hoa, những ngày giáp Tết, ở bên nhà, ở Tân Định, ở trước cái cửa hàng Pharmacie nhà tôi. Tự dưng thấy quặn ruột nhớ nhà, nhớ Tân Định, nhớ cái không khí tấp nập không có chỗ len chân trên những ngã đường xung quanh nhà thờ vào những đêm Noel, nhớ cái tíu tít rộn rịp mua sắm của những ngày sắp Tết, nhớ lung tung, nhớ đủ thứ, nhớ ơi là nhớ, nhớ quay nhớ quắt, nhớ như điên như dại, nhớ chín ruột chín gan, nhớ quá lắm… Tân Định của tôi ơi !!!!

Trong chuyến Mỹ du vừa mới đây, mấy tháng trước, tôi như tìm thấy lại được một phần nào cái hồn của quê hương tôi trên xứ người. Đứng giữa khu Phước Lộc Thọ, bên tai nghe ríu rít đủ các thứ giọng của cả ba miền Trung Nam Bắc, trước mặt và xung quanh chỉ toàn những khuôn mặt của người cùng xứ sở, tôi thấy nỗi buồn tha hương vơi đi rất rất nhiêù. Và dường như tôi hít thở được mùi vị của quê hương tôi đâu đây, trên những tấm bảng hiệu đề chữ Việt, qua những món ăn thức uống thuần túy của dân tộc tôi, và có đôi lúc tôi đã thoáng bắt gặp cái khu Tân Định ngày xưa của tôi, ẩn hiện, bàng bạc, ngay trong khu thương xá này, cách nửa vòng trái đất chứ không phải ở trong lòng nước Việt Nam.

… Ai về Tân Định xóm tôi

Cho tôi nhắn nhủ đôi lời nhớ thương

Xa rồi những sáng mù sương

Hoàng hôn nhạt nắng giáo đường thánh ca

Tôi quỳ hồn bỗng mưa sa …

Bích Vân

GÁI NHA MÂN

HUYỀN THOẠI VỀ

MỘT MIỀN GÁI ĐẸP

“Xoài nào thơm bằng xoài Cao Lãnh

Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân”,

Câu ca dao ấy đã có từ hàng trăm năm trước. Bây giờ, con gái Nha Mân, vùng đất nằm giữa sông Tiền và sông Hậu (xã Tân Nhuận Đông, huyện Châu Thành, Đồng Tháp) vẫn đẹp. Nhưng dường như khó tìm hơn…

Chuyện xưa kể rằng…

Qua khỏi cầu Mỹ Thuận, rẽ phải, chạy thêm gần chục cây số nữa là đến Nha Mân, vùng đất nằm gối đầu lên một bên hữu ngạn sông Tiền, rồi xoải mình về hướng Sông Hậu, ngay mặt tiền QL80. Đảo xe quanh chợ Nha Mân một hồi mà không xác định được điểm dừng, tôi ngại ngùng trước những ánh mặt tò mò của người dân địa phương nên tấp vào quán café nép dưới tầng trệt của một tòa nhà đang xây dở.

Bà chủ quán ước chừng ngoài 70 tuổi nhìn tôi hỏi : “Con ở trên thành phố xuống hả ?”. Không đợi tôi trả lời, bà tiếp : “Nếu đi tìm nhà người quen ở Nha Mân này thì nói, bà chỉ cho. Bà sống từ nhỏ ở đây nên nhà nào cũng biết”. Tôi giới thiệu, xong rồi… ấp úng nói : “Dạ, con xuống đây tìm hiểu về con gái Nha Mân đó ngoại”. Nghe vậy, bà chủ quán trấn an tôi : “Tưởng gì, con gái Nha Mân đẹp nổi tiếng xưa giờ. Mấy cô cậu phóng viên đến tìm hoài chớ gì đâu mà ngại. Nhưng giờ chỉ còn mấy người già như ngoại thôi chứ hổng có con gái đâu”.

Bà chủ quán tên Nguyễn Thị Cầm, năm nay đã 82 tuổi. Bà Cầm kể với giọng tự hào : Con biết vì sao con gái Nha Mân đẹp không ? Vì toàn cung tần mỹ nữ của chúa Nguyễn không hà. Thời trẻ bà cũng đẹp lắm chớ. Hồi đó nghe cha kể, chúa Nguyễn Ánh thua quân Tây Sơn trong trận Rạch Gầm – Xoài Mút nên cả đoàn từ tướng đến quân, tùy tùng theo sông Tiền bỏ trốn. Đến vùng Nha Mân này, bị quân nhà Nguyễn truy đuổi gắt quá nên buộc phải để bớt tùy tùng và hàng trăm thê thiếp lại để chạy cho nhẹ. Những mỹ nữ này đều có nhan sắc “hoa nhường, nguyệt thẹn” đó nghen con. Sau này, những người con gái này lấy chồng Nha Mân, cũng có khi lấy những tùy tùng của chúa Nguyễn, nhưng họ vẫn lập nghiệp ở đây. Vì thế, sau này Nha Mân toàn người đẹp. Con hổng tin cứ đi hỏi, ở đây mấy đứa con nít nó cũng thuộc chuyện này làu làu”.

Để củng cố cho những lời kể của bà Cầm, tôi tiếp tục lang thang vào những con đường thôn nhỏ rồi hỏi thăm đến UBND xã Tân Nhuận Đông. Nghe tôi trình bày lý do, ông Trần Thanh Tươi, Chủ tịch UBND xã Tân Thuận Đông, cười bảo : Chắc anh đã đọc, đã nghe câu ca dao về con gái Nha Mân rồi ? Đúng là như thế. Nhưng có lẽ, tôi sẽ người dẫn anh đến gặp mấy cụ cao niên để anh hỏi chuyện thì hay hơn.

Người ông Tươi giới thiệu dẫn đường cho tôi là anh Hoàng Quân, trưởng ấp Tân Lập. Anh Quân đưa tôi đến nhà bà Huỳnh Thị Sáu, 84 tuổi. Có lẽ, xưa kia bà Sáu đẹp lắm, nét đẹp ấy còn phảng phất trên khuôn mặt nhăn nheo, làn da trắng lốm đốm đồi mồi, mái tóc dài bạc trắng.

Bà Sáu đưa đôi bàn tay với những ngón dài, gầy khô, rót nước mời chúng tôi rồi ngồi trầm ngâm, đưa đôi mắt mờ đục nhìn xa xăm : “Con gái đẹp thì xứ nào cũng có, nhưng gái Nha Mân không chỉ đẹp người mà còn đẹp nết nữa. Chữ “bảnh” trong câu ca “Gái nào bảnh bằng gái Nha Mân” là nói đến cái “công dung ngôn hạnh” trong “tam tòng, tứ đức” đấy. Đó cũng là nét đặc trưng của người con gái Nha Mân, đã nổi tiếng khắp vùng “Nam kỳ Lục tỉnh” thời đó. Ngày xưa, dù nhà nghèo nhưng ba má luôn dạy cho con gái lễ nghĩa. Làm phận gái sao cho ngoan hiền, thiệt thà, lời ăn tiếng nói dịu dàng, lễ phép”.

Ngừng một lát, bà Sáu nói tiếp : “Thời xưa, con gái tụi tui chỉ đua nhau may đồ bà ba, tóc dài cả thước. Mỗi lúc đi ruộng là khăn rằn quấn không muốn hết búi tóc trên đầu. Tối về gội đầu có má hay chị em phụ. Mà không hiểu sao hồi đó đi làm ruộng cứ phơi mặt ra chứ có che, có bịt gì đâu, vậy mà da đứa nào cũng trắng. Sao giờ thấy tụi nó hổng bằng !”.

Đâu rồi gái đẹp Nha Mân ?

Anh Quân bảo : “Con gái Nha Mân “thứ thiệt” là không son phấn, nhưng da vẫn trắng, môi vẫn hồng, mái tóc xõa dài và trên người thường trực bộ quần áo bà ba. Có lẽ, hình ảnh ấy giờ hơi khó kiếm”. Quả thật, lời anh Quân nói chẳng sai. Rong ruổi nhiều ngả đường, thấy căn nhà nào mở cửa tôi cũng ngó vào nhưng tuyệt không thấy bóng dáng “người con gái” Nha Mân nào.

Bà Nguyễn Thị Lan, 63 tuổi, một trong số những người không “hoa mắt” vì tiền, cho con gái lấy chồng ngoại, nói : “Thời bây giờ khác xưa nhiều lắm. Chuyện “tam tòng, tứ đức” chẳng còn quan trọng với tụi nhỏ nữa rồi. Giờ cứ đứa nào đẹp là tìm đường đi thành phố, lấy chồng ngoại hết. Tụi nó chê làm ruộng cực khổ, đen da, cháy tóc lại ít tiền nên chẳng đứa nào chịu làm. Ở quê giờ chỉ còn mấy ông bà già sống với nhau. Còn sức thì ra ruộng làm, không thì bỏ phế hoặc cho người khác thuê. Từ khi rộ lên phong trào lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc, con gái Nha Mân lấy chồng ngoại nhiều lắm. Mấy năm trước, ở Nha Mân lúc nào cũng có mấy người trên Sài Gòn xuống túc trực. Thấy nhà nào có con gái là đến. Lúc đó cũng có mấy người môi giới đến nhà kêu tôi cho con gái lấy chồng Hàn Quốc. Thấy nhà nghèo nên họ bảo cho con gái lấy chồng sẽ có vài chục triệu để trang trải. Nhà lúc đó khó khăn, nhưng tôi nhất định không đồng ý. Họ đến thêm mấy lần nữa, nhưng thấy tôi “rắn” quá nên mới thôi”.

“Có lẽ, bây giờ ở Nha Mân không còn mấy cô gái đẹp nữa nhỉ ?”, tôi hỏi anh Quân. “Mấy cô đến tuổi trưởng thành hầu hết là đi thành phố, lấy chồng Hàn, Đài Loan, Trung Quốc. Chỉ còn mấy đứa nhỏ đang học phổ thông thôi. Mà học xong tụi nó cũng đi hết hà. Trai vùng này mà không có nghề ổn định, làm ruộng thì khó mà lấy được mấy cô đẹp”.
Nghe anh Quân gợi ý, tôi tìm đường đến Trường THPT Châu Thành 2, nằm ngay trên QL80, thuộc địa bàn thị trấn Cái Tàu Hạ lúc quá trưa. Tôi may mắn gặp được nhóm nữ sinh còn đang túm tụm nói chuyện chưa chịu về. Những cô gái trong bộ áo dài trắng, quần lụa đen, đặc trưng của nữ sinh miền Tây đang hồn nhiên cười đùa ríu rít, thấy người lạ đến hỏi thăm, họ nhìn từ đầu đến chân rồi tản ra. Tần ngần một hồi, tôi quay đầu xe, chợt mừng như bắt được vàng khi thấy một cô nữ sinh đang ngồi một mình trên băng ghế trong sân trường. Nhưng, tôi lại một lần nữa thất vọng khi vừa bước lại gần, chưa kịp hỏi gì thì cô nữ sinh đã đứng lên bước đi rất nhanh.

Đem nỗi thất vọng kể với anh bạn ở Sa Đéc, một người cũng từng có một thời đi “cua” gái Nha Mân, nhưng cuối cùng thất bại và vợ anh bây giờ là người Lai Vung, anh cười bảo : “Ông là người lạ, từ đâu sộc đến hỏi, làm sao tụi nó dám nói chuyện. Nhưng, coi vậy chứ học xong là khác nha”.

Không biết từ bao giờ, ở Nha Mân lưu truyền những câu chuyện về cô Hai Hiên, người con gái có sắc đẹp khiến “hoa nhường nguyệt thẹn”, nhưng lại vắn số, qua đời vì bệnh khi còn ở tuổi trăng tròn. Sau khi cô chết được 3 ngày, rất nhiều người dân xứ này mơ thấy cô hiển linh, hiện về thăm cha mẹ và giúp đỡ dân nghèo, những người bệnh tật. Thuyền bè gặp bão tố, họ cầu khấn cô Hai Hiên và “tai qua nạn khỏi”.

Yên Huỳnh post (theo Phúc Lập)

TRIẾT LÝ SỐNG ĐƠN GIẢN

VÀ HIỆN THỰC

CỦA MẸ TÊRESA CALCUTA

Thế nhưng sao mình vẫn cứ u u mê mê, loanh quanh tìm kiếm cái gì đâu đâu – trong khi mà ngọn “đèn đời” của mình thì ngày càng “lụi” dần !

Ui chao ! Phải quanh co nguỵ biện bào chữa cho mình làm sao đây, khi ngọn “đèn đời” mình phụt tẳt và đơn thân độc mã “trần trụi” trình diện trước SỰ THẬT VĨNH HẰNG ?

Mẹ Têrêsa Calcutta nói về tình yêu

“Nếu bạn xét đoán ai, bạn sẽ không còn thì giờ để yêu thương họ”

“Bạn phải cho đi những gì làm bạn bị thiệt thòi. Như thế, cho đi không chỉ những gì dư thừa, nhưng những gì bạn không thể sống nếu không có, những gì bạn thật sự yêu thích. Như thế, món quà của bạn trở thành một hy sinh, có giá trị trước mặt Thiên Chúa.”

“Tôi luôn luôn nói rằng, tình yêu khởi sự từ gia đình trước đã, và sau đó mới đến thành phố hay đô thị. Yêu thương những người ở xa chúng ta thì dễ, nhưng yêu thương những người sống với chúng ta hay ngay cạnh chúng ta thì không luôn dễ dàng.”

Mẹ Têrêsa Calcutta nói về nghèo đói

“Căn bệnh trầm trọng nhất của thời nay không phải là bệnh phong hủi hay bệnh lao, mà là sự cảm nhận bị ruồng bỏ”

“Trên thế giới, người đói khát tình yêu thì nhiều hơn người đói khát cơm bánh”

“Nhiều khi chúng ta cứ nghĩ rằng nghèo đói là đói khát, thiếu áo quần, không nhà ở. Sự nghèo đói lớn nhất là bị bỏ rơi, không ai chăm sóc, không được hưởng sự yêu thương. Loại nghèo đói này cần được giải quyết ngay từ những tổ ấm gia đình”

Mẹ Têrêsa Calcutta nói về chiến tranh

“Tôi chưa bao giờ sống trong cảnh chiến tranh nhưng tôi đã chứng kiến nạn đói và sự chết chóc.

Tôi tự hỏi : ‘Họ đã cảm nhận điều gì khi họ gây ra chiến tranh?’

Tôi không thể hiểu nổi. Họ đều là con cái Thiên Chúa. Tại sao họ lại làm như vậy ? Tôi không hiểu nổi”

“Hãy làm ơn chọn lựa đường lối hòa bình…!

Vì trong chỉ một khoảng thời gian ngắn ngủi, sẽ có người thắng kẻ thua trong cái cuộc chiến mà chúng ta đều sợ hãi, nhưng rồi chẳng thể và chẳng bao giờ có thể biện minh cho những nỗi đau và chết chóc do bom đạn gây ra”

Mẹ Têrêsa Calcutta nói về phá thai

“Phá thai chính là giết người. Trẻ nhỏ là quà tặng của Thiên Chúa. Nếu bạn không muốn có nó, hãy giao em bé cho tôi !”

“Sự phá hoại nền hoà bình kinh khủng nhất chính là việc phá thai,vì nếu người mẹ nhẫn tâm giết chính con mình thì bạn cũng có thể giết tôi và tôi có thể giết bạn, vì giữa chúng ta chẳng có mối liên hệ nào”

“Chính thật là sự nghèo nàn khi quyết định đứa trẻ phải chết để bạn được sống theo ý bạn”

 Mẹ Têrêsa Calcutta nói về phục vụ Chúa

“Tôi chỉ là cây bút chì của Chúa, để Ngài gởi bức thư tình yêu của Ngài cho thế giới”

“Tôi không cầu nguyện cho sự thành công, tôi cầu nguyện cho sự trung tín”

“Nhiều người lầm lẫn công việc và ơn gọi. Ơn gọi của chúng ta là yêu mến Chúa Giêsu”

“Mỗi người trong số họ, chính là Chúa Giêsu cải trang”

“Cần phải nói ít đi, vì điều rao giảng chưa phải là điều được đón nhận. Vậy ta phải làm gì ?

Hãy cầm lấy cây chổi để quét nhà cho một ai đó, công việc ấy đã đủ để rao giảng”

Mẹ Têrêsa Calcutta nói về cầu nguyện

“Không cầu nguyện, tôi không thể làm việc dù chỉ nửa giờ. Tôi có được sức mạnh của Thiên Chúa qua việc cầu nguyện”

“Có quá nhiều đau khổ trong các gia đình ngày nay trên toàn thế giới, nên cầu nguyện thật là quan trọng, và tha thứ cũng thật quan trọng. Người ta hỏi tôi phải khuyên bảo thế nào cho đôi vợ chồng đang gặp khó khăn, tôi luôn luôn trả lời ‘Cầu nguyện và tha thứ’; và cho những thanh thiếu niên từ những mái nhà đầy hung bạo: ‘Cầu nguyện và tha thứ’; và cho những người mẹ cô độc không được gia đình hỗ trợ : ‘Cầu nguyện và tha thứ’. Hãy nói : ‘Lạy Chúa, con yêu Chúa. Lạy Chúa, con hối lỗi. Lạy Chúa, con tin ở Chúa. Lạy Chúa, con tín thác vào Chúa. Xin giúp con yêu thương nhau như Chúa yêu thương chúng con’.”

Mai Trung Tín post

CHUYỆN VỢ CHỒNG

– Khi đi ngang qua tiệm Walmart, tôi mua 4 cái vỏ bánh xe hơi, Vợ tôi cằn nhằn : Anh mua vỏ bánh xe làm gì, anh đâu có xe đâu.

Tôi nói : Chứ hồi nãy em mua 4 cái Xu-Chiêng anh có cằn nhằn gì em đâu

Thế là hai vợ chồng cãi nhau 

– Tôi nói : Sau ngày cưới em anh thành TRIỆU PHÚ

Vợ tôi : Em hãnh diện quá. Có phải nhờ em anh thành công không ?

Tôi nói: Trước khi cưới em anh là TỶ PHÚ

Thế là hai vợ chồng cãi nhau

– Tôi với vợ tôi vào phòng khám bệnh Nha Khoa

– Bác sĩ nhổ răng tốn bao nhiêu tiến vậy ? – $100.00

– Ồ! đắt quá bớt được không ? – Nếu không dùng thuốc tê $80.00

– $80.00 vẫn đắt – Nếu nhổ bằng cái kìm bình thường để nhổ đinh thì $40.00

–  Vẫn còn đắt – OK $20.00 nhưng học trò tôi sẽ nhổ chứ không phải tôi

– Được… Được. Em em mau mau ngồi xuống trước khi Bác sĩ đổi ý.

Lần này hai vợ chồng uýnh nhau chứ không cãi nhau

Vợ tôi : Ngày cưới em có phải là ngày vui nhất đời anh không ?

Tôi nói : Không ! Chỉ là ngày vui hạng nhì thôi

Vợ tôi: Chứ ngày vui thứ nhất là ngày gì ?

Tôi nói : Là cái ngày em cuốn gói dzề bên má em 3 tuần. Giời ơi ngày nào cũng xỉn

Thế là hai vợ chồng cãi nhau

– Vợ tôi : Cuối tuần này là sinh nhật của anh. Em muốn anh có được một cuối tuần thật là vui vẻ hạnh phúc. Nói em nghe anh muốn gì nào ? 

Tôi nói : Sẽ không có gì làm anh vui và hạnh phúc nếu em cuốn gói dzề bên má em 3 tuần như lần trước

Thế là hai vợ chống cãi nhau 

– Trước ngày Tình Nhân vợ tôi nói : Đêm hôm qua, em nằm mơ thấy anh tặng em cái nhẫn hột soàn, thế nghĩa là gì hả anh ? 

Ngày lễ Tình Nhân tôi tặng nàng cuốn sách “Đoán điềm giải mộng”

Thế là hai vợ chống cãi nhau

– Tôi đăng báo bán “Một quyển Tự Điển Bách Khoa Việt Nam, dầy 3,000 trang còn mới giá rẻ $10.00, lý do lấy dzợ tháng vừa rồi không cần nữa, có con dzợ cái gì nó cũng biết hết”

Thế là hai vợ chồng cãi nhau

Tôi hỏi : Tối hôm qua em đi đâu, suốt đêm không về ?

Vợ nói : Em ở bên nhà con Phượng bạn thân em, đánh tứ sắc suốt đêm.

Tôi nói : Em học tánh nói láo từ hối nào vậy ? Anh ở bên con Phượng suốt đêm có thấy em đâu

Lần này xuýt chút nữa phải gọi xe cứu thương, con dzợ gì đâu dữ wá.

Nguyễn Văn Danh post

THẦY THUỐC GIA ĐÌNH

MỘT KINH NGHIỆM

CỦA NGƯỜI BỊ

BỆNH UNG THƯ

Hương viết ra những gì H biết để tất cả các bạn tham khảo, có ích cho chính mình, thân nhân và bằng hữu vì mầm Ung Thư hiện diện trong tất cả mọi người, chỉ đủ chance là nó bùng phát.

Hương đã kinh qua một thời gian bệnh Cancer : gồm 3 tháng dò tìm bệnh, 8 tháng trị chemotherapy, 1 tháng Radiotherapy, còn thử máu thì lia chia… vậy mà ròng rả 1.5 năm mới vượt qua khỏi.

Thời gian tìm bệnh cũng nhiêu khê vì có nhiều kỹ thuật đang dùng vẫn không đáng tin cậy như Ultra Sounds, Mammogram, Needle Biopsy: hễ họ nói có thì chắc có bệnh, nếu nói không thì phải xét lại, vì lấy sample sai chổ, vì xớ thịt quá condense…

Cũng tại bệnh Tiểu Đường, khiến ăn cơm rất ít; trời lạnh mau đói, lại thêm bạn chỉ cách làm Nem Chua (sau này mới biết bột làm Nem Chua có nhiều Hàn The), tự làm ăn thấy ngon, nên ăn lai rai… cộng thêm làm việc tối đa, lo toan nhiều việc, phiền não cũng bộn… Cuối cùng rước bệnh cũng là lẽ tất nhiên.

Cũng vì bệnh, sau khi mổ, bệnh viện dạy cách meditation (tĩnh tâm), làm theo họ chỉ; bỗng chợt nghĩ ra cái vụ Thiền này còn ai hơn Đức Phật, mình mang tiếng theo đạo Phật mà chả biết gì cũng thật uổng, ngày xưa đi học, đeo đuổi riết con đường khoa cử, giờ đây xem ra cũng gần đất xa trời, cũng nên tìm hiểu đạo Phật xem sao… thế là con đường “Hướng về cõi Phật” bắt đầu từ đó.

Khi phát giác ra bệnh, phần chánh vẫn phải nhờ chiếu tia X (Radiotherapy), dùng thuốc tây rất mạnh một lúc cho vào vài loại, thuốc truyền vào gân máu (Chemtherapy), thuốc vào tới đâu là ớn người đến đấy.

Thường thì thuốc rất mạnh, chính nó cũng làm người bệnh suy yếu vì đặc tính của tế bào ung thư là cứ sinh sản lia chia, nên thuốc cứ tìm tế bào nào đang sinh sản là thanh toán. Tế bào bình thường của cơ thể cũng đang sanh sản, nhưng ít hơn tế bào Ung Thư, nên sau khi vào thuốc lần đầu sẽ bị lở màng bên trong miệng, sau cỡ 3 lần tóc rụng gần hết như bệnh ban, và chấm dứt  kinh nguyệt (nếu người bệnh còn trẻ dưới 43 tuổi, sau khi chấm dứt trị liệu sẽ có kinh nguyệt trở lại).

Có người yếu hơn, có thể chết chỉ sau 3 lần vào thuốc (cứ 2 tuần vào thuốc 1 lần).

Bạch Huyết cầu và hồng cầu cũng bị tiêu diệt rất rất nhiều, do vậy người đang trị bệnh trở nên xanh xao, vàng vọt hơn vì hồng cầu xuống quá thấp, và người bệnh dễ mắc các chứng bệnh truyền nhiễm khác vì bạch cầu cũng xuống rất thấp, do vậy trước khi vào thuốc, phải đi thử máu để họ đo hồng cầu và Bạch Cầu có xuống quá tệ chăng, thì chờ thêm 1 tuần nữa cho lại sức để ready cho cuộc “hành quân” kế )

Nói chung khi thuốc vào, tức thì thấy bồn nôn, ói mửa liền tù tì…thuốc làm cho xiểng niểng, làm te tua còn hơn trước khi cho thuốc. Chỉ duy có 1 hy vọng là nó giết giùm các tế bào ác tính ấy.

Còn Radiotherapy, tùy theo bệnh nặng nhẹ, cũng phải làm hàng ngày kéo dài cả tháng, mỗi ngày họ chiếu tia X vào chỉ 4 phút, và da sẽ bị cháy nám dần dần. Bác sĩ này phải tính toán rất hay để tia X chỉ đến phần thịt mà không đến phần xương; bởi vì thân mình không thể phẵng, họ phải tính tia X đến phải dừng theo hình cong của cơ thể. Nếu không chính xác, tia X sẽ cháy xương và làm dòn xương, có thể gẫy xương.

Tóm lại đối với người bệnh Cancer, có nhiều việc phải chú ý, phụ thuộc vào sự trị liệu của bác sĩ:

Không cho thêm vào người những chất tạo Cancer nữa :

1/- Hàn The (làm dòn, dai thức ăn biến chế) nên xem lại các món có nó như thịt Nem Chua, Nem Nướng…coi lại xem trong nhiều thức ăn biến chế như bánh tráng, bánh phở, mì…họ có cho thêm chăng?

2/- Sau này hàng Trung Quốc bị các nước phát giác có rất nhiều chất gây hại sức khỏe, nhất là Ung Thư, có những nước tương chứa chất gây Cancer 5000 lần hơn bình thường ! Có cả list nhiều hiệu nước tương không thể dung ! nếu kỹ nên dùng nước tương của Singapore, Nhật, Đức

3/- Thịt nướng bị cháy không nên ăn, chất bị cháy cũng là nguyên nhân gây bệnh. Tránh xa tia Microwave, khi xài oven nên đứng xa dù họ bảo window của nó không leaking các tia.

4/- Không ăn thịt đỏ như thịt bò, thịt heo, nên ăn thịt trắng như thịt gà, nhớ tránh ăn cánh gà, vì nơi đây người nuôi hay chích hormone cho gà mau lớn, mau bán…độc
Nói chung bớt thịt, thêm rau quả.

5/- Tránh chất béo, tránh quá nhiều đường, 2 thứ này tế bào Ung Thư ưa thích.

6/- Nắng gắt có nhiều tia tử ngoại UV cũng làm ung thư da, đừng tưởng xài cream chống nắng là OK, rồi ra phơi nắng (để thêm vitamin D) ( lớp ozone là phân tử có 3 nguyên tử Oxygen) trên bầu khí quyển bị trống 1 lỗ to, do khí thải của các nước phát triển kinh tế, quá nhiều nhà máy phun ì xèo khói, có nhiều carbonic bay lên làm phá dần lớp Ozone che chở ấy!)

Thức uống trong siêu thị cũng bỏ nhiều chất chống hư = chất bảo quản (preservatives), cũng không tốt, ăn và uống các thứ trái cây rau quả tự nhiên không qua biến chế, để dành lâu vẫn tốt hơn. (chuyện đến đây là hết mức của mình, nếu nói xa hơn, trái cây rau quả, người trồng cũng bỏ phân bón hoá học, thuốc trừ sâu bọ…để cho ra hoa quả tươi tốt, được mùa, giữ lâu không hư khi bán…)

Hồi đó thấy dân tây phương tự trồng rau trái, lấy làm lạ sao họ chịu khó đến thế! thì ra là vậy : sợ Ung Thư quá chừng chừng !

7/- Có những người làm trong phòng thí nghiệm, cũng nên lưu ý có nhiều hoá chất gây ung thư gọi là Carcinogen.

8/- Thứ mà mình ít lưu ý là tránh mua nhà gần các vùng điện cao thế, nơi đó nhà rẻ hơn, VN ta thích rẻ, không để ý việc nguy hiễm vô hình, âm thầm !

9/- Một thứ không ai biết là có những vùng, phía dưới đất có chất phóng xạ (tia phóng xạ vào người sẽ bắn tứ tung hết tế bào này qua tế bào khác), từ đất chất phóng xạ lúc nào cũng phát ra nào ai biết được! chuyện này đành xí cho trời đất thôi, nói cho đủ vậy mà.

(Thật ra sinh viên đi học, có bài vật lý cũng học về chất phóng xạ, có khi chưa học lý thuyết đã cho thực tập, họ đã dặn dùng kẹp gấp nó, mà rớt tới rớt lui, có khá nhiều sinh viên cũng thò tay bóc nó mà không biết trực tiếp tiếp xúc càng nguy cơ Ung thư !)

Có nhiều phương pháp tìm bệnh phải nhờ chất phóng xạ để biết chổ nào tim nghẹt, chổ nào đang bị Ung Thư… như là làm MRI, họ chích 1 lượng rất ít chất phóng xạ, sau đó cho nằm dài trong 1 máy to, giữ im lìm như khúc gỗ trong suốt thời gian máy rà từ đầu đến chân để tìm xem có Ung Thư chổ nào! Khi bị Ung Thư mà nghe cho thêm phóng xạ vào là lo lắm, nhưng họ bảo đảm là lượng rất nhỏ không gây bệnh! đành vậy thôi !!)

Dùng các dược liệu :

Chống Ung Thư là chống các gốc tự do, free radical, uống 3 vitamin cần kết hợp là (A+C+E) để chống các gốc tự do ấy.

a/- Tỏcó khả năng chống Ung Thư và kháng trùng, tạo thêm kháng thể ,vì trị Ung Thư nên dùng liều khá hơn bình thường, có thể dùng rượu Tỏi (2 củ tỏi xay cho vào 200 ml rượu), mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 1 muỗng canh.

b/- Cabbage = Cải bắp : dùng máy Extractor, sẽ rút nước, bỏ xác, mỗi bắp cải có thể rút ra 500ml, mua vài bắp rút ra được nhiều hơn, mỗi ngày uống 250 ml hay 1 ly.

c/- Măng Tây, broccoli

d/- Chống Ung Thư là chống các gốc tự do, free radical, uống 3 vitamin cần kết hợp là (A+C+E) để chống các gốc tự do ấy, các vitamin này có thể mua ở dạng tablet hay mình có thể xây sinh tố uống rất hiệu quả, có lần xem TV thấy 2 ông bà uống 3 tháng hết bệnh: họ xây cam, táo, cà chua, cabbage, cà rốt…

e/- Có thể xay Lô Hội và bỏ thêm 1 muỗng Mật Ong để cơ thể khoẻ hơn, thêm kháng thể.

Giữ thân khoẻ mạnh, tâm an vui :

1/- Tập thể dục, massage  cho máu chạy đều hoà, cho các chất ăn uống trên phân phối đầy đủ cơ thể.

Kèm theo thở theo kiểu thở bụng để thêm tối đa oxygen và thải toàn vẹn carbonic. Thở bụng là bắt đầu thở ra trước, khi thở bụng hóp từ từ, cách mô sẽ kéo lên, khí sẽ lùa ra hết, sau đó hít vào từ từ, cách mô kéo xuống, buồng phổi sẽ to ra, chứa nhiều không khí hơn, đến khi hết hít vào thêm được, ngưng 1 chút để áp lục này sẽ làm sự trao đổi khí hiệu quả, oxy vào máu, carbonic thải ra phổi, và sau đó thở ra, cứ thế mà làm.
Thở bụng có thể thực hiện lúc nào cũng nên, ngay cả trước khi ngủ cũng sẽ cho giấc ngủ sảng khoái không mộng mỵ

2/- Tâm an vui : Người bệnh Ung thư, thường không là người èo ọt, rất active, nên đôi khi làm quá sức của mình, và lắm khi cũng rơi vào stress…khi bệnh không làm gì được lại xuống tinh thần, buồn rầu, lo âu…: những thứ này sẽ làm bệnh tệ ra; cho nên phải giữ tinh thần vững chãi, chấp nhận việc gì đến cứ đến, nếu cần tập Thiền cũng là cái lợi không những cho sức khoẻ mà còn cho tinh thần, và xa hơn nữa là cho tâm linh.

Chính cái thở sẽ là trung gian giữa thân và tâm linh, khi biết điều hoà hơi thở đến nhẹ nhàng, cũng là làm cho tâm thanh thản, sẽ điều hoà hai hệ thần kinh Trực Giao Cảm và Đối giao Cảm sẽ làm mạch máu mở rộng để máu đến nuôi tế bào thần kinh đầy đủ, rồi làm tâm yên bình và sẽ có thêm đạo lực, khiến tâm không chao đảo trước nhiều tình huống, và khi gần với đạo, sự chết nếu đến sẽ không còn gì đáng sợ, nhưng cũng trong cái không còn sợ chết ấy cũng là chỗ có thể còn sống.

Nói chung bệnh Ung Thư phát giác càng sớm càng có cơ hội sống sót, chờ nó phát tát (di căn) qua chỗ mới là không thuốc trị cho nên từ lúc không bệnh, nên biết để sinh sống hầu ngăn ngừa.

H viết 1 lèo và gởi nên khó đầy đủ như ý, nhưng cũng tạm đủ cho người cần nó.
Viết dài, thường sau khi gởi đi mới phát giác trật vài lỗi chính tả, vậy xin các bạn miễn chấp nhé.

Các bạn có thể chuyển cho bất cứ ai cũng là điều nên làm, vì may ra có thể giúp những người chưa bệnh sẽ không bệnh.

Thân ái Thanh Hương

Đinh Mỹ Chơn (chuyển tiếp)

TRÁI CHANH

BÀI THUỐC ĐA NĂNG

Một ông bạn già cho biết mỗi tuần vắt một trái chanh vào nước nóng, uống sau bữa ăn (lúc ăn no) thời tim mạch tốt: không bị cao mỡ hay cholesterol. Mỗi khi đi ăn tiệc, ông cũng làm như vậy. .. Bảo đảm tốt. Thử coi, không có hại đâu…

Cách tôi uống như sau :

– Sáng dậy, tôi lấy 1 quả chanh giấy (mầu vỏ xanh) vắt vào 1 ly nhỏ, thêm vào khoảng 3,4 muỗng nước… hoặc 1 chút mật ong nếu bạn không bị tiểu đường (lưu ý bạn nào dưới 110 pounds thì chỉ nên uống nửa trái thôi)

– Sau đó, khoảng 45 phút (phần này theo hay không tùy bạn  tôi uống 1 ly nước ( loại ly lớn ) nước lọc.

Tôi thường uống liên tục như thế trong 5 ngày và nghỉ 2 ngày.. Chẳng có “side effect ” gì cả bạn ạ…

Chanh trừ được các bệnh ung thư

– Trái chanh là một sản phẩm kỳ diệu chuyên giết các tế bào ung thư

– Nó mạnh gấp 10.000 lần hơn liệu pháp hóa học (chimiothérapie)

– Từ đây về sau quí vị có thể giúp bạn bè nào cần bằng cách cho họ biết là nước chanh rất cần thiết để ngừa bịnh.

– Mùi vị của chanh rất là tốt và nó không có gây ra những tác dụng kinh khủng như các loại liệu pháp hóa học (chimiothérapie)

– Quí vị có thể dùng chanh với nhiều cách khác nhau : quí vị có thể ăn cả võ, vắt chanh ra uống, uống nước đá chanh đủ kiểu, làm bánh v.v.v.v……

– Người ta cho trái chanh hay nhiều thứ lắm nhưng quan trọng và hay nhất là hiệu quả của nó đối với ung nhọt và bướu.

– Cây chanh là một vị thuốc đã chứng minh là trị được tất cả các loại ung thư. Có những người khác còn xác nhận là nó có một công dụng rất lớn trong mọi loại biến thể của các loại ung thư

– Người ta cũng còn xem chanh như là một loại thuốc chống đủ loại vi trùng, chống các loại viêm do vi khuẩn, và nấm, rất hữu hiệu chống ký sinh trùng và sâu (mầm bệnh) trong máu, nó lại có thể điều hòa được huyết áp (quá cao hay quá thấp) chống áp xuất cao và rối loạn thần kinh

– Tài liệu nầy có được từ một trong những nhà bào chế thuốc lớn trên thế gìới, người nầy xác nhận là sau trên 20 lần thử nghiệm từ năm 1970 ở viện bào chế, mới thấy được là :

– Chanh tiêu diệt các tế bào tinh quái trong 12 loại ung thư, gồm cả ung thư đường ruột ung thư ngực, vú , ung thư tiền liệt tuyến, phổi, lá lách (tuyến tụy)…

– Cây chanh và trái chanh được cho thấy có hiệu quả 10.000 lần hơn sản phẩm Adriamycin, một loại thuốc hóa học thường được dùng trên thế giới để làm chậm lại sự nẩy nở của tế bào ung thư

– Và còn lạ lùng hơn nữa là loại nước chanh trị bịnh nầy chẳng những diệt được các loại tế bào ung thư mà không bao giờ ảnh hưởng đến các tế bào sạch. (theo Viện Khoa Học và Sức Khỏe, Baltimore)

AI THÍCH ĂN PHỞ TÁI

NÊN ĐỌC BÀI NÀY

Phở tái ẩn chứa nguy cơ nhiễm ký sinh trùng. Sáng ngủ dậy, chị Thơm thấy trong quần có những mảng màu trắng đục, dài khoảng 3-4 cm, dẹp như xơ mít. Đến viện khám, chị “té ngửa” khi biết mình bị nhiễm ký sinh trùng do hay…ăn phở bò tái.

Tưởng bổ mà hại

Tiến sĩ – bác sĩ Siêu, Giám đốc Trung tâm Y tế dự phòng ở Sào Gòn, chuyên gia về bệnh ký sinh trùng cho biết thói quen ăn thịt tái tưởng như bổ dưỡng nhưng lại ẩn chứa nhiều nguy cơ nhiễm ký sinh trùng nguy hiểm.

Bác sĩ Siêu không thể quên được trường hợp của chị Đặng Thị Thơm, 35 tuổi, một công chức, ngụ tại quận Bình Thạnh. Chị Thơm đến khám, cho biết sáng sớm ngủ dậy thấy đáy quần lót có những vật thể nang màu trắng đục. Kiểm tra trên giường chị Thơm cũng thấy những dốt sán như trên rải rác…

“Cô ấy vô cùng hoảng sợ, cho biết đã từng đến tiệm thuốc Tây, miêu tả bệnh, được hướng dẫn mua thuốc tẩy giun về uống nhưng không khỏi.”, bác sĩ Siêu kể.

Sau khi thăm khám, bác sĩ Siêu biết bệnh nhân đã bị nhiễm sán dải bò (Taenia saginata một loại ký sinh trùng hình dáng dài, dẹt, nang sán nằm trong thớ thịt bò).

Bệnh nhân tâm sự thường ăn phở bò tái mỗi bữa sáng. Như vậy, bệnh nhân bị sán dải bò nằm trong miếng thịt bò tái vẫn chưa chết, theo đường ăn uống thâm nhập vào cơ thể. Những đoạn màu trắng đục, dẹp mà chị Thơm thấy ở quần lót và trên giường chính là nang chứa hàng trăm ngàn trứng của sán dải bò rơi ra từ hậu môn.

Theo bác sĩ Siêu, trường hợp bị nhiễm sán dải bò như chị Thơm không hề hiếm.  Trước đây, khi còn khám bệnh tại khoa khám bệnh – Bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới, trung bình mỗi tuần bác sĩ Siêu gặp ít nhất từ 5 đến 6 bệnh nhân nhiễm sán dải bò.

Điều đáng nói, những bệnh nhân này có cả nam và nữ, đa phần là dân công chức. Nguyên nhân mắc bệnh có điểm chung là đều ăn thịt bò tái. Khi xâm nhập vào cơ thể người, sán dải bò hút chất dinh dưỡng để sống. Người nhiễm phải chúng thường xanh xao, suy dinh dưỡng, uể oải.

Sau khi ăn phải thịt bò có sán dải bò khoảng 3 tuần nạn nhân sẽ thấy các triệu chứng như trường hợp của chị Đặng Thị Thơm nói trên. Bệnh nhiễm sán dải bò không khó chữa nhưng dễ tái phát bởi trứng của chúng từ người nhiễm, vương vãi khắp chăn, màn, chiếu, gối, bàn ghế…

Muốn chữa trị dứt hẳn bệnh nhiễm sán dải bò, bác sĩ phải yêu cầu cả gia đình bệnh nhân phải uống thuốc điều trị đặc hiệu. Chăn, màn, chiếu, gối, quần áo… của cả nhà người bệnh cần được giặt nước sôi trong vòng 2 tuần để giết hết trứng sán.

Yên Huỳnh post

NHỮNG TRUYỆN THẬT NGẮN

1/-. Đôi mắt

Có một cô gái không may bị mù, quen biết một chàng trai, 2 người cùng yêu nhau, dến một ngày cô gái nói với chàng trai: “Khi nào em nhìn thấy được thế giới, em sẽ lấy anh”. Rồi đến một ngày kia cô gái được phẩu thuật mắt và cô đã nhìn thấy được ánh sáng. Chàng trai hỏi: “Bây giờ em đã thấy được cả thế giới, em sẽ lấy anh chứ?”
Cô gái bị ngẩn ngơ choáng váng khi thấy chàng trai cũng bị mù như mình. Cô ta từ chối anh. Chàng trai ra đi trong nước mắt và nhắn lại rằng: “Hãy giữ gìn cẩn thận đôi mắt của mình em nhé, vì đó là món quà cuối cùng anh có thể tặng em”.

2/-. Điện thoại (Võ Thành An)

Nhà không có điện thoại, anh Hai đi làm xa muốn thăm Mẹ phải gọi nhờ nhà hàng xóm. Người hàng xóm không vui lòng nhưng chẳng nói ra. Anh Hai ngại nên những cuộc gọi về cứ thưa dần.

Mẹ dành dụm tiền, nhà mắc được điện thoại. Cũng có khi do bận việc nên cả tuần anh Hai mới gọi về một lần. Từ ngày nhà có điện thoại Mẹ ít đi đâu, làm gì cũng loay hoay bên chiếc máy. Có người hỏi lý do, Mẹ nói: “Sợ thằng Hai gọi về mà không gặp được”.

3/-. Nghịch lý (Văn Triều)

Thanh minh. Bàn chuyện cải mộ Mẹ, anh Hai nói:

– Tôi góp một phần.

– Tôi một phần.

– Tôi cũng một phần.

Thím Tư chen vào, như đùa như thật:

– Chú Út hai phần mới phải. Anh Tư đâu hưởng gì đâu ?!

Chợt nhớ lúc nhỏ, mấy anh em ngủ chung với Mẹ. Đêm, muổi vào mùng cắn Mẹ. Mẹ không đập, sợ hụt, cứ để muổi cắn Mẹ no rồi sẽ không cắn các con.

Ôi! Tình yêu của Mẹ là thế. Có chia phần bao giờ đâu !

4/-. Tóc sâu (Song Khê)

Sáu tuổi. Tôi vọc tay trong vườn tóc ngoai, reo vang : “Con tìm được sợi trắng rồi !”.

Mười tuổi. Tôi cột – mở búi tóc của ngoại, phụng phịu: “Mấy sợi bạc con nhổ hết hồi hôm kia, bữa nay lại chui ra nữa!”.

Mười lăm tuổi. Tôi vừa chạy ra cửa vừa nài nỉ: “Cho con đi chơi một chút đi ngoại. Lát nữa hãy nhổ tóc sâu”.

Mười tám tuổi. Tôi nhìn lên mái tóc ngoại trắng phơ, bất động trong bức ảnh cao cao, rưng rưng thắp một điều ước.

5/-. Tiền mừng tuổi (Trương Đình Dạ Vĩnh)

Năm bảy tuổi, Mẹ bảo đưa tiền Mẹ cất cho … Nó đếm mấy chục ngàn tiền lì xì rồi miễn cưỡng đưa Mẹ cất giùm vì trước kia không bao giờ thấy Mẹ trả lời.

Năm mười tuổi, nó lén cất tiền không cho Mẹ biết.

Mười tám tuổi, nó mang nổi nhớ quê hương bước vào đại học ở tận miền trong xa xôi.

Tết. Ký túc xá vắng hoe. Phương bắc xa xôi nó không về được. Nó nằm co trên giường cằm giấy nhận tiền của Mẹ mà thấy ân hận, xót xa.

6/-. Khóc (Bùi Phương Mai)

Vừa sinh ra đã vào trại mồ côi, trừ tiếng khóc chào đời, chồng tôi không hề khóc thêm lần nào nữa.

Năm hai mươi tuổi, qua nhiều khó khăn anh tìm được Mẹ, nhưng vì danh giá gia đình và hạnh phúc hiện tại, một lần nữa bà đành chối bỏ con. Anh ngạo nghễ ra đi, không rơi một giọt lệ.

Hôm nay 40 tuổi, đọc tin Mẹ đăng báo tìm con, anh chợt khóc. Hỏi tại sao khóc. Anh nói :

– Tội nghiệp Mẹ, 40 năm qua chắc Mẹ còn khổ tâm hơn anh.

7/-. Nói dối (D.A.D)

Ngày đó nhà nghèo Cha mất , Mẹ tần tảo nhưng không đủ ăn. Để con có bữa ngon, Mẹ gởi con về giổ họ. Giữa đám cúng đông vui, chẳng ai đoái hoài, con bơ vơ lạc lõng… Về nhà Mẹ hỏi con né tránh: “Dạ vui! Cô bác mừng con…!!!”.

Lớn lên, con đi làm xa, tạm gọi là thành đạt. Ngày giỗ họ con về cùng con trẻ, mọi người vui gặp gỡ, chăm sóc đủ điều, từ miến ăn, chiếc bánh…

Về nhà nhìn ảnh Mẹ con thấy lòng rưng rưng.

8/-. Chung riêng (Nga Miên)

Chung một con ngõ hẹp, hai nhà chung một vách ngăn. Hai đứa chơi thân từ nhỏ, chung trường chung lớp, ngồi chung bàn, đi về chung lối. Chơi chung trò chơi trẻ nhỏ, cùng khóc cùng cười, chung cả số lần bị đánh đòn do hai đứa mãi chơi. Đi qua tuổi thơ với chung những kỷ niệm rồi cùng lớn lên…

Uống chung một ly rượu mừng, chụp chung tấm ảnh…cuối cùng khi anh là chú rễ còn em chỉ là khách mời. Từ nay, hai đứa sẽ không còn có gì chung nữa, anh giờ là riêng của người ta…

9/-. Tình già (Nguyễn Thái Sơn)

Đêm tối đen.Tiếng con chim cú kêu đâu đó ngoài cây bàng. Ông khó ở trong mìnhđã mấy hôm. Bà lọ mọ tìm cây são rồi đẩy đưa bâng quơ trong vòm lá. Con chim cú vỗ cánh bay. Một hạt bụi sa vào mắt bà…

Ông trách: “Nó kêu mỏi miệng rồi nó đi, bà đuổi làm gì cho khổ con mắt vậy?”. Hạt bụi cộm lắm nhưng bà không thấy đau; móm mém cười, bà đáp: “Lỡ ông bỏ tôi lại thì sao?”.

10/-. Ngày sinh nhật đầu tiên (Xuân Vy)

Tối nay bé buồn xo. Mẹ gặng mãi, bé nũng nịu : “Hôm qua, sinh nhật cái Na, nó được tặng nhiều đồ chơi đẹp! Sao con không có sinh nhật, Mẹ nhỉ ?”. Mẹ lặng thinhmắt đỏ hoe ! Sợ Mẹ khóc, bé vỗ về: “Đừng khóc Mẹ nhỉ! Bé không đòi sinh nhật nữa đâu !”. Bỗng nhiên, Mẹ ôm chầm lấy bé nức nở. Bé ngơ ngác rồi khóc ào theo.

… Ngày ấy, cái ngày mà toà án buộc người đàn ông phải đợi cho bé đủ 12 tháng tuổi mới ký quyết định ly hôn. Và ngày sinh nhật đầu tiên của bé đúng vào ngày Mẹ bồng bé chết lặng giữa chốn pháp đình.

Thân Bình post

“CHUYỆN VỢ CHỒNG”

– Vợ tôi hỏi : Trên TV có gì không anh ?

Tôi trả lời : Có rất nhiều bụi bậm, chắc tại em quên lau

Thế là hai vợ chồng cãi nhau

– Cuối tuần, vợ tôi muốn đi đến một nơi thật đắt tiền. Tôi chở bả tới tiệm bán xăng

Thế là hai vợ chồng cãi nhau

– Ngày mai sinh nhật bà xã tôi, tôi hỏi bả muốn gì ? Bả nói bả muốn một cái gì láng cóng, đi từ 0 tới 200 trong vòng 3 giây. Tôi mua cho bả cái cân nhỏ để trong phòng tắm

Thế là hai vợ chồng cãi nhau

– Vợ tôi khỏa thân đứng trước tấm gương ngắm nghía 5 phút rồi bảo tôi :

Em thấy hình như em ốm đi và giảm cân một chút phải không anh ?

Tôi nói : Chắc em cần phải đi bác sĩ mắt khám lại

Thế là hai vợ chồng cãi nhau

– Vợ tôi khỏa thân đứng trước gương ngắm nghía 5 phút rồi bảo tôi :

Sau hai mươi năm lấy nhau, em thấy mình già hơn, mập hơn và xấu hơn trước nhiều phải không anh ? Em buồn quá, ơ anh nói gì đi chứ

Tôi nói : Tuy vậy mắt em vẫn còn tốt như hai mươi năm về trước, 20/20

Thế là hai vợ chồng cãi nhau

– Kỷ niệm hai mươi năm cưới nhau, tôi hỏi bả muốn đi đâu

Bả nói : Em muốn đi đến một chổ mà từ lâu em đã không đặt chân đến

Tôi nói : Ủa Em muốn vào trong bếp hả ?

Thế là hai vợ chồng cãi nhau

– Vợ tôi hỏi : Anh ơi cái quần xanh này có làm mông em to hơn không anh ?

Tôi nói : Ừa, nhưng mà không to bằng cái quần trắng hôm qua

Thế là hai vợ chồng cãi nhau

– Giáng Sinh năm vừa rồi, tôi có tặng cho bà già vợ tôi một mảnh đất thiệt to trong một nghĩa trang thành phố rất đẹp để mai này bả có…. đi cho có chỗ đẹp.

Giáng Sinh năm nay, vợ tôi muốn biết tôi sẽ mua quà gì cho má của bả

Tôi nói : Mua quà làm gì, quà năm rồi bả chưa sài tới mà mua quà mới chi cho tốn tiền

Thế là hai vợ chồng cãi nhau

– Tôi muốn mua một thùng Heineken giá $29.90, bà xã tôi không chịu vì mắc quá. Nhưng khi tôi thấy bả mua một lọ kem dưỡng da mặt cho đẹp giá $7.50

Tôi nói : Em biết không sau khi hết thùng Heineken anh thấy em đẹp hơn nhiều

Thế là hai vợ chồng cãi nhau.

Nguyễn Văn Danh post