NHỮNG CHUYỆN KỂ VỀ TT HOA KỲ

NHỮNG ĐẶC QUYỀN

CỦA TỔNG THỐNG MỸ

Kể từ lúc giành được độc lập, Mỹ đã ấp ủ đi theo khuynh hướng dân chủ, bỏ lớp vỏ quý tộc. Song người điều hành trung ương – tổng thống – đã trở thành một con người khác so với đại bộ phận dân cư.

Thời gian trôi qua, những đặc quyền dành cho tổng thống ngày càng nhiều hơn. Mặc dù một số đặc quyền gây tranh cãi song nhìn chung người Mỹ dường như chấp nhận cách đối xử đặc biệt này.

Nghỉ hưu : Các cựu tổng thống đã nhận được khoản lương hưu lên đến 191.300 USD/năm. Ngoài số tiền đó, họ còn có một đội ngũ nhân viên được ăn lương và văn phòng làm việc, được miễn tiền điện thoại, được chu cấp phí đi lại. Họ nhận được khoản bồi thường trong trường hợp phải dời văn phòng làm việc. Được chăm sóc y tế rất  tốt tại những bệnh viện quân đội.

Các cựu tổng thống có thể ngủ ngon giấc nhờ dịch vụ an ninh tuyệt vời, dịch vụ này sẽ hỗ trợ  suốt 10 năm sau khi họ rời Nhà Trắng. Sau cùng, họ được hưởng một nghi thức lễ tang theo cấp nhà nước.

Lương bổng : Vào năm 2001, Quốc hội Mỹ đã nâng mức lương tổng thống từ 200.000 USD/năm lên thành 400.000 USD/năm. Nhưng chưa hết. Các tổng thống còn nhận thêm khoản tiền 100.000USD cho các chi phí đi lại. Ngoài ra, họ còn được 19.000USD cho các mục  giải trí. Mặc dù mức lương phải chịu thuế, nhưng những khoản tiền này không hề bị đánh thuế một xu nào.

Air Force One và Marine One : Khi tổng thống đi lại, họ cũng có phương tiện riêng. Mặc dù bất kỳ máy bay nào chở tổng thống cũng đều được gọi là “Air Force One”, nhưng cái tên này được ám chỉ cho hai chiếc máy bay phản lực Boeing 747-200B, chúng được thiết kế đặc biệt chỉ để dành cho tổng thống. Trung bình chiếc máy bay này có thể chở 70 hành khách và 26 nhân viên phi hành đoàn.

Nửa sau của máy bay là các phòng dành cho nhân viên, khu vực truyền thông và các khu vực an ninh, dưới buồng lái của máy bay là phòng của tổng thống nó bao gồm văn phòng, phòng tắm, phòng ngủ và phòng thể thao.

Tầng trên của máy bay là trung tâm viễn thông, trong khi đáy máy bay là kho chứa hàng. Riêng chiếc máy bay chở hàng mang tên C141 Starlifter chuyên chở các loại xe như những chiếc xe hơi Limousine bọc thép, sẽ chở tổng thống đến bất kỳ nơi đâu ông muốn.

Trong những chặng hành trình ngắn như từ Trại David hoặc khu Căn cứ không quân Andrews, tổng thống thường sử dụng trực thăng, nó gọi là Marine One. Hạm đội máy bay trực thăng hiện tại của tổng thống Mỹ bao gồm Sikorsky VH-3D Sea Kings và VH-60N Black Hawks. Các kế hoạch trang bị những chiếc trực thăng Marine One mới đang còn gây tranh cãi khi Lầu Năm Góc công bố vào năm 2008 rằng mỗi chiếc sẽ có giá thành khoảng 400 triệu USD

Khi các tổng thống cần thư giãn dài ngày, bao giờ họ cũng nghĩ đến việc sẽ đến khu Trại David hẻo lánh.

Vào năm 1942, cố Tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt đã xây dựng khu trang trại xinh đẹp này, trị giá 25.000USD. Trại David nằm trên đỉnh ngọn núi Catoctin, ngoại ô thành phố Thurmont, bang Maryland. Khu trang trại này nằm chỉ cách Washington D.C khoảng 113km, một nơi nghỉ ngơi yên tĩnh, hoàn toàn tách rời với khung cảnh đô thị ồn ào, sầm uất, rất lý tưởng cho tổng thống.

Vào mùa hè, nhiệt độ tại Trại David cũng mát mẻ hơn so với những khu vực xung quanh. Tổng thống Roosevelt đã thường xuyên lui tới đây trước khi ông qua đời, tên ban đầu của nó là Shangri-la – nguyên nghĩa là tên của một vùng đất thiêng ở Tây Tạng, cái tên xuất hiện trong cuốn tiểu thuyết “Chân trời đã mất”.

Tổng thống Eisenhower sau đó trùng tu khu trang trại và đổi tên nó là Trại David nhằm tưởng nhớ đến người cháu trai của mình. Tổng thống Carter sử dụng Trại David làm nơi tổ chức những buổi nói chuyện hòa bình giữa tổng thống Ai Cập và thủ tướng Israel vào năm 1978.

Ngày nay, Trại David không đón tiếp công chúng và rất  an toàn. Sau vài lần trùng tu, tại đây có 11 phòng ngủ và văn phòng, hồ bơi, khu săn bắn và sân chơi bowling. Các tổng thống đến đây bằng trực thăng.

Cadillac One : Chiếc limousine đang sử dụng cho tổng thống đương nhiệm gọi là Cadillac One. Lớp bọc thép trên cỗ xe Cadillac One này dầy đến 12,7cm, các cánh cửa xe nặng như cánh cửa của máy bay Boeing 757. Tổng thống Barack Obama đi chiếc limousine Cadillac Presidential đời mới. Hình ảnh chiếc xe này đã xuất hiện trên nhiều tờ báo quốc tế nhưng tính năng bí mật của nó thì chưa mấy người biết.

Chiếc Cadillac Presidential mới này cao hơn nhiều so với chiếc Cadillac của Tổng thống tiền nhiệm George Bush mặc dù chiều dài và chiều rộng hệt như nhau. Điều này không có nghĩa ông Obama muốn ngồi cao hơn người tiền nhiệm của ông mà chỉ đơn giản là vì ông Obama đề ra những yêu cầu cao hơn đối với vấn đề an ninh.

Chẳng hạn, người lái xe và các nhân viên bảo vệ ngồi trên xe cần có tầm nhìn bao quát hơn.

Bên trong xe được bố trí có sự phối hợp chặt chẽ với Nội các mới của Tổng thống và chẳng khác gì một văn phòng xa hoa với đủ mọi loại thiết bị liên lạc tối tân. Các ghế ngồi đương nhiên được bọc bằng da tự nhiên và trên lưng ghế có thêu hình Quốc huy Mỹ. Xe được thiết kế và thử nghiệm bởi các chuyên gia của Hãng Cadillac, có lưu ý đến một số lượng lớn những yêu cầu đối với các tính năng của xe.

Trên cánh gờ bên phải mũi xe có cắm Quốc kỳ Mỹ. Khi có Tổng thống ngồi trên xe, trên cánh gờ bên trái mũi xe có cắm thêm cờ của Tổng thống. Vào lúc trời tối, các lá cờ này được chiếu sáng bởi một hệ thống đèn .

Để bảo đảm an toàn cho Tổng thống, xe có một lớp bọc thép dầy loại B6-B7, kể cả sàn và trần, chống được lựu đạn và đạn pháo. Ngoài lớp bọc thép này, xe còn được bọc một lớp vật liệu đặc biệt.

Nếu chẳng may sa vào ổ phục kích thì sau khi bị vài trăm viên đạn bắn vào, lớp vật liệu đặc biệt này sẽ tự tỏa khói và vài giây sau sẽ bùng lên một đám lửa tạo thành môt màn khói dầy đặc có tác dụng ngụy trang cho xe.

Hơn thế nữa, cũng như bất kỳ chiếc xe nào của các Tổng thống Mỹ, chiếc Cadillac Presidential của Tổng thống Obama có một loạt chi tiết bổ sung bí mật cho phép nâng cao đáng kể khả năng bảo vệ trong trường hợp bị các loại vũ khí phi truyền thống tấn công.

Chẳng hạn, nếu bị tấn công bằng vũ khí hóa học, hòm xe lập tức được bịt kín, không để không khí lọt qua, còn nếu bị mắc kẹt một thời gian dài trong khu vực nguy hiểm thì hệ thống cung cấp không khí tự động sẽ bắt đầu hoạt động.

Đấy là chưa kể lốp xe cho phép xe tiếp tục chạy ngay cả trong trường hợp bị bắn thủng nhiều chỗ. Để làm được điều này, ở phía bên trong lốp, người ta hàn mộtvòng cao su vào vành bánh xe, nhờ đó xe có thể an toàn chạy khỏi khu vực bị bắn.

Bình xăng của xe cũng khác thường. Nếu ngẫu nhiên bị đạn hoặc mảnh đạn bắn vào thì bình xăng cũng không nổ tung hoặc bốc cháy. Đó là vì thành bình được phủ một lớp keo bịt kín đặc biệt có tác dụng bịt ngay lỗ thủng và mau chóng ngăn chặn dòng xăng chảy. Khoang động cơ và ngay cả bộ tảng nhiệt cũng được bọc thép để bảo đảm khả năng hoạt động của xe trong những tình trạng nguy hiểm.

Nhưng chiếc xe của đội cận vệ Tổng thống còn ghê gớm hơn. Chạy ngay sau chiếc limousine bọc thép của ông Obama là chiếc Chevrolet Suburban cỡ lớn có gắn súng máy trên mui xe.

Trong những trường hợp bình thường, khi đoàn xe hộ tống Tổng thống chạy trên đoạn đường đến Nhà Trắng hoặc trong các chuyến công du nước ngoài, chiếc Suburban này lặng lẽ chạy, không hề thu hút sự chú ý. Nhưng chỉ cần đội bảo vệ cảm thấy có chuyện gì đó không ổn là cửa khoang mui xe lập tức mở ra và trên mui xe lập tức xuất hiện một khẩu súng máy Gatlington 6 nòng cỡ lớn quay tròn được.

Ưu điểm của loại súng máy này là nòng súng vì quay tròn được nên mau chóng nguội đi, nhờ đó, có thể bắn trong một thời gian lâu hơn nhiều. Tốc độ bắn : 3.000 viên đạn trong một phút, bởi vậy, nó có thể phá hủy một chiếc xe chỉ trong vài giây.

Ngoài đạn chì và đạn thép, loại súng máy Gatlington còn thường sử dụng đạn uran, đạn phá và đạn xuyên để xạ thủ nhằm đúng mục tiêu dễ dàng hơn và tăng được đáng kể hiệu quả bắn.

Nhà Trắng : Nhà Trắng là một trong những biểu tượng dễ nhận biết nhất về uy tín và quyền lực của tổng thống Mỹ. Tòa nhà này được xây dựng vào những năm đầu 1800, nơi cư trú tiếng tăm này đã trải qua nhiều lần biến đổi. Cái tên Nhà Trắng được Tổng thống Theodore Roosevelt chính thức đặt năm 1901.Ngày nay, nó gồm có 132 phòng các loại và 35 phòng tắm.

Nhà Trắng gồm 6 tầng : 2 tầng hầm, 2 tầng dành cho khách du lịch và 2 tầng dành cho gia đình tổng thống. Mỗi ngày Nhà Trắng đón khoảng 6.000 du khách. Chi phí cho Nhà Trắng khá tốn kém, đắt đỏ, chỉ riêng hoa tươi dùng để trang trí cho các căn phòng đã ngốn khoảng 252.000USD/năm.Chi phí bảo trì cho Nhà Trắng hàng năm tốn xấp xỉ 4 triệu USD.

Nhân sự : Người đứng đầu các nhân viên quản gia và điều hành hoạt động tại Nhà Trắng được gọi bằng cái tên “Trưởng trợ giáo”. Người này chịu trách nhiệm giám sát các nhân viên tại 3 khu vực chính, điều phối cuộc sống riêng tư và công cộng của tổng thống.
Bếp trưởng tại Nhà Trắng là Cristeta Comerford, người phụ nữ đầu tiên giữ vững cương vị này kể từ năm 2005. Đội ngũ bác sĩ tại Nhà Trắng điều trị cho gia đình tổng thống, phó tổng thống, nhân viên Nhà Trắng và khách. Nhà Trắng có khoảng 450 nhân viên, lương trung bình 82.000USD/năm/người. Hơn 20 người được hưởng mức lương cao 170.000 USD/năm, trong đó thư ký báo chí Jay Carney.

Nhà Blair : Nhà Blair là nhà khách chính thức dành cho tổng thống Mỹ. Nó là một  gồm 4 căn nhà liên kết với nhau. Nhà Blair thực sự còn lớn hơn cả Nhà Trắng với diện tích hơn 21.336m2.

Khối nhà này có hơn 119 phòng các loại bao gồm hơn 20 phòng ngủ dành cho khách khứa và nhân viên, 35 phòng tắm, 4 phòng ăn, 1 phòng tập thể dục, một cửa hàng hoa và một tiệm làm đầu. Đã từng có một vài vị tân tổng thống và gia đình của họ đã nghỉ vài đêm tại Nhà Blair trước khi đặt chân vào Nhà Trắng. Khi các nguyên thủ nước ngoài nghỉ tại Nhà Blair, thì mặt trước ngôi nhà này sẽ tung bay lá quốc kỳ của nước họ.

NHỮNG ĐẶC ĐIỂM BÍ MẬT

CỦA CÁC TỔNG THỐNG MỸ

Từ George Washington, vị Tổng thống đầu tiên cho tới người đương nhiệm Barack Obama đều chứa đựng nhiều bí mật lý thú và gây tò mò cho công chúng.

1/. Ít ai biết George Washington, vị Tổng thống đầu tiên đồng thời cũng là người anh hùng của nước Mỹ, không thích bắt tay người khác. ông cho rằng, hành động bắt tay hạ thấp vị thế của một tổng thống. Do đó, thay vì bắt tay, ông thường cúi chào các vị khách của mình. Để tránh tình huống khó xử trong trường hợp khách đưa tay ra bắt trước, Tổng thống Mỹ thường đặt một tay lên thanh gươm của mình và tay kia giữ mũ.

2/. John Adams, Tổng thống thứ 2 và Thomas Jefferson, Tổng thống thứ 3 của Mỹ đều chết cùng một ngày. Hơn nữa, đó lại là một ngày đặc biệt của nước Mỹ, 4/7/1826, vừa tròn 50 năm ngày Mỹ ký Tuyên ngôn độc lập.

3/. Tổng thống Thomas Jefferson, (Tổng thống thứ 3) xuất thân là một nhà văn nổi tiếng, đồng thời cũng là tác giả chính của bản Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ, không thích phát biểu trước công chúng và thường tránh đọc diễn văn ở nơi công cộng. Ngoài ra, Thomas Jefferson cũng được xem là một trong những tổng thống nghèo nhất của Mỹ. Ông phải vay nợ trong suốt cuộc đời mình, trong đó có cả một khoản nợ của bố vợ mà ông có trách nhiệm phải trả thay. Sau khi ông chết, bất động sản của Tổng thống được đấu giá để trả nợ và con gái ông phải sống dựa vào trợ cấp từ một quỹ từ thiện.

4/. James Madison là Tổng thống thứ 4, có thể chất yếu ớt nhất trong số các tổng thống Mỹ. Chỉ cao nhỉnh hơn 1m6, ông nặng chưa đầy 45 kg, chỉ gần bằng 1/4 cân nặng của Tổng thống Taft, Tổng thống béo nhất của Mỹ.

5/. Tổng thống John Quincy Adams (Tổng thống thứ 6) thích bơi khỏa thân ở Potomac. Một lần, một nữ phóng viên dũng cảm muốn thực hiện cuộc phỏng vấn với Adams nên đã liều đánh cắp quần áo của ông cho đến khi nhận được cái gật đầu đồng ý trả lời phỏng vấn của Tổng thống mới thôi.

6/. Tổng thống Andrew Jackson (Tổng thống thứ 7) từng là một tay đấu súng có tiếng. Một lần, một người đàn ông nọ công kích vợ của Tổng thống Jackson, họ đấu súng. Người đàn ông bắn một phát trúng phía trên trái tim của Tổng thống Jackson. Tuy nhiên, Tổng thống vẫn giữ bình tĩnh, ngắm mục tiêu và bắn chết đối thủ. Do việc gắp viên đạn ra quá nguy hiểm cho tính mạng nên Tổng thống Jackson đành phải sống chung với nó cho đến cuối đời.

7/. Tổng thống Martin Van Buren (Tổng thống thứ 8), từng không nói được tiếng Anh. Ông được nuôi dưỡng và trưởng thành trong văn hóa và ngôn ngữ Hà Lan.

8/. William Henry Harrison là Tổng thống nổi tiếng với bài diễn văn nhậm chức dài nhất nhưng lại giữ nhiệm kỳ tổng thống ngắn nhất. Cụ thể, bài diễn văn dài dòng của ông đọc dưới điều kiện thời tiết tồi tệ. Do đó, ông bị cảm lạnh trầm trọng và qua đời chỉ sau một tháng nhậm chức. Ông là Tổng thống thứ 9 của Mỹ.

9/. John Tyler (Tổng thống thứ 10) là Phó Tổng thống đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ nhậm chức sau khi đương kim Tổng thống qua đời. Ông cũng là tổng thống có nhiều con hơn so với bất cứ đồng nhiệm nào với 15 người con tất cả.

10/. Tổng thống James Polk (Tổng thống thứ 11) được bầu làm Tổng thống Mỹ bởi lời hứa không tái tranh cử nhiệm kỳ thứ 2.

11/. Tổng thống Zachary Taylor (Tổng thống thứ 12) qua đời do mắc phải bệnh tả bởi trót ăn một bát anh đào với sữa lạnh.

13/. Tổng thống Millard Fillmore (Tổng thống thứ 13) từng từ chối nhận tấm bằng danh dự của Đại học Oxford với lý do, ông không thể đọc được những gì mà tấm bằng viết bởi nó sử dụng chữ Latin. Ông từng nói rằng: “Người ta không nên nhận một tấm bằng mà mình không thể đọc nổi nó viết những gì”.

14/. Tổng thống James Buchanan (Tổng thống thứ 15) bị đánh giá là tổng thống tồi nhất trong lịch sử nước Mỹ trong cuộc thăm dò ý kiến các sử gia bởi nhu nhược và lãnh đạo kém cỏi. Trong nhiệm kỳ của mình, James Buchanan đã không đủ kiên quyết và mạnh mẽ để chống lại âm mưu của các bang miền Nam đòi ly khai dẫn đến cuộc nội chiến đẫm máu của Mỹ. Đồng thời, ông cũng không chứng tỏ được tài lãnh đạo khi để nước Mỹ chìm trong suy thoái. Tổng thống James Buchanan cũng được cho là bị trầm cảm nặng và là tổng thống đồng tính đầu tiên của Mỹ. Ông cũng là Tổng thống Mỹ duy nhất độc thân khi đang đương nhiệm.

15/. Tổng thống Abraham Lincoln (Tổng thống thứ 16) trong các bức ảnh rõ ràng là một người đàn ông có dung mạo không ưa nhìn nhưng những người từng tiếp xúc với ông đều nhận xét, ông sở hữu khuôn mặt thông minh và điển trai. Ông là Tổng thống đầu tiên của Mỹ để một chùm râu rậm. Ông nuôi râu theo lời góp ý của một cô gái trẻ tên là Grace Bedell chứ không phải phu nhân của mình.

16/. Tổng thống James Garfield (Tổng thống thứ 20) có thể viết tiếng Latin bằng tay trái trong khi tay phải đang viết đồng thời một văn bản khác bằng tiếng Hy Lạp.

17/. Tổng thống Chester A. Arthur (Tổng thống thứ 21) đã bán toàn bộ nội thất bên trong Nhà Trắng trước khi phải rời khỏi dinh thự này. Nay nhiều đồ đạc trong số đó dù có thể lỗi mốt so với kiến trúc của Nhà Trắng hiện nay nhưng lại có giá trị kếch xù.

18/. Grover Cleveland là Tổng thống Mỹ thứ 22 và 24 đồng thời là Tổng thống duy nhất phục vụ hai nhiệm kỳ không liên tục (1885–1889 và 1893–1897). Ngoài ra, ông cũng là Tổng thống đảng Dân chủ đầu tiên được bầu sau Nội chiến Mỹ. Đặc biệt, Tổng thống Grover Cleveland có sở thích nghe điện thoại và luôn đích thân trả lời các cuộc điện thoại ở Nhà Trắng.

19/. Tổng thống Benjamin Harrison (Tổng thống thứ 23) có nỗi ám ảnh với điện. Ông và vợ không bao giờ chạm vào các công tắc điện vì lo sợ bị điện giật. Đồng thời, họ luôn bật đèn sáng trưng khi ngủ.

20/. William Howard Taft (Tổng thống thứ 27) là Tổng thống béo nhất của Mỹ nhưng đồng thời cũng giữ một danh hiệu liên quan đến thể thao. Ông là người đầu tiên khởi xướng trò ném bóng xuống sân mở đầu một mùa giải bóng chày (giống như phát bóng danh dự trong bong đá). Sau lần ném đầu tiên của Tổng thống Taft ngày 14/4/1910, hành động này trở thành nghi thức truyền thống của các tổng thống Mỹ dù không có văn bản nào quy định điều này.

21/. Tổng thống Woodrow Wilson (Tổng thống thứ 28) là Tổng thống có học vị cao nhất của Mỹ với một tấm bằng tiến sĩ dù ông không được học đọc cho tới khi tròn 7 tuổi.

22/. Tổng thống thứ 30 của Calvin Coolidge là người rất kiệm lời. Do đó, ông có tên thân mật là “Cal ít nói”.Mỹ

23/. Tổng thống thứ 31 của Mỹ Herbert Hoover và vợ có khả năng nói thông thạo tiếng Quan Thoại. Khi họ trao đổi riêng tư và không muốn người khác nghe được, họ sẽ nói chuyện bằng tiếng Quan thoại.

24/. Tổng thống thứ 32 của Mỹ Franklin Delano Roosevelt có vợ cũng mang họ Roosevelt. Do đó, Đệ nhất phu nhân không cần thay tên họ khi kết hôn với Tổng thống Franklin.

25/. Khi tàu bị đánh chìm trong Chiến tranh thế giới thứ 2, Tổng thống thứ 35 của Mỹ, John F. Kennedy đã cố cứu sống một thủy thủ bị thương bằng cách buộc một sợi dây vào răng và kéo người này vào bờ. Tổng thống đã bơi một chặng đường 3,5 km.

26/. Tổng thống thứ 36 của Mỹ, Lyndon Johnson nghiện uống Fresca đến nỗi cho xây hẳn một vòi phun Fresca trong Nhà Trắng.

27/. Tổng thống thứ 37 của Mỹ Richard Nixon thích chơi bowling đến nỗi lấp hồ bơi trong Nhà Trắng để xây một làn bowling.

28/. Tổng thống thứ 38 của Mỹ, Gerald Ford là người duy nhất không được bầu vào cương vị tổng thống hay phó tổng thống. Ông được Tổng thống Richard Nixon bổ nhiệm làm phó tổng thống và sau đó đảm nhận cương vị TT Mỹ sau khi Nixon từ chức.

29/. Tổng thống thứ 41 của Mỹ, George HW Bush đã “nôn thốc nôn tháo” ngay giữa bữa tiệc chào đón ông đến thăm Nhật Bản được tổ chức bởi Thủ tướng nước này.

30/. Tổng thống thứ 42 của Mỹ, Bill Clinton từng là thành viên của một ban nhạc Jazz gồm 4 thành viên hồi còn học phổ thông. Ban nhạc này có tên Three Blind Mice (a chú chuột mù) và luôn biểu diễn với những cặp kính râm.

31/. Tổng thống thứ 43, George W. Bush giữ kỷ lục là tổng thống có tỷ lệ ủng hộ cao nhất và thấp nhất của Mỹ. Tỷ lệ ủng hộ đối với ông Bush tăng lên đỉnh điểm sau sự kiện 11/9 và giảm xuống mức thấp thảm hại so với bất cứ tổng thống nào của Mỹ sau thảm họa siêu bão Katrina tàn phá Mỹ.

32/. Tổng thống đương nhiệm Barack Obama thường thích đọc những bài báo có nội dung phê bình về mình hơn là các bài toàn lời khen ngợi. Ngoài ra, Tổng thống thứ 44 của Mỹ cũng rất thích sưu tập truyện tranh và có thể nói trôi chảy tiếng Tây Ban Nha.

Mai Trung Tín post (theo Phương Đăng)

VŨ KHÍ CỦA ĐÀN BÀ

Bóng hồng làm cựu

Bộ trưởng Quốc phòng Nga mất chức

Chân dung người phụ nữ là trung tâm của vụ bê bối khiến cựu Bộ trưởng Quốc phòng Nga Anatoly Serdyukov mất chức và dẫn đến một cuộc cải tổ lớn trong lực lượng vũ trang nước này lần đầu tiên được tiết lộ.

Bà Yevgeniya Vasilyeva, 33 tuổi, được cho là người tình của ông Anatoly Serdyukov, 50 tuổi, người bị Tổng thống Nga Vladimir Putin cách chức tuần trước. Cơ quan điều tra nhà nước đã phát hiện vụ tham nhũng 60 triệu bảng Anh ở Oboronservis, một công ty thuộc quốc phòng, nơi ông giữ chức chủ tịch hội đồng quản trị cho đến năm ngoái.

Cả ông Serdyukov và bà Vasilyeva, giám đốc của Oboronservis đều không bị buộc tội, nhưng bà là nghi can chính trong vụ việc. Các nhà phân tích ở Moscow cho rằng cựu Bộ trưởng Quốc phòng sẽ sớm bị triệu tập thẩm vấn.

Khi cảnh sát lục soát căn hộ sang trọng của bà Vasilyeva tại thủ đô Moscow tháng trước, họ phát hiện ra ông Serdyukov đang ở trong nhà, theo Life News, hãng tin có mối quan hệ thân thiết với điện Kremlin và các cơ quan thực thi pháp luật.

Các nhà điều tra nhà nước đã thu giữ một số kim cương, ngọc, trang sức, đồ cổ và tiền mặt trị giá lên tới 620.000 bảng Anh.

Trong bức ảnh, bà Vasilyeva, tóc màu vàng, mặc chiếc váy lấp lánh nghiêng về phía người bạn có mái tóc màu hạt dẻ trong một nhà hàng. Người chụp cùng bà trong bức ảnh là bà Yekaterina Smetanova, chuyên gia trước đây làm việc cho Bộ Quốc phòng, người bị buộc tội gian lận vào hôm thứ tư tuần trước trong vụ Obronservis cùng chồng là Maxim Zakutaylo.

Tất cả những người ngày bị cáo buộc giúp đỡ mua bán bất hợp pháp tài sản của Bộ Quốc phòng cho các công ty trực thuộc và bán các tài sản của Bộ với giá thấp hơn nhiều so với thị trường cho các công ty trên để ăn tiền lại quả.

Người ta cho rằng thông tin về mối quan hệ của cựu Bộ trưởng và bà Vasilyeva được ông Viktor Zubkov, bố vợ ông Serdyukov, tiết lộ. ông Zubkov, 71 tuổi, là Chủ tịch đầy quyền lực của Tập đoàn dầu khí Nga Gazprom, đồng minh thân cận của Tổng thống Putin. Ông Zubkov rất có thể tức giận vì cựu Bộ trưởng đối xử ghẻ lạnh với con gái mình là Yulia, 42 tuổi.

Cô Vasilyeva hiện đang trị bệnh trong bệnh viện, song sẽ sớm bị thẩm vấn.

(theo Phan Yến Telegraph)

TT OBAMA

GIẤU VỤ NGOẠI TÌNH

CỦA GIÁM ĐỐC CIA ?

Tổng thống Mỹ Barack Obama đang phải đối mặt cáo buộc liên quan vụ từ chức của Giám đốc CIA David Petraeus : Vụ đại tướng Petraeus quan hệ với gái có chồng được FBI phát hiện mấy tháng trước, nhưng bị ỉm đi do bầu cử ? Nhiều khả năng Quốc hội Mỹ sẽ điều tra cáo buộc rằng, vụ ngoại tình của Giám đốc Cục Tình báo Trung ương (CIA) bị bưng bít để bảo vệ chiến dịch tái tranh cử của Tổng thống Obama.

Nhiều người cho rằng, vụ việc được Cục Điều tra Liên bang (FBI) phát hiện hồi đầu năm, nhưng chỉ được công bố sau ngày bầu cử tổng thống.

FBI bắt đầu điều tra hồi tháng 2 sau khi phát hiện máy tính của tướng Petraeus (60 tuổi) bị một người khác truy cập, dấy lên lo ngại về một lỗ hổng bảo mật lớn. Các điều tra viên tin rằng, người truy cập là người tình của ông Petraeus – bà Paula Broadwell (40 tuổi). Vụ điều tra dẫn tới việc phát hiện hàng trăm thư điện tử có nội dung tình cảm, trong đó có một email ngụ ý việc “quan hệ tình dục dưới gầm bàn”.

Ông Frances Townsend, cựu quan chức an ninh chính phủ Mỹ, nay là thành viên Ủy ban Tư vấn CIA, nhận định : “Mỗi khi FBI mở cuộc điều tra về một quan chức cấp cao, họ phải thông báo về việc đó, đặc biệt khi liên quan lĩnh vực tình báo. Rất khó tin rằng Nhà Trắng không biết việc này trước bầu cử”.

Các quan chức Nhà Trắng luôn khẳng định rằng, chỉ đến hôm 7/11 (một ngày sau ngày bầu cử), Tổng thống Obama mới biết vụ ngoại tình của Giám đốc CIA David Petraeus. Ngày 8/11, ông Obama chấp nhận đơn từ chức của đại tướng Petraeus. Vụ việc được công bố ngày 9/11.

Một số chuyên gia cho rằng, vụ bê bối tình ái chỉ là màn khói để ông Petraeus không phải giải trình trước một ủy ban Thượng viện (dự kiến diễn ra trong tuần này) về việc đại sứ Mỹ và ba nhân viên sứ quán thiệt mạng hồi tháng 9 ở thành phố Benghazi của Libya.

Nhà Trắng bị cáo buộc bỏ qua những cảnh báo liên tiếp về một vụ tấn công khủng bố của Al Qaeda nhằm vào Lãnh sự quán Mỹ ở Benghazi.

Một quan chức trong Quốc hội Mỹ nói : “Việc từ chức rất tiện lợi cho chính quyền. Liệu ông ấy (tướng Petraeus) sẽ tiết lộ rằng, CIA biết tòa nhà lãnh sự ở Benghazi có nguy cơ bị tấn công, nhưng Washington không làm gì để bảo đảm an toàn ?”. Các thành viên của Ủy ban Tình báo Thượng viện có thể vẫn bỏ phiếu buộc ông Petraeus phải giải trình.

Một nguồn tin giấu tên nhận định : “Đây có thể là một vụ Watergate nữa, nhưng không phải là sự kiện khiến tổng thống về vườn mà là về việc bưng bít thông tin”.

Bà mẹ hai con Broadwell, người chuyên viết tiểu sử, bắt đầu quan hệ tình ái với tướng Petraeus (chung sống với vợ là Holly 37 năm qua) từ năm 2010, khi bà gặp ông ở Afghanistan. Thời điểm đó, bà Broadwell đang làm nghiên cứu về tiểu sử. Bà nói, tình cảm của họ nảy nở qua những lần tập chống đẩy và chạy 5 dặm trong sa mạc.

Trong thời gian bà Broadwell phỏng vấn ông Petreaus cho cuốn sách của mình, hai người thường chạy trong vùng đồi núi ở thủ đô Kabul của Afghanistan. “Đó là nền tảng mối quan hệ của chúng tôi”, bà nói. Tuy nhiên, bà nói rằng, quan hệ của hai người bắt đầu khi họ ở Washington. Tướng Petraeus chỉ huy các lượng lượng quân sự Mỹ ở Afghanistan và Iraq trước khi dẫn dắt CIA.

Bà Broadwell nói mình đang nghiên cứu tại Trung tâm Lãnh đạo công của Đại học Harvard, và là nghiên cứu sinh về chính sách công tại Trường King’s College London (Anh). Bà nhận bằng thạc sĩ quản lý cộng đồng từ trường Kennedy thuộc Harvard. Bà Broadwell có bằng về địa chính trị và kỹ thuật hệ thống của Học viện Quân sự Mỹ ở West Point. Tại đây, bà đứng đầu trong lớp về xếp loại thể lực. Hồi học phổ thông, bà là người đọc diễn văn từ biệt trong lễ tốt nghiệp. Bà từng làm người mẫu cho một nhà sản xuất súng máy.

(theo Thái AnDaily Mail, New York Times, AP)

Nguyễn Văn Danh post

Advertisements

THẦY THUỐC GIA ĐÌNH

MỘT KINH NGHIỆM

CỦA NGƯỜI BỊ

BỆNH UNG THƯ

Hương viết ra những gì H biết để tất cả các bạn tham khảo, có ích cho chính mình, thân nhân và bằng hữu vì mầm Ung Thư hiện diện trong tất cả mọi người, chỉ đủ chance là nó bùng phát.

Hương đã kinh qua một thời gian bệnh Cancer : gồm 3 tháng dò tìm bệnh, 8 tháng trị chemotherapy, 1 tháng Radiotherapy, còn thử máu thì lia chia… vậy mà ròng rả 1.5 năm mới vượt qua khỏi.

Thời gian tìm bệnh cũng nhiêu khê vì có nhiều kỹ thuật đang dùng vẫn không đáng tin cậy như Ultra Sounds, Mammogram, Needle Biopsy: hễ họ nói có thì chắc có bệnh, nếu nói không thì phải xét lại, vì lấy sample sai chổ, vì xớ thịt quá condense…

Cũng tại bệnh Tiểu Đường, khiến ăn cơm rất ít; trời lạnh mau đói, lại thêm bạn chỉ cách làm Nem Chua (sau này mới biết bột làm Nem Chua có nhiều Hàn The), tự làm ăn thấy ngon, nên ăn lai rai… cộng thêm làm việc tối đa, lo toan nhiều việc, phiền não cũng bộn… Cuối cùng rước bệnh cũng là lẽ tất nhiên.

Cũng vì bệnh, sau khi mổ, bệnh viện dạy cách meditation (tĩnh tâm), làm theo họ chỉ; bỗng chợt nghĩ ra cái vụ Thiền này còn ai hơn Đức Phật, mình mang tiếng theo đạo Phật mà chả biết gì cũng thật uổng, ngày xưa đi học, đeo đuổi riết con đường khoa cử, giờ đây xem ra cũng gần đất xa trời, cũng nên tìm hiểu đạo Phật xem sao… thế là con đường “Hướng về cõi Phật” bắt đầu từ đó.

Khi phát giác ra bệnh, phần chánh vẫn phải nhờ chiếu tia X (Radiotherapy), dùng thuốc tây rất mạnh một lúc cho vào vài loại, thuốc truyền vào gân máu (Chemtherapy), thuốc vào tới đâu là ớn người đến đấy.

Thường thì thuốc rất mạnh, chính nó cũng làm người bệnh suy yếu vì đặc tính của tế bào ung thư là cứ sinh sản lia chia, nên thuốc cứ tìm tế bào nào đang sinh sản là thanh toán. Tế bào bình thường của cơ thể cũng đang sanh sản, nhưng ít hơn tế bào Ung Thư, nên sau khi vào thuốc lần đầu sẽ bị lở màng bên trong miệng, sau cỡ 3 lần tóc rụng gần hết như bệnh ban, và chấm dứt  kinh nguyệt (nếu người bệnh còn trẻ dưới 43 tuổi, sau khi chấm dứt trị liệu sẽ có kinh nguyệt trở lại).

Có người yếu hơn, có thể chết chỉ sau 3 lần vào thuốc (cứ 2 tuần vào thuốc 1 lần).

Bạch Huyết cầu và hồng cầu cũng bị tiêu diệt rất rất nhiều, do vậy người đang trị bệnh trở nên xanh xao, vàng vọt hơn vì hồng cầu xuống quá thấp, và người bệnh dễ mắc các chứng bệnh truyền nhiễm khác vì bạch cầu cũng xuống rất thấp, do vậy trước khi vào thuốc, phải đi thử máu để họ đo hồng cầu và Bạch Cầu có xuống quá tệ chăng, thì chờ thêm 1 tuần nữa cho lại sức để ready cho cuộc “hành quân” kế )

Nói chung khi thuốc vào, tức thì thấy bồn nôn, ói mửa liền tù tì…thuốc làm cho xiểng niểng, làm te tua còn hơn trước khi cho thuốc. Chỉ duy có 1 hy vọng là nó giết giùm các tế bào ác tính ấy.

Còn Radiotherapy, tùy theo bệnh nặng nhẹ, cũng phải làm hàng ngày kéo dài cả tháng, mỗi ngày họ chiếu tia X vào chỉ 4 phút, và da sẽ bị cháy nám dần dần. Bác sĩ này phải tính toán rất hay để tia X chỉ đến phần thịt mà không đến phần xương; bởi vì thân mình không thể phẵng, họ phải tính tia X đến phải dừng theo hình cong của cơ thể. Nếu không chính xác, tia X sẽ cháy xương và làm dòn xương, có thể gẫy xương.

Tóm lại đối với người bệnh Cancer, có nhiều việc phải chú ý, phụ thuộc vào sự trị liệu của bác sĩ:

Không cho thêm vào người những chất tạo Cancer nữa :

1/- Hàn The (làm dòn, dai thức ăn biến chế) nên xem lại các món có nó như thịt Nem Chua, Nem Nướng…coi lại xem trong nhiều thức ăn biến chế như bánh tráng, bánh phở, mì…họ có cho thêm chăng?

2/- Sau này hàng Trung Quốc bị các nước phát giác có rất nhiều chất gây hại sức khỏe, nhất là Ung Thư, có những nước tương chứa chất gây Cancer 5000 lần hơn bình thường ! Có cả list nhiều hiệu nước tương không thể dung ! nếu kỹ nên dùng nước tương của Singapore, Nhật, Đức

3/- Thịt nướng bị cháy không nên ăn, chất bị cháy cũng là nguyên nhân gây bệnh. Tránh xa tia Microwave, khi xài oven nên đứng xa dù họ bảo window của nó không leaking các tia.

4/- Không ăn thịt đỏ như thịt bò, thịt heo, nên ăn thịt trắng như thịt gà, nhớ tránh ăn cánh gà, vì nơi đây người nuôi hay chích hormone cho gà mau lớn, mau bán…độc
Nói chung bớt thịt, thêm rau quả.

5/- Tránh chất béo, tránh quá nhiều đường, 2 thứ này tế bào Ung Thư ưa thích.

6/- Nắng gắt có nhiều tia tử ngoại UV cũng làm ung thư da, đừng tưởng xài cream chống nắng là OK, rồi ra phơi nắng (để thêm vitamin D) ( lớp ozone là phân tử có 3 nguyên tử Oxygen) trên bầu khí quyển bị trống 1 lỗ to, do khí thải của các nước phát triển kinh tế, quá nhiều nhà máy phun ì xèo khói, có nhiều carbonic bay lên làm phá dần lớp Ozone che chở ấy!)

Thức uống trong siêu thị cũng bỏ nhiều chất chống hư = chất bảo quản (preservatives), cũng không tốt, ăn và uống các thứ trái cây rau quả tự nhiên không qua biến chế, để dành lâu vẫn tốt hơn. (chuyện đến đây là hết mức của mình, nếu nói xa hơn, trái cây rau quả, người trồng cũng bỏ phân bón hoá học, thuốc trừ sâu bọ…để cho ra hoa quả tươi tốt, được mùa, giữ lâu không hư khi bán…)

Hồi đó thấy dân tây phương tự trồng rau trái, lấy làm lạ sao họ chịu khó đến thế! thì ra là vậy : sợ Ung Thư quá chừng chừng !

7/- Có những người làm trong phòng thí nghiệm, cũng nên lưu ý có nhiều hoá chất gây ung thư gọi là Carcinogen.

8/- Thứ mà mình ít lưu ý là tránh mua nhà gần các vùng điện cao thế, nơi đó nhà rẻ hơn, VN ta thích rẻ, không để ý việc nguy hiễm vô hình, âm thầm !

9/- Một thứ không ai biết là có những vùng, phía dưới đất có chất phóng xạ (tia phóng xạ vào người sẽ bắn tứ tung hết tế bào này qua tế bào khác), từ đất chất phóng xạ lúc nào cũng phát ra nào ai biết được! chuyện này đành xí cho trời đất thôi, nói cho đủ vậy mà.

(Thật ra sinh viên đi học, có bài vật lý cũng học về chất phóng xạ, có khi chưa học lý thuyết đã cho thực tập, họ đã dặn dùng kẹp gấp nó, mà rớt tới rớt lui, có khá nhiều sinh viên cũng thò tay bóc nó mà không biết trực tiếp tiếp xúc càng nguy cơ Ung thư !)

Có nhiều phương pháp tìm bệnh phải nhờ chất phóng xạ để biết chổ nào tim nghẹt, chổ nào đang bị Ung Thư… như là làm MRI, họ chích 1 lượng rất ít chất phóng xạ, sau đó cho nằm dài trong 1 máy to, giữ im lìm như khúc gỗ trong suốt thời gian máy rà từ đầu đến chân để tìm xem có Ung Thư chổ nào! Khi bị Ung Thư mà nghe cho thêm phóng xạ vào là lo lắm, nhưng họ bảo đảm là lượng rất nhỏ không gây bệnh! đành vậy thôi !!)

Dùng các dược liệu :

Chống Ung Thư là chống các gốc tự do, free radical, uống 3 vitamin cần kết hợp là (A+C+E) để chống các gốc tự do ấy.

a/- Tỏcó khả năng chống Ung Thư và kháng trùng, tạo thêm kháng thể ,vì trị Ung Thư nên dùng liều khá hơn bình thường, có thể dùng rượu Tỏi (2 củ tỏi xay cho vào 200 ml rượu), mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 1 muỗng canh.

b/- Cabbage = Cải bắp : dùng máy Extractor, sẽ rút nước, bỏ xác, mỗi bắp cải có thể rút ra 500ml, mua vài bắp rút ra được nhiều hơn, mỗi ngày uống 250 ml hay 1 ly.

c/- Măng Tây, broccoli

d/- Chống Ung Thư là chống các gốc tự do, free radical, uống 3 vitamin cần kết hợp là (A+C+E) để chống các gốc tự do ấy, các vitamin này có thể mua ở dạng tablet hay mình có thể xây sinh tố uống rất hiệu quả, có lần xem TV thấy 2 ông bà uống 3 tháng hết bệnh: họ xây cam, táo, cà chua, cabbage, cà rốt…

e/- Có thể xay Lô Hội và bỏ thêm 1 muỗng Mật Ong để cơ thể khoẻ hơn, thêm kháng thể.

Giữ thân khoẻ mạnh, tâm an vui :

1/- Tập thể dục, massage  cho máu chạy đều hoà, cho các chất ăn uống trên phân phối đầy đủ cơ thể.

Kèm theo thở theo kiểu thở bụng để thêm tối đa oxygen và thải toàn vẹn carbonic. Thở bụng là bắt đầu thở ra trước, khi thở bụng hóp từ từ, cách mô sẽ kéo lên, khí sẽ lùa ra hết, sau đó hít vào từ từ, cách mô kéo xuống, buồng phổi sẽ to ra, chứa nhiều không khí hơn, đến khi hết hít vào thêm được, ngưng 1 chút để áp lục này sẽ làm sự trao đổi khí hiệu quả, oxy vào máu, carbonic thải ra phổi, và sau đó thở ra, cứ thế mà làm.
Thở bụng có thể thực hiện lúc nào cũng nên, ngay cả trước khi ngủ cũng sẽ cho giấc ngủ sảng khoái không mộng mỵ

2/- Tâm an vui : Người bệnh Ung thư, thường không là người èo ọt, rất active, nên đôi khi làm quá sức của mình, và lắm khi cũng rơi vào stress…khi bệnh không làm gì được lại xuống tinh thần, buồn rầu, lo âu…: những thứ này sẽ làm bệnh tệ ra; cho nên phải giữ tinh thần vững chãi, chấp nhận việc gì đến cứ đến, nếu cần tập Thiền cũng là cái lợi không những cho sức khoẻ mà còn cho tinh thần, và xa hơn nữa là cho tâm linh.

Chính cái thở sẽ là trung gian giữa thân và tâm linh, khi biết điều hoà hơi thở đến nhẹ nhàng, cũng là làm cho tâm thanh thản, sẽ điều hoà hai hệ thần kinh Trực Giao Cảm và Đối giao Cảm sẽ làm mạch máu mở rộng để máu đến nuôi tế bào thần kinh đầy đủ, rồi làm tâm yên bình và sẽ có thêm đạo lực, khiến tâm không chao đảo trước nhiều tình huống, và khi gần với đạo, sự chết nếu đến sẽ không còn gì đáng sợ, nhưng cũng trong cái không còn sợ chết ấy cũng là chỗ có thể còn sống.

Nói chung bệnh Ung Thư phát giác càng sớm càng có cơ hội sống sót, chờ nó phát tát (di căn) qua chỗ mới là không thuốc trị cho nên từ lúc không bệnh, nên biết để sinh sống hầu ngăn ngừa.

H viết 1 lèo và gởi nên khó đầy đủ như ý, nhưng cũng tạm đủ cho người cần nó.
Viết dài, thường sau khi gởi đi mới phát giác trật vài lỗi chính tả, vậy xin các bạn miễn chấp nhé.

Các bạn có thể chuyển cho bất cứ ai cũng là điều nên làm, vì may ra có thể giúp những người chưa bệnh sẽ không bệnh.

Thân ái Thanh Hương

Đinh Mỹ Chơn (chuyển tiếp)

TRÁI CHANH

BÀI THUỐC ĐA NĂNG

Một ông bạn già cho biết mỗi tuần vắt một trái chanh vào nước nóng, uống sau bữa ăn (lúc ăn no) thời tim mạch tốt: không bị cao mỡ hay cholesterol. Mỗi khi đi ăn tiệc, ông cũng làm như vậy. .. Bảo đảm tốt. Thử coi, không có hại đâu…

Cách tôi uống như sau :

– Sáng dậy, tôi lấy 1 quả chanh giấy (mầu vỏ xanh) vắt vào 1 ly nhỏ, thêm vào khoảng 3,4 muỗng nước… hoặc 1 chút mật ong nếu bạn không bị tiểu đường (lưu ý bạn nào dưới 110 pounds thì chỉ nên uống nửa trái thôi)

– Sau đó, khoảng 45 phút (phần này theo hay không tùy bạn  tôi uống 1 ly nước ( loại ly lớn ) nước lọc.

Tôi thường uống liên tục như thế trong 5 ngày và nghỉ 2 ngày.. Chẳng có “side effect ” gì cả bạn ạ…

Chanh trừ được các bệnh ung thư

– Trái chanh là một sản phẩm kỳ diệu chuyên giết các tế bào ung thư

– Nó mạnh gấp 10.000 lần hơn liệu pháp hóa học (chimiothérapie)

– Từ đây về sau quí vị có thể giúp bạn bè nào cần bằng cách cho họ biết là nước chanh rất cần thiết để ngừa bịnh.

– Mùi vị của chanh rất là tốt và nó không có gây ra những tác dụng kinh khủng như các loại liệu pháp hóa học (chimiothérapie)

– Quí vị có thể dùng chanh với nhiều cách khác nhau : quí vị có thể ăn cả võ, vắt chanh ra uống, uống nước đá chanh đủ kiểu, làm bánh v.v.v.v……

– Người ta cho trái chanh hay nhiều thứ lắm nhưng quan trọng và hay nhất là hiệu quả của nó đối với ung nhọt và bướu.

– Cây chanh là một vị thuốc đã chứng minh là trị được tất cả các loại ung thư. Có những người khác còn xác nhận là nó có một công dụng rất lớn trong mọi loại biến thể của các loại ung thư

– Người ta cũng còn xem chanh như là một loại thuốc chống đủ loại vi trùng, chống các loại viêm do vi khuẩn, và nấm, rất hữu hiệu chống ký sinh trùng và sâu (mầm bệnh) trong máu, nó lại có thể điều hòa được huyết áp (quá cao hay quá thấp) chống áp xuất cao và rối loạn thần kinh

– Tài liệu nầy có được từ một trong những nhà bào chế thuốc lớn trên thế gìới, người nầy xác nhận là sau trên 20 lần thử nghiệm từ năm 1970 ở viện bào chế, mới thấy được là :

– Chanh tiêu diệt các tế bào tinh quái trong 12 loại ung thư, gồm cả ung thư đường ruột ung thư ngực, vú , ung thư tiền liệt tuyến, phổi, lá lách (tuyến tụy)…

– Cây chanh và trái chanh được cho thấy có hiệu quả 10.000 lần hơn sản phẩm Adriamycin, một loại thuốc hóa học thường được dùng trên thế giới để làm chậm lại sự nẩy nở của tế bào ung thư

– Và còn lạ lùng hơn nữa là loại nước chanh trị bịnh nầy chẳng những diệt được các loại tế bào ung thư mà không bao giờ ảnh hưởng đến các tế bào sạch. (theo Viện Khoa Học và Sức Khỏe, Baltimore)

AI THÍCH ĂN PHỞ TÁI

NÊN ĐỌC BÀI NÀY

Phở tái ẩn chứa nguy cơ nhiễm ký sinh trùng. Sáng ngủ dậy, chị Thơm thấy trong quần có những mảng màu trắng đục, dài khoảng 3-4 cm, dẹp như xơ mít. Đến viện khám, chị “té ngửa” khi biết mình bị nhiễm ký sinh trùng do hay…ăn phở bò tái.

Tưởng bổ mà hại

Tiến sĩ – bác sĩ Siêu, Giám đốc Trung tâm Y tế dự phòng ở Sào Gòn, chuyên gia về bệnh ký sinh trùng cho biết thói quen ăn thịt tái tưởng như bổ dưỡng nhưng lại ẩn chứa nhiều nguy cơ nhiễm ký sinh trùng nguy hiểm.

Bác sĩ Siêu không thể quên được trường hợp của chị Đặng Thị Thơm, 35 tuổi, một công chức, ngụ tại quận Bình Thạnh. Chị Thơm đến khám, cho biết sáng sớm ngủ dậy thấy đáy quần lót có những vật thể nang màu trắng đục. Kiểm tra trên giường chị Thơm cũng thấy những dốt sán như trên rải rác…

“Cô ấy vô cùng hoảng sợ, cho biết đã từng đến tiệm thuốc Tây, miêu tả bệnh, được hướng dẫn mua thuốc tẩy giun về uống nhưng không khỏi.”, bác sĩ Siêu kể.

Sau khi thăm khám, bác sĩ Siêu biết bệnh nhân đã bị nhiễm sán dải bò (Taenia saginata một loại ký sinh trùng hình dáng dài, dẹt, nang sán nằm trong thớ thịt bò).

Bệnh nhân tâm sự thường ăn phở bò tái mỗi bữa sáng. Như vậy, bệnh nhân bị sán dải bò nằm trong miếng thịt bò tái vẫn chưa chết, theo đường ăn uống thâm nhập vào cơ thể. Những đoạn màu trắng đục, dẹp mà chị Thơm thấy ở quần lót và trên giường chính là nang chứa hàng trăm ngàn trứng của sán dải bò rơi ra từ hậu môn.

Theo bác sĩ Siêu, trường hợp bị nhiễm sán dải bò như chị Thơm không hề hiếm.  Trước đây, khi còn khám bệnh tại khoa khám bệnh – Bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới, trung bình mỗi tuần bác sĩ Siêu gặp ít nhất từ 5 đến 6 bệnh nhân nhiễm sán dải bò.

Điều đáng nói, những bệnh nhân này có cả nam và nữ, đa phần là dân công chức. Nguyên nhân mắc bệnh có điểm chung là đều ăn thịt bò tái. Khi xâm nhập vào cơ thể người, sán dải bò hút chất dinh dưỡng để sống. Người nhiễm phải chúng thường xanh xao, suy dinh dưỡng, uể oải.

Sau khi ăn phải thịt bò có sán dải bò khoảng 3 tuần nạn nhân sẽ thấy các triệu chứng như trường hợp của chị Đặng Thị Thơm nói trên. Bệnh nhiễm sán dải bò không khó chữa nhưng dễ tái phát bởi trứng của chúng từ người nhiễm, vương vãi khắp chăn, màn, chiếu, gối, bàn ghế…

Muốn chữa trị dứt hẳn bệnh nhiễm sán dải bò, bác sĩ phải yêu cầu cả gia đình bệnh nhân phải uống thuốc điều trị đặc hiệu. Chăn, màn, chiếu, gối, quần áo… của cả nhà người bệnh cần được giặt nước sôi trong vòng 2 tuần để giết hết trứng sán.

Yên Huỳnh post

NHỮNG TRUYỆN THẬT NGẮN

1/-. Đôi mắt

Có một cô gái không may bị mù, quen biết một chàng trai, 2 người cùng yêu nhau, dến một ngày cô gái nói với chàng trai: “Khi nào em nhìn thấy được thế giới, em sẽ lấy anh”. Rồi đến một ngày kia cô gái được phẩu thuật mắt và cô đã nhìn thấy được ánh sáng. Chàng trai hỏi: “Bây giờ em đã thấy được cả thế giới, em sẽ lấy anh chứ?”
Cô gái bị ngẩn ngơ choáng váng khi thấy chàng trai cũng bị mù như mình. Cô ta từ chối anh. Chàng trai ra đi trong nước mắt và nhắn lại rằng: “Hãy giữ gìn cẩn thận đôi mắt của mình em nhé, vì đó là món quà cuối cùng anh có thể tặng em”.

2/-. Điện thoại (Võ Thành An)

Nhà không có điện thoại, anh Hai đi làm xa muốn thăm Mẹ phải gọi nhờ nhà hàng xóm. Người hàng xóm không vui lòng nhưng chẳng nói ra. Anh Hai ngại nên những cuộc gọi về cứ thưa dần.

Mẹ dành dụm tiền, nhà mắc được điện thoại. Cũng có khi do bận việc nên cả tuần anh Hai mới gọi về một lần. Từ ngày nhà có điện thoại Mẹ ít đi đâu, làm gì cũng loay hoay bên chiếc máy. Có người hỏi lý do, Mẹ nói: “Sợ thằng Hai gọi về mà không gặp được”.

3/-. Nghịch lý (Văn Triều)

Thanh minh. Bàn chuyện cải mộ Mẹ, anh Hai nói:

– Tôi góp một phần.

– Tôi một phần.

– Tôi cũng một phần.

Thím Tư chen vào, như đùa như thật:

– Chú Út hai phần mới phải. Anh Tư đâu hưởng gì đâu ?!

Chợt nhớ lúc nhỏ, mấy anh em ngủ chung với Mẹ. Đêm, muổi vào mùng cắn Mẹ. Mẹ không đập, sợ hụt, cứ để muổi cắn Mẹ no rồi sẽ không cắn các con.

Ôi! Tình yêu của Mẹ là thế. Có chia phần bao giờ đâu !

4/-. Tóc sâu (Song Khê)

Sáu tuổi. Tôi vọc tay trong vườn tóc ngoai, reo vang : “Con tìm được sợi trắng rồi !”.

Mười tuổi. Tôi cột – mở búi tóc của ngoại, phụng phịu: “Mấy sợi bạc con nhổ hết hồi hôm kia, bữa nay lại chui ra nữa!”.

Mười lăm tuổi. Tôi vừa chạy ra cửa vừa nài nỉ: “Cho con đi chơi một chút đi ngoại. Lát nữa hãy nhổ tóc sâu”.

Mười tám tuổi. Tôi nhìn lên mái tóc ngoại trắng phơ, bất động trong bức ảnh cao cao, rưng rưng thắp một điều ước.

5/-. Tiền mừng tuổi (Trương Đình Dạ Vĩnh)

Năm bảy tuổi, Mẹ bảo đưa tiền Mẹ cất cho … Nó đếm mấy chục ngàn tiền lì xì rồi miễn cưỡng đưa Mẹ cất giùm vì trước kia không bao giờ thấy Mẹ trả lời.

Năm mười tuổi, nó lén cất tiền không cho Mẹ biết.

Mười tám tuổi, nó mang nổi nhớ quê hương bước vào đại học ở tận miền trong xa xôi.

Tết. Ký túc xá vắng hoe. Phương bắc xa xôi nó không về được. Nó nằm co trên giường cằm giấy nhận tiền của Mẹ mà thấy ân hận, xót xa.

6/-. Khóc (Bùi Phương Mai)

Vừa sinh ra đã vào trại mồ côi, trừ tiếng khóc chào đời, chồng tôi không hề khóc thêm lần nào nữa.

Năm hai mươi tuổi, qua nhiều khó khăn anh tìm được Mẹ, nhưng vì danh giá gia đình và hạnh phúc hiện tại, một lần nữa bà đành chối bỏ con. Anh ngạo nghễ ra đi, không rơi một giọt lệ.

Hôm nay 40 tuổi, đọc tin Mẹ đăng báo tìm con, anh chợt khóc. Hỏi tại sao khóc. Anh nói :

– Tội nghiệp Mẹ, 40 năm qua chắc Mẹ còn khổ tâm hơn anh.

7/-. Nói dối (D.A.D)

Ngày đó nhà nghèo Cha mất , Mẹ tần tảo nhưng không đủ ăn. Để con có bữa ngon, Mẹ gởi con về giổ họ. Giữa đám cúng đông vui, chẳng ai đoái hoài, con bơ vơ lạc lõng… Về nhà Mẹ hỏi con né tránh: “Dạ vui! Cô bác mừng con…!!!”.

Lớn lên, con đi làm xa, tạm gọi là thành đạt. Ngày giỗ họ con về cùng con trẻ, mọi người vui gặp gỡ, chăm sóc đủ điều, từ miến ăn, chiếc bánh…

Về nhà nhìn ảnh Mẹ con thấy lòng rưng rưng.

8/-. Chung riêng (Nga Miên)

Chung một con ngõ hẹp, hai nhà chung một vách ngăn. Hai đứa chơi thân từ nhỏ, chung trường chung lớp, ngồi chung bàn, đi về chung lối. Chơi chung trò chơi trẻ nhỏ, cùng khóc cùng cười, chung cả số lần bị đánh đòn do hai đứa mãi chơi. Đi qua tuổi thơ với chung những kỷ niệm rồi cùng lớn lên…

Uống chung một ly rượu mừng, chụp chung tấm ảnh…cuối cùng khi anh là chú rễ còn em chỉ là khách mời. Từ nay, hai đứa sẽ không còn có gì chung nữa, anh giờ là riêng của người ta…

9/-. Tình già (Nguyễn Thái Sơn)

Đêm tối đen.Tiếng con chim cú kêu đâu đó ngoài cây bàng. Ông khó ở trong mìnhđã mấy hôm. Bà lọ mọ tìm cây são rồi đẩy đưa bâng quơ trong vòm lá. Con chim cú vỗ cánh bay. Một hạt bụi sa vào mắt bà…

Ông trách: “Nó kêu mỏi miệng rồi nó đi, bà đuổi làm gì cho khổ con mắt vậy?”. Hạt bụi cộm lắm nhưng bà không thấy đau; móm mém cười, bà đáp: “Lỡ ông bỏ tôi lại thì sao?”.

10/-. Ngày sinh nhật đầu tiên (Xuân Vy)

Tối nay bé buồn xo. Mẹ gặng mãi, bé nũng nịu : “Hôm qua, sinh nhật cái Na, nó được tặng nhiều đồ chơi đẹp! Sao con không có sinh nhật, Mẹ nhỉ ?”. Mẹ lặng thinhmắt đỏ hoe ! Sợ Mẹ khóc, bé vỗ về: “Đừng khóc Mẹ nhỉ! Bé không đòi sinh nhật nữa đâu !”. Bỗng nhiên, Mẹ ôm chầm lấy bé nức nở. Bé ngơ ngác rồi khóc ào theo.

… Ngày ấy, cái ngày mà toà án buộc người đàn ông phải đợi cho bé đủ 12 tháng tuổi mới ký quyết định ly hôn. Và ngày sinh nhật đầu tiên của bé đúng vào ngày Mẹ bồng bé chết lặng giữa chốn pháp đình.

Thân Bình post

“CHUYỆN VỢ CHỒNG”

– Vợ tôi hỏi : Trên TV có gì không anh ?

Tôi trả lời : Có rất nhiều bụi bậm, chắc tại em quên lau

Thế là hai vợ chồng cãi nhau

– Cuối tuần, vợ tôi muốn đi đến một nơi thật đắt tiền. Tôi chở bả tới tiệm bán xăng

Thế là hai vợ chồng cãi nhau

– Ngày mai sinh nhật bà xã tôi, tôi hỏi bả muốn gì ? Bả nói bả muốn một cái gì láng cóng, đi từ 0 tới 200 trong vòng 3 giây. Tôi mua cho bả cái cân nhỏ để trong phòng tắm

Thế là hai vợ chồng cãi nhau

– Vợ tôi khỏa thân đứng trước tấm gương ngắm nghía 5 phút rồi bảo tôi :

Em thấy hình như em ốm đi và giảm cân một chút phải không anh ?

Tôi nói : Chắc em cần phải đi bác sĩ mắt khám lại

Thế là hai vợ chồng cãi nhau

– Vợ tôi khỏa thân đứng trước gương ngắm nghía 5 phút rồi bảo tôi :

Sau hai mươi năm lấy nhau, em thấy mình già hơn, mập hơn và xấu hơn trước nhiều phải không anh ? Em buồn quá, ơ anh nói gì đi chứ

Tôi nói : Tuy vậy mắt em vẫn còn tốt như hai mươi năm về trước, 20/20

Thế là hai vợ chồng cãi nhau

– Kỷ niệm hai mươi năm cưới nhau, tôi hỏi bả muốn đi đâu

Bả nói : Em muốn đi đến một chổ mà từ lâu em đã không đặt chân đến

Tôi nói : Ủa Em muốn vào trong bếp hả ?

Thế là hai vợ chồng cãi nhau

– Vợ tôi hỏi : Anh ơi cái quần xanh này có làm mông em to hơn không anh ?

Tôi nói : Ừa, nhưng mà không to bằng cái quần trắng hôm qua

Thế là hai vợ chồng cãi nhau

– Giáng Sinh năm vừa rồi, tôi có tặng cho bà già vợ tôi một mảnh đất thiệt to trong một nghĩa trang thành phố rất đẹp để mai này bả có…. đi cho có chỗ đẹp.

Giáng Sinh năm nay, vợ tôi muốn biết tôi sẽ mua quà gì cho má của bả

Tôi nói : Mua quà làm gì, quà năm rồi bả chưa sài tới mà mua quà mới chi cho tốn tiền

Thế là hai vợ chồng cãi nhau

– Tôi muốn mua một thùng Heineken giá $29.90, bà xã tôi không chịu vì mắc quá. Nhưng khi tôi thấy bả mua một lọ kem dưỡng da mặt cho đẹp giá $7.50

Tôi nói : Em biết không sau khi hết thùng Heineken anh thấy em đẹp hơn nhiều

Thế là hai vợ chồng cãi nhau.

Nguyễn Văn Danh post

MA QUỶ QUANH TA ?!

ĐỜI HẬU LÊ VỚI VIỆC

XỬ LÝ TỘI NGOẠI TÌNH

Ngoại tình nói chung được định nghĩa là quan hệ tình cảm ngoài hôn nhân với người không phải chồng hay vợ mình. Để giữ gìn các quy tắc xã hội, sự ổn định gia phong trước những tác động xấu của việc ngoại tình, pháp luật triều Hậu Lê đã có nhiều quy định để ngăn chặn, xử lý hành vi này.

Ở Việt Nam, trong pháp luật phong kiến cũng đề ra các hình phạt cho tội trạng đó, tiếc rằng thư tịch cũng như các văn bản pháp luật từ thời Hồ trở về trước qua binh lửa chiến tranh đã không còn giữ lại được bao nhiêu.

Tuy nhiên, vấn đề ngoại tình trong chính sử cũng được đề cập đến ít nhiều, thí dụ vào tháng 9 nhuận năm Nhâm Ngọ (1042), Vua Lý Thái Tông xuống chiếu rằng : “Kẻ nào ban đêm vào nhà gian dâm vợ cả, vợ lẽ người ta, người chủ đánh chết, ngay lúc bấy giờ thì không bị tội” (Đại Việt sử ký toàn thư).

Hoặc như sự kiện Vua Trần Thánh Tông xử vụ án thông gian, theo đó tướng Trần Khánh Dư bị đánh 100 trượng ở bên hồ Dâm Đàm (Hồ Tây) vì tội thông dâm với công chúa Thiên Thuỵ, vợ của Hưng Vũ Vương Trần Quốc Nghiễn (con trai của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn).

Đến thời Hậu Lê, ngoại tình tùy theo mức độ nặng nhẹ, tùy đối tượng và trong các trường hợp cụ thể mà có hình thức xử phạt khác nhau, nặng nhất là xử tội chết, bị đánh bằng roi bằng trượng, bắt làm nô tì, bị đi đày, bị bắt làm lính, làm kẻ chăn voi, đi làm ruộng cho nhà nước, bị thích chữ vào mặt và có thể có kèm theo hình thức phạt tiền.

Trong pháp luật phong kiến nói chung và pháp luật triều Hậu Lê nói riêng, các thuật ngữ thông gian, thông dâm, gian dâm đều chỉ việc ngoại tình nhưng ở các mức độ khác nhau, như :

Thông gian được hiểu là có ngoại tình, đi lại với nhau; thông dâm là quan hệ tình dục bị bắt quả tang, gian dâm là hành vi một hoặc cả hai người nam, nữ tuy đã có gia đình nhưng “chung sống như vợ chồng” với người khác ngoài hôn nhân…

Dù ở mức độ nào, ngoại tình vẫn dẫn tới những hậu quả xã hội không tốt, như ảnh hưởng tới hạnh phúc gia đình, sự không chung thủy của một hoặc cả hai vợ chồng chính là nguyên nhân dẫn đến các vụ ly hôn, và hậu quả xa hơn của hành vi ngoại tình có thể là sự ra đời của những đứa trẻ ngoài giá thú.

Kể từ đời Lê Thánh Tông cho đến các đời vua sau đó đều lần lượt ban bố, bổ sung thêm một số điều khoản, luật lệnh liên quan đến việc phân định mức độ và hướng xử lý khác nhau về ngoại tình.

Theo “Hồng Đức thiện chính thư”, năm Bính Thân (1476), Lê Thánh Tông ban bố các quy định về hộ hôn, ở mục thứ 34, nghiêm cấm đàn bà ngoại tình bởi “người đàn bà ngoại tình là phạm vào điều luật, trái với luân thường đạo lý”.

– Nguyễn thị thấy chồng mình nhà nghèo, cha già, chồng bận việc quan sai bảo, nên cố ý ngoại tình, xử tội giảo, phạt 80 roi, điền sản trả lại cho người chồng, theo luật thi hành, không thể tha thứ.

Cũng trong năm ấy, có thêm các điều răn cấm : “Nếu là thông dâm thì phạt đánh 80 trượng. Có chồng mà thông dâm thì phạt đánh 90 trượng; dụ dỗ, tán tỉnh người khác thông dâm, phạt đánh 100 trượng, lưu đày 3000 dặm… “

Đến năm Kỷ Dậu (1489), vua quy định thêm về các điều thông gian, theo đó  “Con trai con gái đồng tình thông dâm thì phạt đánh 50 roi, con gái đưa vào nhà quan làm nô tì, con trai xử đồ làm chủng điền binh hoặc làm quân ở phủ Hoài Nhân.

Thông dâm với vợ người khác bị phạt đánh 100 trượng, thích 8 chữ vào mặt, đầy đi châu xa. Đang có tang mà dụ dỗ gian díu thì xử vào tội thông dâm, nếu là thông dâm thì tội cũng thế…

Ở trọ nhà người ta mà gạ gẫm thông dâm với con gái nhà chủ thì xử tội đồ làm chủng điền binh hoặc sung vào làm quân bản phủ… Thông dâm với con gái vợ kế thì xử tử hình. Tự tiện đến nhà người ta gạ gẫm thông dâm thì phạt đánh 80 trượng, xử tội đồ” (Thiên Nam dư hạ tập).

Trong bộ “Quốc triều Hình luật” (Bộ luật Hồng Đức) cũng có một số điều quy định liên quan đến việc ngoại tình, tại điều 401 quy định xử lý các trường hợp ngoại tình như sau : “Gian dâm với vợ người khác thì xử tội lưu hay tội chết; với vợ lẽ người khác thì giảm tội một bậc, với người quyền quý thì sẽ xử cách khác; kẻ phạm tội đều phải nộp tiền tạ tội theo luật.

Vợ cả, vợ lẽ phạm tội đều xử tội lưu, điền sản trả lại cho người chồng. Nếu là vợ chưa cưới thì đôi bên đều được giảm một bậc”, nếu “thông gian với vợ người thì bị xử phạt 60 trượng, biếm hai tư, bắt nộp tiền tạ nhiều ít theo bậc cao thấp của người đàn bà, nếu sang hèn cách nhau xa thì lại xử khác” (điều 405).

Trường hợp mà “gian dâm trong cung cấm thì bị xử tội chém. Kẻ đang có tang cha, mẹ hay tang chồng mà gian dâm cũng bị xử tội chém” (điều 408).

Nếu quan chức mà lợi dụng việc xử lý các án tụng để thỏa mãn lòng dục của mình thì theo điều 409: “Ngục quan và ngục lại, ngục tốt gian dâm với những đàn bà, con gái có việc kiện tụng thì xử tội nặng hơn tội gian dâm thường một bậc. Đàn bà, con gái mà thuận tình thì giảm tội ba bậc, bị hiếp thì không xử tội”.

Trường hợp người phạm tội thuộc địa vị xã hội khác nhau thì mức xử lý cũng khác nhau, điều 407 quy định: “Đày tớ mà gian dâm với vợ, con gái, con dâu của chủ nhà thì bị xử tội chém, điền sản của phạm nhân phải tịch thu trả cho chủ;

gian dâm với đàn bà, con gái hàng cơ thân (họ hàng thân thuộc) của chủ, với vợ con người cơ thân của chủ, cũng đều bị tội như thế. Người làm thuê hay người tá điền mà phạm tội thì cũng phải xử tội như thế. Đàn bà, con gái đều bị xử tội lưu”.

Theo sách “Hồng Đức thiện chính thư”, vào niên hiệu Thiệu Bình (1549-1556), đời Lê Trung Tông ban hành một số điều luật về hộ hôn, tại phần 2, điều thứ 9 quy định:

“Người làm thuê thông dâm với gia chủ thì xử tội chém”, trường hợp “binh lính thông dâm với vợ cả, vợ lẽ, nô tì của quan trên và người làm thuê thông dâm với vợ gia chủ thì những người đàn bà đó sẽ bị đuổi đi” (điều thứ 15).

Để bảo vệ tôn ti trật tự, pháp luật triều Hậu Lê quy định trong một số trường hợp, tội ngoại tình bị xử phạt nặng hơn so với lệ thường, như trường hợp “thông dâm với vợ thầy giáo, bị xử tội chết.

Người đàn bà đó bị đánh 50 roi, điền sản trả lại cho chồng”, với những trường hợp phạm tội đã bị xử phạt (chưa đến mức bị tội chết), nếu tiếp tục “tái phạm việc tình ái không đúng đắn, bị đánh 100 gậy, đầy đi viễn châu” (Quốc triều hình luật).

Trong “Hồng Đức thiện chính thư” quy định rõ thêm về tội thông dâm với vợ thầy, theo đó : “Đạo thầy trò nghiêm minh, sách vở biên chép rất rõ ràng, đồ đệ theo học, ơn dạy bảo cũng như cái nghĩa sinh thành của cha mẹ.

– Nguyễn mỗ làm trái đạo lý, bỏ nghĩa thầy trò, thông dâm với vợ thầy, xử tử hình. Người đàn bà kia bị đánh 50 roi, điền sản trả lại cho chồng, theo đúng luật pháp thi hành không tha thứ.

Tháng 4 năm Bính Thân (1476) vua Lê Thánh Tông ban hành một số điều lệ luật xử lý những trường hợp quan hệ có tính chất loạn luân như sau : “Chú bác thông dâm với cháu : Đạo trời soi xét vạn vật, chí công vô tư, đạo người có lớn nhỏ trên dưới, phải giữ phép tắc, đạo lý xưa nay để lại cho hậu thế.

– Nguyễn mỗ càn rỡ coi thường pháp luật, là hàng chú bác mà lại thông dâm với cháu, xử tử hình. Đứa cháu gái kia bị phạt đánh 50 roi, bắt làm nô tì, theo luật thi hành không tha,

– Nếu “phạm tội thông dâm với kế nữ, xử tử hình, theo luật thi hành, quốc triều không tha thứ”.

Đời vua Lê Trung Tông (1549-1556) ban hành thêm một số điều luật trừng trị tội ngoại tình với hơn 20 điều, trong đó có đến 9 điều quy định về cách xử lý tội trạng có tính chất loạn luân, cụ thể:

“Thông dâm với con gái nuôi hoặc con riêng của vợ thì bị phạt đánh 100 trượng, xử tội đồ 3 năm” (điều 5); “thông dâm với con gái mình hay với vợ của con cháu, hoặc con gái của anh em ruột, đều bị xử trảm quyết” (điều 6); “thông dâm với dì của vợ thì bị xử như các tội thông dâm khác” (điều 8);

“con nuôi và con thừa tự thông dâm với mẹ nuôi thì xử tội chém” (điều 9); “thông dâm với vợ của con nuôi cũng như thông dâm với con riêng của vợ, xử tội như nhau” (điều 10); “con rể thông dâm với mẹ vợ là việc đồi bại, làm tổn hại đến luân thường đạo lý, theo luật phải xử chém” (điều 11);

“anh tán tỉnh, gạ gẫm em dâu hoặc cưỡng dâm chưa thành thì xử lưu đày xa 3 ngàn dặm” (điều 12); “thông dâm với chị em gái hoặc thông dâm với chị em gái cùng mẹ khác cha thì phạt đánh 100 trượng, xử tội đồ 3 năm” (điều 14); “thông dâm với kế mẫu, hoặc thông dâm với vợ lẽ của cha, theo luật là xử chém” (điều 17).

Để ngăn chặn tình trạng ngoại tình, triều Hậu Lê còn ban bố một số quy định có tính răn đe để giữ gìn nền nếp gia phong, đạo đức xã hội. Năm Canh Tuất (1471), Lê Thánh Tông có sắc chỉ về một số vấn đề giáo hóa, ở chương hộ hôn quy định :

“Gặp gái đẹp mà mê đắm, buông lời cợt nhả nhưng chưa cố ý thông dâm thì bị ghép vào tội chọc ghẹo” (điều 6); “trêu ghẹo vợ người ta, bị xử tội đồ, phạt đánh 80 trượng” (điều 17); “dụ dỗ, tán tỉnh vợ người khác sẽ bị xử tội đồ” (điều 18); “ban đêm đến nhà người ta cố ý gạ gẫm để thông dâm thì bị phạt đánh 80 trượng, xử tội đồ” (điều 21).

Trong sách “Quốc triều Hồng Đức niên gian chư cung thể thức” cũng có một số quy định liên quan như sau : “Nếu thông dâm với vợ người khác sẽ bị xử tội chết, còn người đàn bà sẽ bị đánh 50 roi, phải trả điền sản cho nhà chồng”, còn nếu “dụ dỗ vợ người khác, bị đánh 80 gậy, xử tội đồ, giáng một chức”.

Trường hợp nếu ban đêm đột nhập vào nhà người khác thì “chẳng phải là thông dâm cũng là trộm cắp, lúc đó có bị đánh chết thì người đánh cũng không có tội, nếu còn sống thì bị xử tội lưu đầy”. Nếu phụ nữ “phản bội chồng bỏ trốn, bị đánh 50 roi, bắt trả lại cho chồng cũ”, còn “phụ nữ ngoại tình phạt đánh 50 roi, bắt trả lại ruộng cho chồng”.

Trường hợp chưa xác định có việc ngoại tình hay không nhưng nếu có hành vi “chứa vợ người khác ở nhà mình, bị đánh 80 trượng, xử tội đồ làm lính chăn voi” hoặc “đùa cợt với vợ người khác, bị đánh 80 gậy, bị xử tội đồ biếm một tư”.

Nhằm ngăn chặn việc khi bắt được gian phu, dâm phụ, trong lúc nóng giận gia chủ sẽ đánh đập, sát hại họ, do đó theo quy định tại điều 410 bộ Quốc triều hình luật :

“Người nào bắt được gian phu trong đêm tối, đã bắt được mà còn đánh chết người thì bị xử tội đồ làm chủng điền binh và bị bắt trả một phần ba số tiền đền mạng cho vợ con người bị chết. Nếu đánh trọng thương thì xử tội đồ làm khao đinh. Nếu chưa phân phải trái mà đánh người chết ngay tại chỗ thì không phải tội”.

Ngoài ra còn có hiện tượng khi bị phát hiện, giữa hai bên có sự thỏa thuận, hòa giải với nhau, nhưng pháp luật không chấp nhận điều đó, theo sách Thiên Nam dư hạ tập, vào năm Giáp Ngọ (1474) Lê Thánh Tông ban lệnh về cấm thỏa thuận riêng, trong đó có quy định :

“Vợ cả, vợ lẽ bị người ta dụ dỗ mà thông dâm, tuy là muốn giải hòa nhưng đây là việc quan hệ đến phong hóa, lệnh cứ theo điều luật mà trị. Nếu người chồng tự thỏa thuận riêng với gian phu thì bị đầy đi châu gần, nhận tiền của gian phu thì xử tăng một bậc theo luật, số tiền đó sung công quỹ”.

Sách Hồng Đức thiện chính thư cho biết vào tháng 4 năm Bính Thân (1476) vua nhắc lại lệnh cấm thỏa thuận riêng với gian phu và nói rõ thêm : “Nếu gả bán gian phụ cho gian phu thì người chồng và gian phu mỗi người bị phạt đánh 80 trượng, gian phụ phải li dị trở về nhà mình, tài sản thì bị tịch thu sung công”.

Trong trường hợp ngoại tình mà sinh con thì cách thức xử lý như sau : “Những đứa trẻ do thông dâm mà sinh ra là trai hay gái đều bắt gian phu phải nuôi dưỡng, gian phụ thì tùy cho người chồng gả hay bán, hoặc người chồng vẫn giữ lại làm vợ thì cũng cho phép”.

Khi giải quyết vụ án nói chung và các vụ ngoại tình nói riêng, đòi hỏi người có chức trách phải thực hiện một cách công bằng, tận tâm, cẩn thận và đúng đắn. Về vấn đề này, sách “Hồng Đức thiện chính thư “cho biết vào năm Canh Tuất (1471) trong sắc chỉ ban bố tăng thêm một số điều lệ mới, Lê Thánh Tông căn dặn rằng :

“Muốn cho các điều luật được rõ ràng, cho nên đã mấy lần nghị bàn kỹ, không được coi thường. Xử kiện phải cho công bằng minh bạch, một lòng nơm nớp lo âu, theo đúng mọi điều đã nghị bàn”.

Với tội ngoại tình, một yếu tố quan trọng là phải có chứng cứ rõ ràng, phải bắt được quả tang, “nếu không bắt được quả tang, không có bằng chứng hoặc không chỉ ra được thủ phạm thì không được xử tội. Nếu gian phụ có thai, không tìm ra được thủ phạm thì không được gán tội cho người khác, nếu vi phạm điều này sẽ bị xử tội “thêm bớt tội cho người” (Hồng Đức thiện chính thư).

Sách “Quốc triều khám tụng điều lệ”, ban hành năm Đinh Dậu (1777), thời Lê Hiển Tông quy định lệ kiện tụng về gian dâm cũng viết rằng: “Phàm việc kiện cáo về gian dâm phải bắt được quả tang, hoặc phải có tang chứng rõ ràng và trong vòng 10 ngày phải nộp đơn kiện mới được thụ lý.

Nếu đã ngoài hạn và không có tang chứng rõ ràng thì bác trả nguyên đơn. Còn như quả phụ và con gái chưa chồng bị hoang thai thì cho họ hàng nhà chồng và cha mẹ, anh em người con gái trong 3 ngày sau khi phát giác ra sự việc phải trình với xã trưởng, thôn trưởng và các chức sắc của bản xã để lược tra, tìm ra gian phu.

Phải có chứng cớ làm bằng, chỉ căn cứ vào lời khai ban đầu lập thành biên bản quan khám án mới được thụ lý. Sau khi phát đơn kiện, không được hùa nhau viện dẫn để sửa đổi lời khai ban đầu, xã trưởng nêu ra kẻ nào phải có tang chứng rõ ràng, nếu tra không đúng sự thật sẽ bị xử phạt.

Kẻ gian dâm có tang chứng rõ ràng thì phải trị tội theo luật, không được thỏa thuận riêng với nhau; kẻ nào vi phạm điều này thì cho quan soát tụng đưa ra xét xử theo khóa pháp”.

Khi bắt được quả tang thì phải lập biên bản, trong sách “Quốc triều Hồng Đức niên gian chư cung thể thức “có phần hướng dẫn thể thức lập biên bản về vụ thông dâm như sau : “Vào giờ…, ngày…, tháng…, năm…, triều đại… Xã trưởng mỗ xã…, huyện…, phủ…, mỗ thấy Nguyễn mỗ người bản xã trình rằng bị Nguyễn mỗ người bản xã dụ dỗ Nguyễn Thị mỗ, là vợ của y thông dâm và bắt được chính tên đàn ông đó, hoặc có dấu vết chém.

Vì thế xã trưởng Nguyễn mỗ cùng đến nơi nhà mỗ, đã thấy trói hai người lại ở trên giường và có chất o uế ở quần. Như vậy là Nguyễn mỗ đồng tình thông dâm, chứ không có chuyện gì khác. Nay lập biên bản. Giờ lập biên bản. Xã trưởng Nguyễn mỗ ký”.

Qua các quy định về ngoại tình trong pháp luật triều Hậu Lê, chúng ta thấy từ xa xưa hiện tượng này đã diễn ra khiến không chỉ cộng đồng dư luận lên án mà chính quyền cũng luôn tìm cách ngăn chặn, hạn chế khi lường trước những hậu quả xấu của nó đối với đời sống gia đình và xã hội.

Nguyễn Văn Danh post (theo Lê Thái Dũng)

MA QUỶ QUANH TA

Bàn chuyện ma quỷ là một việc vô cùng nguy hiểm vì đây là một vấn đề rất nhạy cảm được thiên hạ liệt vào loại mê tín dị đoan. Tin ma hay không tin ma là quyền tự do của mỗi người. Xin đừng phán xét.

Tại sao con người thường hay tin là có ma ?

Video:Người Mỹ có tin ma quỷ không (VOA) ?

http://www.youtube.com/watch?v=trji-V8Ju98

Trong bài phóng sự “Người Mỹ có tin ma quỷ không” (VOA) thì hết 2/3 dân Mỹ trả lời là họ tin có ma, có người đến từ hành tinh xa (aliens) và các hiện tượng huyền bí khác. Trong khi nhiều người cho rằng tin tưởng vào những chuyện ma quỷ là điên rồ, nhưng ngược lại các nhà khoa học xã hội thì lại có một cái nhìn khác hơn về vấn đề nầy.

Theo các nhà tâm lý học, không phải tại vì con người ngớ ngẫn đâu. Người ta có khuynh hướng tìm kiếm những gì sâu xa. Họ là những người hoàn toàn tỉnh táo.

Đàn ông Mỹ tin rằng người ngoài hành tinh là có thật trong khi đàn bà thì thiên về bói toán và thần linh.

Trở về từ cỏi chết hay hiện tượng kinh nghiệm cận tử

Kinh nghiệm cận tử (Near death experience) là một hiện tượng mình cảm thấy mình thoát ra ngoài cơ thể lúc gần chết (near death) hay khi đã có dấu hiệu chết lâm sàng rồi (mort clinique, mort cérébrale), chẳng hạn như điện não đồ hoặc điện tâm đồ đều bằng phẳng. Mình thấy mình chết từ bên ngoài cơ thể.

Hồn bay phất phơ trên trần nhà và nhìn xuống cái xác mình nằm trên bàn giải phẩu. Thấy bác sĩ và y tá lăng xăng làm hồi sinh, thậm chí mình còn bay đi chơi qua các phòng lân cận… và chứng kiến sinh hoạt bên đó (?).

Hiện tượng cận tử được BS Raymond Moody nêu ra lần đầu tiên vào năm 1975. Các thăm dò cho biết có rất nhiều bằng chứng cho biết đây là một hiện tượng thường hay thấy xảy ra, nhưng ít người dám đề cập đến vì sợ thiên hạ không tin và còn bị người ta cười.

Sau đây là các điểm chính của hiện tượng cận tử theo Moody :

1/- Cảm thấy bình an và yên tịnh 2/- Cảm thấy sắp chết đến nơi hoặc đã chết rồi 3/- Nghe thấy tiếng động và tiếng nhạc thật êm dịu 4/- Đi vô đường hầm hoặc một vào cõi âm u tâm tối 5/- Cảm thấy mình thoát ra ngoài cơ thể (out of body experience) 6/- Gặp lại những mặt quen thuộc hay bà con đã chết từ trước 7/- Đi vào vùng ánh sáng 8/- Nhớ lại những biến cố quan trọng trong cuộc đời 9/- Cảm thấy đến biên giới cuối cùng, một giới hạn mà vượt qua đó có nghĩa là phải chết luôn 10/- Ý thức quyết định trở về và nhập trở lại vào thân xác

Đa số các người nầy sau đó đều thay đổi cách nhìn cuộc đời và cho biết họ không còn sợ chết nữa. Hiện tượng cận tử có nhiều điểm rất tương tợ với cách giải thích thân trung ấm (bardo) trong tác phẩm Tạng Thư Sống Chết.

Có phải ma là những sóng rung động tồn tại sau khi chết ?

“Có giả thuyết cho rằng, khi chết thân xác ta mất đi nhưng ý thức thì vẫn còn tồn tại dưới dạng “sóng sinh học”. Người sống không thể nào thấy và cảm nhận được sự rung động vibrations của các làn sóng nầy. Tuy vậy vẫn có một số người cảm thấy được ma vì họ có những rung động phù hợp với các làn sống của ma.

Họ có thể tiép xúc và nói chuyện với thế giới bên kia. Đó là trường hợp của những nhà ngoại cảm, đồng bóng..” (Trích từ Internet)

Xuất hiện nhiều khuôn mặt người trên sàn nhà bếp tại làng Bélmez Tây Ban Nha tháng 8/1971.

Vidéo (3 phút) : The faces of Belmez

http://www.youtube.com/watch?v=TuYO6QXqSWA

Sàn nhà có khuôn mặt lạ xuất hiện, có khi thay đổi thành hình khác nhau trong một ngày. Hình từ trong ciment xuất hiện ra ngoài. Có khi thay đổi nét mặt tùy theo tâm trạng vui buồn của bà chủ nhà Maria Gomez.Có lúc bà Maria phải đi nằm bệnh viện thì các nét mặt của ma đều tỏ ra buồn rầu hết.

Đào lên, thấy có xương người không đầu. Đem chôn ở nghĩa địa công giáo. Làm nền nhà lại : hình vẫn còn tiếp tục xuất hiện ra. Các giáo sư đại học nổi tiếng đến cắt mẩu ciment có hình khuôn mặt để thử nghiệm hóa học, làm đủ mọi test, chụp hình bằng tia hồng ngoại tuyến infra red, ultra violet, kết quả không có gì lạ hết.

Cảnh sát cho phá bỏ nền nhà bếp, và đào sâu xuống 3 mét: tìm gặp 13 bộ xưong, có cái không có đầu và có cái của trẻ em. Người ta suy luận là các nạn nhân đều bị giết và chết oan… Sau khi nền ciment được tráng lại xong xuôi thì các mặt vẫn xuất hiện trở lai như thường.

Sau hết người đặt máy ghi âm rất nhạy trong nhà để hy vọng ghi được tiếng nói của hồn ma (mà người thường không thể nghe được). May thay máy ghi được nhiều tiếng nói và âm thanh hổn loạn của những oan hồn gồm có đàn ông, đàn bà và trẻ con….và hồn ma còn nêu cả tên ra nữa.

Đuợc biết căn nhà nằm trên vùng nghĩa địa của thế kỹ thứ XIII.

Nhiều nhà chuyên môn về hiện tượng huyền bí siêu nhiên nghĩ rằng bà chủ nhà Maria Gomez, là một đồng bóng psychic, một người thoughtography có năng khiếu siêu nhiên tạo hình ảnh qua tư tưởng của bà (?)

Những khuôn mặt mới

Sau ngày bà Maria gomez qua đời năm 2004, hiện tương ma quái vẫn còn tiếp tục xuất hiện với những hình gương mặt mới lạ hơn. Cuối năm 2004, báo El Mundo có đăng bài phóng sự phơi bày ra sự thật :

-Thủ phạm là Diego Pereira con trai của bà Maria Gomez tạo ra của các hình ảnh ma xuất hiện trên nền nhà sau ngày bà mẹ qua đời. Tháng 11/ 2004 tờ báo El Mundo cho đăng bài “Những gưong mặt mới tại Belmez là đồ dỏm và do nhóm săn ma và chánh quyền địa phương cấu kết tạo dựng ra”

Les visages de Bélmez

http://www.2hcreations.net/enquetes-impossible/belmez.php

Vẫn còn mù mờ về vấn đề ma quỷ

Thường thì ma quỷ gắn liền với chết chóc, chết trẻ, chết oan, hồn không siêu thoát được v,v…Trong những nhà có xảy ra án mạng, treo cổ, tự tử, chết oan… thường hay thấy xuất hiện ra những hiện tượng khó giải thích được như bóng ma lúc về đêm, tiếng động bất thường, tiếng bước chân như có ai đi trong nhà giữa đêm, đồ đạc rơi rớt vô cớ, luồng gió lạnh trong phòng kín, cảm giác như có sự hiện diện của ai đó bên cạnh ta…

Những chuyện ma được nghe kể lại

Có nhiều người kể là mỗi khi trong nhà có tang thì trong những ngày đầu tiên lúc chưa chôn, hồn ma của người chết có thể hiện ra lẩn quẩn trong nhà và nó cho một người nào đó thấy khiến cho họ sợ hết hồn. Đó là cách liên lạc của hồn ma với người thân còn sống.

Đây là chuyện hồi năm 1996, tức là 16 năm về trước khi người em gái út (ngoài 30 tuổi) của bà xã qua đời tại Sài Gòn. Cô ta chết vì bịnh ngặt nghèo. Theo phong tục Viêt Nam, người xấu số được đưa từ bệnh viện về chết tại nhà. Đêm đầu tiên, cậu em có nhiệm vụ canh xác cô em để nằm dưới nhà. Anh nầy là dân gốc nhà binh trước 75. Giữa khuya, anh ta cần lên lầu để làm cái gì đó, nhưng khi “vừa bước lên cầu thang thì thấy rõ ràng lù lù đang di xuống”.

Không biết đây có phải là ảo giác hallucination hay không ?

Theo Phật giáo thì trong mấy ngày đầu khi vừa mới chết, hồn ma còn quyến luyến nơi quen thuộc nên chưa biết đi đâu ?

Chuyện bị ma đè

Hồi người gõ mới bắt đầu đi dạy tại trường Cao Đẳng Nông Nghiệp (Đại Học Cần thơ) năm 1967 thì được rất nhiều anh em giáo sư dạy bên trường Trung học Nông Lâm súc Cần thơ (nằm gần bến xe mới) ven lộ 20 trên đường đi Bình Thủy, Long Xuyên kể lại những hiện tượng khó hiểu thường xảy ra tại một căn nhà bên cạnh trường. Đó là nơi dành cho các các giáo sư trú ngụ. Chính trong căn nhà nầy thưởng hay xảy ra những chuyện ma đè và ma kéo ra khỏi giường trong lúc họ còn đang tỉnh táo chưa ngủ… Các nạn nhân thề quyết rằng họ đều nói thiệt. Chuyện xảy ra cho rất nhiều người. Được biết căn nhà nầy ngày xưa được Tây dùng làm nơi tra tấn cộng sản.

Giải thích hiện tượng bị ma đè theo khoa học :

Bác sĩ giải mã những giấc ngủ bị ‘bóng đè’

http://vnexpress.net/gl/doi-song/2011/08/bac-si-giai-ma-nhung-giac-ngu-bi-bong-de/

“Giáo sư – Tiến sĩ Võ Văn Tới, trưởng khoa Kỹ thuật – Y sinh, trường ĐH Quốc tế ở Sài Gòn thì cho rằng, hiện tượng bị “cứng người”, bị “đè”, hoặc bị “ma đè” ngoài nguyên nhân hệ tim mạch, hệ hô hấp, thần kinh không tốt, bệnh nhân còn có thể đã hoạt động gắng sức trong ngày, bị stress, hoặc tư thế nằm không phù hợp.

Riêng trường hợp bị khó ngủ, bị “bóng đè” khi dọn đến nơi ở mới, theo tiến sĩ Tới có thể cơ thể dị ứng hoặc bị ngạt bởi do mùi sơn, mùi đồ đạc, hoặc mùi nấm mốc”.(ngưng trích)

Nhờ ma quỷ mà hái ra tiền

Nhưng nói gì thì nói, ma quỷ là một đề tài hái ra tiền của kỹ nghệ điện ảnh, TV, thầy bùa, thấy pháp ếm trừ ma quỷ cũng như nhà ngoại cảm nói chuyện với cỏi âm, giúp tìm xác chết… hỏi thăm coi họ đang ở đâu có được sung sướng không ? MC Nguyễn Ngọc Ngạn cũng từng nổi tiếng về việc kể truyện ma.

Các bạn có xem các phim exorciste chưa ? Biết rằng là đồ xạo nhưng cam đoan cũng hồi hộp lắm. Tối hổng dám ngủ một mình đó.

Video: Phim Exorciste

http://www.dailymotion.com/video/xm8p14_l-exorciste-2-le-cine-du-comite_fun

Lễ Halloween là gì?

Mùa lễ Halloween, kỹ nghệ đồ chơi, đồ hóa trang và bánh kẹo tha hồ mà hốt bạc.

Halloween là lễ ma quỷ đêm 31/10 hằng năm tại các quốc gia Bắc Mỹ. Theo truyền thống, trẻ em được hóa trang thành ma quỷ và đến gõ cửa từng nhà xin kẹo bánh để dành ăn cả năm.

Lễ Halloween có nguồn gốc xa xưa từ dân tộc Celte Ái Nhỉ Lan và Anh Quốc. Tục lệ Halloween theo di dân du nhập Bắc Mỹ vào thế kỷ thứ 19. Màu đen và vàng tượng trưng cho sự chết chóc và thu hoạch mùa màng. Người ta nói rằng đêm đó cô hồn từ mồ mả chui ra và các mụ phù thủy cỡi chổi bay đi khắp nơi. Trẻ em hóa trang thành ma quỷ để cô hồn tưởng nhầm là phe ta cho dễ làm ăn.

Biểu tượng lễ Halloween là một loại bí rợ pumpkin, được cắt khoét rỗng, có mắt, mũi, để một cây đèn cầy bên trong và đem đặt trước cửa nhà.

Kết luận

Cá nhân người gõ chưa từng thấy ma bao giờ nhưng tin rằng phải có một ‘cái gì đó”, một thực thể (entity) không thể giải thích được, một dimension ngoài cái thế giới hữu hình mà chúng ta hiện đang sống.

Phải chăng ma quỷ là những oan hồn còn phiêu bạc trong cõi trung ấm (bardo) và họ cố tìm cách liên lạc với người trên dương thế?

Nói chung, giai đoạn trung ấm thân kéo dài khoảng bảy tuần (bốn mươi chín ngày), nhưng cũng có thể ngắn hơn nhiều, hoặc trong một số trường hợp hiếm có, có thể kéo dài hơn. Trong phân nửa thời gian đầu của giai đoạn chuyển tiếp này, chúng ta có thể cảm thấy mình có thể xác và tình cảm của kiếp trước mà mình vừa mới trải qua. Trong phân nửa thời gian còn lại, chúng ta có thể cảm thấy mình có thân xác và kinh nghiệm của kiếp tái sanh sắp tới(Chết an lạc – Tái sinh hoan hỹ. Thích Nguyên Tạng – Thích Như Điển)

Nhưng nói cho cùng, loại ma đáng sợ nhất vẫn là ma đang nằm trong ta : “…Ma là cái ngã đang thống trị ta, làm cho ta tham lam, ích kỷ, xúi dục ta, nịnh hót ta, biến ta thành đốn mạt, nói dối và quỷ quyệt…. Chính Ma đã tung hoành trong tâm thức ta, tạo ra u mê, lầm lẫn và khổ đau. Chính Ma kích động để ta tạo nghiệp…” (theo Cư sĩ Hoàng Phong).

Đọc thêm :

Nguyễn Thanh Giản- Chuyện ma có thật hay không?

http://www.vietbang.com/index.php?c=article&p=633

– TS Huê Dân –Ma và ngạ quỷ

http://www.phattuvietnam.net/nghiencuu/15605-ma-v%C3%A0-ng%E1%BA%A1-qu%E1%BB%B7.html

Yên Huỳnh post (theo Nguyễn Thượng Chánh, DVM)

THẾ GIỚI QUANH TA (30)

20/8 ÂL LỄ GIỖ

ĐỨC THÁNH

TRẦN HƯNG ĐẠO

Dân gian có câu “Tháng Tám giỗ Cha / Tháng Ba tiệc Mẹ” để nói đến ngày giỗ của Đức Thánh Trần Hưng Đạo và Thánh mẫu Liễu Hạnh.

Nên hàng năm tại Đền thờ Đức thánh Trần Hưng Đạo ở số 36 Võ Thị Sáu, P. Tân Định, Q.1, đều diễn ra lễ giỗ chính thức, lễ giỗ lần thứ 711 là vào năm 2011 tưởng nhớ Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn. Năm nay sẽ không ngoài thong lệ đó sẽ được cử hành từ rằm tháng 8 âm lịch cho đến hết ngày 20/8 AL.

Năm 2011 tại đền Kiếp Bạc, Côn Sơn tỉnh Hải Dương từ ngày 15 đến ngày 18/8 âm lịch năm Tân Mão, tại lễ hội, ngoài những nghi lễ và trò chơi dân gian truyền thống đã được duy trì, phục dựng hàng năm như lễ khai ấn, lễ rước bộ, lễ khai hội dâng hương tưởng niệm ngày mất của Anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo, còn có nhiều nghi lễ cổ truyền được bổ sung, nâng cao về nội dung, chất lượng, như lễ cầu an và hội hoa đăng trên sông Lục Đầu.

Trong phần hội, ngoài các trò chơi dân gian truyền thống như đua thuyền, biểu diễn múa rối, năm nay sẽ tổ chức thi bắt vịt, nấu cơm. Đây là hoạt động nhằm tái hiện lại cuộc sống lao động, chiến đấu của quân dân nhà Trần cách đây 7 thế kỷ. Đặc biệt năm 2011 đã tổ chức lễ giỗ Đức Thánh Trần vào ngày mất của người vào sáng 20/8 âm lịch tại nội tự đền Kiếp Bạc và núi mâm xôi với sự tham gia của nhân dân 3 làng : Vạn Yên, Bắc Đẩu, Dược Sơn (theo Tuấn Anh)

Lễ hội đền Trần Thương

Đền Trần Thương thuộc thôn Trần Thương, huyện Lý Nhân, Hà Nam. Đền thờ vị anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo và song thân của người. Là một vị anh hùng dân tộc đã hiển thánh. Trong tâm đức người dân, ông là Đức Thánh Cha. Trần Hưng Đạo được thờ ở nhiều nơi ở Hà Nam mà Trần Thương là ngôi đền quy mô, bề thế nhất.

Cũng như những nơi thờ Hưng Đạo Đại Vương khác, đền Trần Thương tổ chức lễ hội tưởng nhớ vị anh hùng dân tộc này vào ngày 20 tháng 8 âm lịch hàng năm. Dân gian có câu: Tháng Tám giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ là để nói về hai lễ hội lớn về hai vị thánh : Đức thánh Trần (Trần Hưng Đạo), Đức thánh Mẫu (Liễu Hạnh).

Lễ hội theo quy định được tổ chức 3 ngày nhưng trên thực tế có thể dài hơn bởi vì số lượng người về lễ đăng ký dự tế khá đông nên cần thêm ngày để bố trí cho các đội tế. Mỗi ngày có 4 đến 5 đám tế, từ rằm tháng 8 đã có đoàn đến tế ở đền.

Vào ngày chính hội, phần lễ có rước kiệu, dâng hương, tế lễ, phần hội có các trò đánh cờ tướng, bơi chải, đi cầu kiều, tổ tôm điếm… Thu hút sự quan tâm của nhiều người nhất là tục thi đấu cờ tướng.

Tục này diễn ra trước các trò hội. Khi tiếng trống nổi lên báo hiệu cuộc chơi thì các đấu thủ cùng dân làng đến sân đền tham dự. Làng chọn các lão làng, các chức sắc có gia phong tốt vào khai cuộc, trong đó, người cao tuổi nhất được làm chủ tế. Chủ tế làm lề cáo yết Đức Thánh Trần rồi rước bàn cờ từ hậu cung quay ra, đến trước hương án nâng bàn cờ lên vái ba vái.

Sau đó, cuộc chơi bắt đầu. Hai đấu thủ mang y phục truyền thống của các tướng lĩnh đời Trần mang thanh long đao vào cuộc. Sau một tuần hương, ai thắng, người đó đoạt giải. Vãn cuộc, quân cờ cùng bàn cờ được rửa bằng nước giếng của đền và nước ngũ quả, lau chùi cẩn thận rồi đặt lên hương án. Tục chơi cờ nhằm tưởng nhớ tài thao lược quân sự của Hưng Đạo Đại Vương, rèn luyện trí tuệ, nêu cao truyền thống chống giặc ngoại xâm của ông cha ta.

Lễ hội đền Trần ở Vũng Tàu

Ngày 20/08 Âm Lịch hàng năm, lễ giỗ Đức Thánh Trần Hưng Đạo được tổ chức tại Hội đền thờ Đức Thánh Trần: số 68 Hạ Long, phường 2, thành phố Vũng Tàu.

Đại lễ giỗ Đức Thánh Trần là dịp để đông đảo nhân dân tưởng nhớ công ơn vị tướng tài ba của dân tộc, ba lần đánh bại quân Nguyên Mông đem lại thái bình cho đất nước. Đây là nét văn hóa truyền thống tốt đẹp được gìn giữ từ đời này sang đời khác tại nhiều địa phương trên cả nước. Vào dịp lễ hội, hàng vạn lượt khách thập phương và người dân địa phương cùng tham dự lễ khai mạc và lễ dâng hương.

Lễ hội đền Trần ở Hòn Đất – Kiên Giang

Không chỉ du lịch sinh thái được mọi người biết đến nhiều mà việc đi thắp hương cầu phúc, an lành trong các dịp đầu năm. Đền thờ Đức Thánh Trần cũng là một địa chỉ quen thuộc. Trong các vị anh hùng dân tộc ở nước ta vào thời phong kiến, rõ ràng không có nhân vật nào được quảng đại quần chúng nhân dân tự nguyện phụng thờ nhiều như Quốc công Tiết chế Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn, mà bà con thường gọi một cách tôn kính là Đức Thánh Trần.

Hưng Đạo Vương sinh năm 1226 tại làng Tức Mặc, phủ Thiên Trường, nay là thôn Bảo Lộc, Mỹ Phúc, ngoại thành Nam Định. Ông là một bậc kỳ tài trong dòng dõi tôn thất nhà Trần: một nhà quân sự thiên tài, một nhà chính trị xuất sắc và một nhà văn hóa lớn. Đặc biệt ông dám xóa bỏ những hiềm thù riêng trong tôn tộc để gây lại mối đoàn kết hầu chống lại kẻ thù chung. Trong ba lần giặc Nguyên Mông đem quân xâm lược nước ta : 1258, 1285 và 1287, với vai trò Quốc công Tiết chế thống lĩnh toàn bộ lực lượng, ông đã làm cho quân Nguyên ba phen thất bại nhục nhã. Toa Đô bị giết, Ô Mã Nhi bị bắt sống và Thoát Hoan phải chui vào một ống đồng trốn chạy về Tàu. Ông qua đời ngày 20/8 năm Canh Tý (1300), được vua phong tặng là Thái sư Thượng phụ Thượng quốc công, trong sự ngưỡng vọng của mọi tầng lớp nhân dân.

Ngoài đền thờ chính nơi ấp phong của ông ở Vạn Kiếp, nhân dân trong nước nhiều nơi dựng đền miếu thờ ngài. Đặc biệt tại ấp Tà Lốc xã Sơn Kiên huyện Hòn Đất, Kiên Giang, ở biên giới Tây Nam xa xôi, nơi cư trú của nhiều đồng bào từ miền Bắc vào lập nghiệp, cũng có một đền thờ Đức Thánh Trần và hàng năm bà con đều cúng tế nghiêm cẩn. Lý do xây dựng đền thờ cũng hết sức cảm động.

Theo ông Đỗ Ngọc Minh, Trưởng Ban Quản lý Đền thờ Trần Hưng Đạo Sơn Kiên, thì đền thờ ban đầu nằm ở Nam Thái Sơn, một xã hẻo lánh bên kia sông đối diện với thị trấn Hòn Đất. Trong đợt di dân vào Nam Thái Sơn hồi năm 1941 có nhiều bà con gốc gác ở Mỹ Phúc, Nam Định. Để việc làm ăn nơi xa xôi bớt cô quạnh và có thêm hơi ấm cội nguồn, một vị bô lão trong lần về thăm quê đã xin được một dúm chân hương (tăm nhang) từ ngôi đền thờ Đức Thánh Trần ở Yên Thắng. Từ một ít chân hương đất tổ nầy những bà con ở Nam Thái Sơn đã dựng lên một ngôi đền thờ sơ sài để có chỗ lui tới gởi gắm tâm linh.

Sau năm 1975, nhiều bà con Nam Thái Sơn đã di dời ra Bình Sơn, Mỹ Lâm, Bình Giang, Sơn Kiên và thị trấn Hòn Đất… để có điều kiện phát triển công việc làm ăn. Số bà con còn ở lại không nhiều. Để tiện cho những người ở xa về cúng kiến, năm 1994 bà con đã quyết định dời ngôi đền thờ từ Nam Thái Sơn về xã Sơn Kiên, Hòn Đất, ngay địa điểm hiện nay.

Mỗi năm Đền thờ Trần Hưng Đạo Sơn Kiên tổ chức cúng tế hai lần: một lần vào ngày 10/3 và một lần vào 20/8 âm lịch. Từ lâu rồi lễ cúng không còn bó hẹp trong cộng đồng bà con di dân từ miền Bắc mà đã trở thành một lễ hội chung cho cả người Kinh, người Khmer và người Hoa. Trong tiếng chiêng trống rộn ràng, Đội tế nữ của xã Mỹ Lâm (gốc dân Nam Định) với đồng phục áo dài, mấn đỏ và đai lưng kim tuyến rực rỡ đang nghiêm trang tế lễ. Còn một đội tế nam và một đội tế nữ ở các địa phương lân cận và các câu lạc bộ dưỡng sinh của những người cao tuổi ở Rạch Giá cũng tham gia, vì lễ giỗ Đức Thánh Trần kéo dài đến hai ngày.

Đặc biệt trong lễ giỗ đức Trần Hưng Đạo không có đãi ăn. Bà con đem nhiều vật phẩm vào cúng rồi sau đó chia lộc thánh. Cũng con từ thành phố Sài Gòn, Cần Thơ, thị xã Rạch Giá và các nơi nườm nượp đổ về.

Lễ Húy Nhật Đức Thánh Trần và Quân chủng Hải Quân

Mỗi năm vào tháng Mười dương lịch, tại Paris, Thủ đô nước Pháp đều có ngày húy nhật của Đức Thánh Trần Hưng Đạo do Hội Hải Quân và Hàng Hải VNCH – Pháp quốc tổ chức.

Nhiều năm trước Anh Chị Đặng Vũ Lợi, Chủ tịch Hội Hải Quân Hàng Hải Paris  gửi giấy mời nhưng tôi chưa một lần có  dịp tham dự vì ở rất xa Paris. Phần tôi vốn đã không mấy có cảm tình với Quân chủng Hải Quân dầu tôi có một đời yêu lính.

Trước đây hình ảnh anh lính Hải Quân trong tiềm thức tôi mờ nhạt, bởi dư luận nói rằng lính Hải Quân là những chàng Hoàng tử hào hoa, là thần tượng của những người đep kiêu sa, mỗi bến một người tình, lả lướt đa tình như con tầu lướt trên sóng biển. Yêu Hải Quân là tự sát, là biến mình thành “góa phụ ngây thơ “.

Tháng Tám năm 2000, tại Quận 13 Paris tôi tình cờ gặp lại Anh Chị Đặng Vũ Lợi. Anh Chị rất thiết tha mời tôi đến tham dự ngày Thánh Tổ Hải Quân. Tôi có hẹn Anh Chị  :

“Nếu em còn có thể trở về, xin hứa sẽ có mặt cùng Anh Chị vào ngày giỗ Đức Thánh Trần Hưng Đạo“.

Cuối tháng Tám năm 2000, tôi đã vào tù bên nước Anh gần một năm tiếp đến lại lật thêm năm cuốn lịch ở Hoa Kỳ.

Ngày trở về cùng cận ngày giỗ Đức Thánh Trần Hưng Đạo và lần này tôi tận mắt nhìn thấy buổi lễ tế cổ truyền, từng bước đi của Ban tế tự như có một trời hồn nước uy linh.

Trong lịch sử chúng ta đã từng đọc thấy rất nhiều về lòng trung quân ái quốc, nay thời buổi “đất trời nổi cơn gió bụi“, thế sự nhiễu nhương biết tìm đâu người khí tiết kiên trung. Một lần đến nơi đặt tượng Đức Thánh Trần uy nghi tại số 16 Rue de Juilly, 77290 Mytry- Mory, France đã cho tôi một cảm giác khó quên. Thường thì trong nhân gian chúng ta chỉ thấy số đông người thờ ông Thần Tài, Thần Hộ Mạng, chớ mấy ai thờ vị Anh hùng đại công thần của Tổ Quốc. Trước khuôn viên nhà rộng rãi có đền thờ tượng Thánh Trần lẫm liệt.

Trời Paris hôm nay nắng ấm nhưng tôi nghe đâu đây tiếng sóng Bạch Đằng giang, Bạch Đằng giang mồ chôn xác giặc.

“Nam đế Sơn hà, Nam đế cư“ Lý Thường Kiệt.

Năm năm lao tù Mỹ quốc, tôi có duyên đọc được quyển Hải Sử của Đô Đốc Đặng Cao Thăng giúp tôi hiểu đứng đắn hơn về Quân chủng Hải Quân và tại sao Hải Quân lại chọn Đức Hưng Đạo Vương làm Thánh Tổ.

“Hải Quân ơi,

Anh là những Anh hùng không tên tuổi

Sống âm thầm nơi bóng tối âm u

Chưa một lần được hưởng ánh Vinh hoa

Nhưng tận tụy và âm thầm cứu nước“ 

(Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy)

Hải Quân Ngụy Văn Thà, cháu con Trần Quốc Tuấn, người tuổi trẻ anh hào đánh giặc trên Biển Đông. Anh chết theo tầu cho Quê hương được sống. Hải Quân Hồ Tấn Quyền vì TRUNG  tử nạn, và hình ảnh tượng Đức Thánh Trần Hưng Đạo ở Paris có phải chăng chữ TRUNG  là truyền thống của Hải Quân ?

Thì ra anh lính Hải Quân đâu chỉ có hào hoa

“Anh là lính đa tình

 Nhưng tình Non Sông rất nặng“

Cảm ơn Đô Đốc Đặng Cao Thăng đã soi sáng sự thật qua cuốn Hải Sử, cảm ơn Ông Bà Hải Quân Đặng Vũ Lợi đã duy trì bản sắc văn hóa dân tộc trên xứ người “Văn hóa còn, nước Việt còn“.

Cảm ơn những người anh, những người bạn Hải Quân xa gần bên tôi và xin thứ lỗi cho tôi đã một lần trong tôi Hải Quân mờ nhạt.

Đứng giữa trời Paris, tâm can vằng vặc

Bạch Đằng giang réo gọi Hồn Quê

Hỡi ai tỉnh, hỡi ai còn đang mê ?

(Nguyễn Thị Ngọc Hạnh – viết tại Paris nhân ngày Lễ Húy Nhật Thánh Tổ Hải Quân  Đức Trần Hưng Đạo)

Nguyễn Việt (tổng hợp từ nhiều nguồn)

HOA CAU

Các bậu,

Trong bài này (dưới đây) tác giả có viết vài dòng về Cau. Nhứt là hoa Cau. Tao đọc bỗng cảm bởi vì cả một khoảng thời niên thiếu hiện về. Nên viết gởi các bậu vài tâm tình.

Có vài bậu P1 như Hóa, Tâm B học chung với tao từ lớp Ba nên chắc rõ gia cảnh nhà tao. Ông già dân Bắc Kỳ vô Nam làm phu cạo mủ cao su, sau vài năm chống chọi với sốt rét không nổi nên bỏ rừng về SG làm ăn. Ở đất này ông gặp bà già tao, dân Hốc Môn 18 thôn vườn trầu.

Bà già tao là chủ một sạp bán trầu cau lớn nhứt chợ Phú Nhuận. Hồi nhỏ tao biết lựa cau khô, sấy cau, lựa và xếp gói lá trầu giúp bà già nữa. Trước nhà tao là một khoảnh đất trống ông bà chủ đất (cũng bà con với bà già ở Hốc Môn) cho trồng trầu và cau rất nhiều. Những khi hoa cau nở, sau một trận mưa rào cả xóm đều thoang thoảng mùi hoa cau. Hương nó thơm nhè nhẹ, hít vào phổi sảng khoái lắm. Tao chỉ ghét mùi lá trầu vì nó hắc nồng quá. Hồi nhỏ bị cảm sốt bà già hay lấy lá trầu nhúng rượu đế chà sát mạnh cạo gió ở lưng mấy đứa con. Cái mùi này ám ảnh tao hoài đến nỗi mấy ngày ăn cơm hổng thấy ngon.

Sau này ông bà chủ đất cho đốn hết cau và trầu để cất nhà cho thuê vì đất SG lúc đó quý như vàng. Lúc lên trung học là tao hết còn ngửi được mùi hoa Cau nữa. Giờ cũng hết biết nó ra làm sao vì hơn 50 năm rồi còn gì.

Phú P1

LÊN VIỆT BẮC

Ở lại Bắc Cạn hai hôm để đi Hồ Ba Bể, hôm thứ ba tôi đi Cao Bằng. Đây là đường lên Việt Bắc. Ngày trước có một loại sách Hồng dành cho tuổi trẻ, sách mỏng cỡ nhỏ, giá chỉ 3 đồng. Đa số chuyện viết về cuộc kháng chiến chống Nhật ở vùng Việt Bắc. Hôm nay, thực sự được đi trên “đường lên Việt Bắc”, tôi cảm thấy như sống lại thời hoa niên, vừa thích thú vừa kiêu hãnh.

Bắc Cạn đi Cao Bằng chừng 130km, lấy vé tại bến xe, hoặc đón xe Hà Nội lên, ngoài rìa thành phố. Đến Phủ Thông, cách Bắc Cạn 20km, xe bắt đầu leo đèo. Sáng sớm, sương mù và mây phủ núi rừng, từng lớp nối tiếp nhau thật đẹp. Đoạn đường không dài mà qua đến mấy đèo. Đèo Giàng, đèo Gió, đèo Cao Bắc, đèo Tài Hồ Sìn. Tôi ngồi bên cửa sổ, máy ảnh sẵn trên tay. Có những chỗ cảnh đẹp nhưng xe chạy nhanh, hoặc đang đúng tầm bấm máy thì xe đã quay đầu qua hướng khác do đường lên xuống ngoằn ngoèo, tiếc mà đành chịu. Đi xe riêng thì tha hồ chụp. Lúc xe lên đèo Giàng nhìn xuống thị trấn Ngân Sơn, cảnh như một tác phẩm sơn dầu cổ điển. Nắng mai chiếu khắp một vùng nhà cửa màu ngói đỏ, những khóm nhà cách nhau bằng những đám cây xanh, chung quanh là núi lam đậm, đường đèo ngược sáng, trắng lên như con rắn ngoằn ngoèo bò theo xe. Càng lên cao, càng nhiều sương mù, càng âm u, càng mát. Có chỗ sương mờ lùa qua xe, núi ngoài xa, từng dải mây trắng trải dài… Núi rừng thơ mộng !

Qua một chỗ đường bị sạt lở, xe chạy chậm, sương sà xuống một eo núi, một chị người thiểu số thong thả lùa trâu, dịp may hiếm có tôi đã bấm được tác phẩm “Qua Núi Mù Sương”. Một tấm ảnh không xuất sắc, nhưng nó gợi nhớ cho tôi những năm tháng tản cư, hồi cư, những năm đất nước khói lửa mịt trời. Những hình ảnh lịch sử của quê hương ăn sâu vào tâm trí mỗi chúng ta, song không phải muốn nhớ lại là thấy ngay. Ký ức đôi lúc cũng cần một vài yếu tố để hồi tưởng. Những ai quê miền Trung, nghe bản nhạc “Về Miền Trung” của Phạm Duy thì tha hồ sống lại với bãi biển rừng thông, với những dòng sông thuyền xuôi ngược.

Chiếc xe nặng nhọc trườn mình qua khúc đường lầy, tiếp tục lên đèo. Xe loằng ngoằn quành qua quành lại, đã có mấy người nôn thốc. Tôi vẫn tiếp tục tì tay vào thành cửa xe để theo dõi cảnh bên ngoài. Xe xuống đèo, qua thị trấn Bằng Khẩu, tên nghe rất Tàu. Đêm qua chắc trời mưa to, sáng nay đường sá lầy lội, vài người dân miền núi cùi con, rảo qua chợ ngay bên đường. Xe chạy chậm, tôi cố chụp vài ảnh nhưng không có gì hay. Hình ảnh sinh hoạt của đồng bào sắc tộc thì Sa Pa, đã có nhiều. Xe xuống đèo Tài Hồ Sìn là về thị xã Cao Bằng.

Vào thị xã trời lại nóng. Ra khỏi bến xe tôi ghé ngay quán nước bên đường. Trong khi uống nước nghỉ chân, tôi thăm dò “địa hình địa vật”. Bà chủ quán mau mắn cho biết nhà nghỉ Công Ty Lương Thực cách quán không xa, và đầu ngã tư có quán cơm. Bà đích thân dẫn tôi đến giới thiệu với văn phòng nhà nghỉ. Không hiểu hai bên liên hệ như thế nào mà bà có vẻ rất nhiệt tình. Tôi vội làm thủ tục nhận phòng rồi đi ngay ra phố. Tìm một xe ôm chạy một vòng thị xã Cao bằng.

Các thành phố miền núi có đặc tính giống nhau là nhà cửa nằm sát núi đồi, và cứ phá núi làm thêm nhà, do đó phố xá tuy đường có rộng mà bụi đất bẩn thỉu, nhất là mỗi khi có xe chạy qua. Chợ Xanh là trung tâm thương mãi của Cao Bằng, tựa như chợ Đồng Xuân Hà Nội. Một vài khách sạn loại sang như Phong Lan cũng ở ngay trên con đường lớn qua thành phố. Thành phố Cao Bằng có nét tập trung và sáng sủa hơn Bắc Cạn. Tuy nhiên, vệ sinh thì hầu như thành phố nào cũng giống nhau, kể cả Hà Nội. Và sinh hoạt phố xá, đâu cũng thế. Miền núi, ít hàng rong, không thấy người gánh bán dạo. Cao Bằng đặc biệt có Hạt Dẻ và Mận Tam Hoa, hạt Dẻ mùa này đang bông. Mận Tam Hoa, quả to ruột đỏ tươi như huyết, nhưng ngang qua chợ lại thấy bán nhiều trái Vải và Xoài. Vải đang rộ nên rất rẻ. Vải Thái Nguyên rất ngon, tại chỗ 3.000 đồng một kilo (10 cent 1 pound) các nơi 7.000 đồng, có khi lên 10 nghìn.

Chạy chưa được nửa giờ đã hết thành phố, tôi bảo xe đi thăm đền Kỳ Sầm, đền thờ Nùng Trí Cao, một danh tướng đời Lê (thế kỷ 11). Đền thuộc xã Ngọc Xuân, huyện Hòa An. Vào đền Kỳ Sầm, qua đường Pắc Pó có một đoạn đường hai bên trồng tre xanh, hai hàng tre cao vút giao đầu, tạo thành một đường hầm mát rượi. Tre cau có lẽ là hai hình ảnh thân thương nhất của quê hương đối với người Việt xa xứ.

Làng tôi, bao mái tranh san sát kề nhau / bóng tre rung trên mấy hàng cau mơ màng.

(nhạc Chung Quân)

Sao anh không về chơi thôn Vỹ,

Ngăm nắng hàng cau, nắng mới lên

(thơ Hàn Mặc Tử)

Quê hương là đêm trăng tỏ,

Hoa cau rụng trắng ngoài thềm

(thơ Đỗ Trung Quân)

Tôi chắc còn nhiều văn thơ ca tụng Tre Cau, tiếc là không được biết, không nhớ hết. Đã có lần tôi bắt gặp một chị bán hoa ở phường Ô Chợ Dừa Hà Nội, nguyên một buồng hoa Cau treo bên xe đạp, hoa Cau đang búp, không hiểu sao lại chặt đi bán. Đêm trăng tỏ mà đứng giữa vườn cau hoa đang nở thì thú vị biết chừng nào. Hương Cau, dịu và đậm đà đôn hậu, không đài các quyến rũ như Dạ Lý Hương.

Qua khỏi đoạn đường tre, đến một cánh đồng nhỏ, có con đường rẽ phải vào Đền. Đền nằm trên ngọn đồi có nhiều cổ thụ cao lớn, đẹp và cổ kính. Khuôn viên Đền tương đối rộng, nhưng Đền chỉ bằng ngôi miếu nhỏ, không có những xây cất phụ chung quanh như đình chùa. Nhìn ngắm cảnh Đền để hồi tưởng trong phút giây những trang sử đã qua… Cho dù các đời sau có làm nên công trạng hiển hách cũng không quên ghi lại những đóng góp của thế hệ trước. Mỗi khi lật lại trang sử cũ con cháu thấy hãnh diện và tự hào về sự nghiệp của cha ông. Tiếc một điều, quanh Đền, nhà dân mọc rải rác, phá nét đẹp tổng thể của Đền.

Ngày thường cổng khóa, không ai trông coi, cỏ cây mọc um tùm. Hằng năm vào mồng mười tháng Giêng là ngày hội đền Kỳ Sầm. Tuy là di tích được “Bộ Văn Hóa” công nhận nhưng chỉ là trên giấy tờ, còn thực tế vấn đề chăm sóc không được đặt ra đúng mức. Đây là tình trạng chung, cũng có thể Đền chỉ là hạng mục nhỏ, không là điểm du lịch sinh lợi, nên phải chịu cảnh tiêu điều quạnh hiu.

Trở lại thành phố, đi ngang qua đường 4 Đông Khê, phường Tân Gian, có một pháo đài xây bằng đá trông rất cổ xưa kiên cố, công sự của Pháp ngày trước. Năm 79 bị Trung Quốc bắn thủng một lỗ, không ai lấp vá, chắc giữ làm kỷ niệm.

Trời nắng gắt, tôi bảo em xe ôm tìm quán cà phê ít ồn và mát mẻ để giải lao. Không xa, quán ngay bên sườn đồi, vắng khách. Vắng khách càng hay, cà phê đông quá nhiều khi mệt thêm. Quán chỉ mỗi cô gái vừa pha chế kiêm luôn thu ngân. Quán nhỏ nhắn trang trí thanh nhã. Vài giò lan, đôi lồng chim làm cho quán thêm nét núi rừng. Nghe tiếng khách lạ mấy chú Họa Mi hót chào. Đã một thời chơi chim, nay được nghe lại tiếng hót sắc bén và điêu luyện của Họa Mi, thật thú vị, nhất là nghe tiếng hót ngay tại quê hương của chim. Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn là những nơi cung cấp chim bổi (chim mới bắt) Họa Mi cho các tỉnh miền trong.

Cô hàng mang cà phê ra, tôi hỏi thăm :

– Quanh đây có nơi nào đẹp đáng xem không cô ?

Tôi mãi nhìn xuống ly cà phê, tay xoáy tròn chiếc muỗng, không nghe tiếng trả lời, tôi nhắc lại câu hỏi, cô hàng cà phê cứ cười cười :

– Chú hỏi anh chạy xe là biết hết.

Câu nói của cô hàng ám chỉ gì đây, tôi phân bua :

– Hỏi thật mà cô cứ cho tôi “nọ kia”.

– Cháu cũng nói thật đấy.

Em xe ôm lên tiếng :

– Lát đưa chú lên đài liệt sĩ nhìn xuống thành phố Cao Bằng, đẹp khỏi chê.

Qua đường Bế Văn Đàn, phố cổ của Cao Bằng, phố nhỏ, nhiều nhà còn giữ nguyên kiến trúc xưa. Xe leo dốc, vào cổng một trường trung học rồi chạy thẳng lên đài liệt sĩ trên đồi cao. Em lái xe dặn tôi: “Chú cẩn thận kẻo đạp kim xì ke nhé”. Nhìn xuống thấy rải rác nhiều ống kim tiêm vứt bừa bãi trên mặt đất. Đây như là “chiến khu” của dân ma túy. Vắng vẻ, trái đường không ai lên làm gì, nhất là ban đêm, nên dân nghiện thường tập trung chích choác.

Trời xế chiều, nhìn xuống thành phố Cao Bằng trải dài theo hai cánh của sông Bằng Giang, hậu cảnh là dãy núi xanh thẫm, có hai đỉnh khá cao, một đỉnh bằng, một đỉnh nhọn. Cảnh rất kỳ vỹ và đẹp. Cao Bằng nhà cửa đầy đặn và màu sắc ấm cúng, một đô thị được thiết kế theo qui hoạch rõ ràng, tôi có cảm tưởng Cao Bằng trù phú hơn Bắc Cạn nhiều. Tôi dè dặt di chuyển qua một vài góc để lấy ảnh rồi dục xe quay về. Thấy cảnh vắng quá cũng không yên tâm, đây chẳng phải tụ điểm du lịch, biết đâu xuất hiện vài tay âm binh của làng chích choác thì phiền lắm.

Lúc qua cầu Bằng Giang, thấy một bè rớ cá, một hình ảnh lạ. Thông thường, rớ cá từ những chòi nhỏ ven sông, đặt ở một vị trí cố định. Đây rớ thiết kế trên một bè tre, có lều tranh, một loại rớ di động, một sáng kiến hay. Nơi nào có cá, rớ di chuyển tới, hết cá lại đi. Rớ bè không rộng lớn bằng rớ chòi, có lẽ do luật thăng bằng không cho phép. Ngắm chiếc bè rớ nép mình dưới khóm tre xanh, tôi hình dung chủ nhân là một ẩn sĩ. Một người muốn phủi bỏ bụi trần, muốn lìa xa tục lụy… Sau bao năm tháng xông xáo trần đời, nay lui về để tiêu dao mây nước. Cuộc sống như thế chắc gì đã kém ai.

Thành phố nào cũng có những món ăn chơi giống nhau, dưới ánh đèn mờ hay trong ngõ hẻm… khách không mấy khi thất vọng. Cao Bằng cũng còn nhiều điểm du lịch đáng đi, hồ Thăng Hen, động Ngườm Ngao, Ngườm Sáp, toàn những nơi xa, tên tuổi không mấy quen thuộc, tôi dành thì giờ để ngày mai đi Thác Bản Giốc. Thác Bản Giốc là thác đẹp, hùng vĩ, độc nhất vô nhị của Việt Nam từ xưa nay. Thác Bản Giốc là mối trăn trở của các tầng lớp dân chúng trong những ngày vừa qua. Đến Cao Bằng là để đi Bản Giốc, một thắng tích nằm trên địa đầu của Quê Hương.

Phú Lê post (theo Trần Công Nhung – Viendong daily)

LÀNG RỂ TÂY

Nhiều chàng trai ở tận châu Âu, như do một cơ duyên sắp đặt, đã tìm về làng Kon Tum Kơnâm ở phường Thống Nhất, TP.Kon Tum (tỉnh Kon Tum) để được các sơn nữ… bắt chồng.

Trong các tỉnh Tây nguyên, Kon Tum có lẽ còn giữ được nhiều nét văn hóa làng – rừng vốn là phong vị văn hóa đặc trưng của vùng đất cao nguyên này. Và du khách tận trời Tây theo đó cũng bị hấp lực, tìm đến để được thưởng ngoạn, khám phá và mê luôn các bóng hồng người bản địa. Từ đây, những câu chuyện tình không biên giới được dệt lên và làng Kon Tum Kơnâm được nhiều người vẫn gọi là làng rể Tây.

Ẵm trên tay con gái mới bảy tháng tuổi, ánh mắt anh John Nathan lấp lánh niềm vui. Chuyện tình của họ dẫu không ai kể nhưng mỗi người bản địa ở làng đều thuộc nằm lòng. Năm 2008, trong một chuyến du lịch đến các bản làng xa vắng của Kon Tum, chàng trai người Bỉ này đã phải lòng Y Hem, cô hướng dẫn viên người Bahnar mới 24 tuổi đẹp như bông hoa rừng. Chỉ vài ngày trên hành trình khám phá cao nguyên đã gắn kết chàng trai người Tây đẹp trai với cô gái bản địa chân chất. Họ thường xuyên trao đổi email khi chàng về nước. John tích cực luyện tiếng Bahnar, còn Y Hem cũng trang bị thêm vốn Anh ngữ của mình.

Hai năm sau, John trở lại Việt Nam và nhận được cái gật đầu của Y Hem. Một năm sau đó, cô gái bản địa lần đầu tiên đến Bỉ ra mắt gia đình người yêu. “Lúc đến sân bay, nhìn cảnh cả gia đình anh ấy đón em như thân thiết lâu rồi, em rất cảm động. Họ còn đưa em đi chơi nhiều nơi ở Bỉ nữa. Tụi em mới đăng ký kết hôn từ tháng 6, sắp tới bố mẹ anh ấy cũng qua đây cùng vui với đám cưới của vợ chồng em”, Y Hem hạnh phúc kể.

Nhìn chàng rể Tây hòa đồng với mọi người, thỉnh thoảng nói bằng tiếng Bahnar chưa chuẩn giọng với vợ, tay nựng con, người làng ai cũng thích. John nói: “Tôi đã đến nhiều nơi ở Việt Nam như Hải Phòng, Hà Nội, TP.HCM… nhưng tôi thích nhất khi đến Kon Tum, đến với người bản địa ở đây. Họ tốt bụng, giản dị và xa lạ với những lời nói dối. Và tôi yêu vợ tôi sự thật thà, giản dị đó.”

Hay chàng trai Pháp Edourd, là nhân viên của một tổ chức phi chính phủ hỗ trợ y tế, giáo dục cho người thiểu số ở Kon Tum, bị người mẹ một con mặn mà Y Ruth đã hút hồn. Kết quả là một đám cưới ấm cúng được tổ chức tại Kon Tum, sau đó hai vợ chồng đưa nhau sang Pháp sinh sống. Họ cùng nhau xây một căn nhà theo mô hình nhà sàn truyền thống của người Bahnar tại làng Kon Tum Kơnâm để có chỗ nghỉ ngơi khi quay lại.

Cùng với những cuộc hôn nhân đẹp trên, làng Kon Tum Kơnâm còn có 5 cô gái khác cũng “bắt chồng” Tây và một số chuyện tình đang đơm hoa kết trái ở ngôi làng bình dị ven sông Đak Bla này. Các cặp tình nhân này sau khi đăng ký kết hôn đã ra nước ngoài sinh sống, chủ yếu là các nước châu Âu. Có lẽ, những cuộc du ngoạn thưởng thức văn hóa làng – rừng đã níu chân nhiều chàng trai nước bạn.

Nguyễn Văn Danh post (theo Trần Hiếu)

TỪ BẮC VÀO NAM

BỨC TRANH THỦY MẠC CỦA GẦN

60 NĂM CUỘC ĐỜI

– Lữ Tuấn.

Tháng 6 năm 1954 đúng 50 năm về trước, là lúc mọi người trong vùng kiểm soát của chính phủ Quốc Gia ở Bắc Việt cực kỳ lo lắng và hoang mang sau khi cứ điểm Điện Biên Phủ thất thủ ngày 7 tháng 5 năm 1954. Nhiều tin đồn trái ngược càng làm cho mọi người thêm sợ hãi. Khoảng 20 tháng 6, tại Nam Định và các tỉnh phụ cận, có tin đồn được lan truyền nhanh chóng nói rằng quân đội Pháp và quân đội Quốc Gia sẽ rút khỏi Nam Định và các tỉnh phía Nam Hà Nội. Từ hôm ấy, hàng loạt doanh trại được tháo gỡ vội vàng, xe vận tải quân sự chở vật liệu nặng bắt đầu theo nhau từ Bùi Chu, Ninh Bình, Thái Bình đổ về Nam Định cùng các xe cộ từ Nam Định nối nhau đi Hà Nội. Kho đạn Nam Định cho phá hàng loạt đạn súng cối và đạn pháo binh ở vùng đất hoang phía tây thành phố.

Bộ Tư Lệnh Pháp và chính quyền Bảo Đại không hề lên tiếng về tình hình tại Bắc Việt. Bộ Chỉ Huy Pháp tại Nam Định vẫn tiếp tục công việc chuẩn bị cuộc diễn binh hùng hậu vào ngày quốc khánh Pháp, 14 tháng 7 năm 1954 mà họ đã loan báo trước. Vào lúc này, đã có tin đồn ông Ngô Đình Diệm sẽ về nước làm thủ tướng. Những truyền đơn đầu tiên ký tên Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia ủng hộ ông Diệm xuất hiện lác đác ở Nam Định.

Ba ngày cuối cùng phi cơ quân sự lên xuống liên tiếp. Khi đã chuyên chở gần hết vật dụng và người, trạm hàng không quân sự Nam Định bắt đầu cho mọi người tự do lên phi cơ C-47 còn trống nhiều chỗ để đi Hà Nội.

Nam Định bắt đầu hoảng hốt thực sự từ ngày 28 tháng 6 khi điện bị cắt. Thành phố tối mù. Nhiều người chen chúc mua vé xe hoặc thuê xe di tản về Hà Nội. Nam Định là nơi số doanh trại và binh lính dầy đặc nhất Việt Nam. Trước đó từ 9 giờ khuya là giờ giới nghiêm, thành phố vắng vẻ không một bóng người trên phố xá. Nay đột nhiên tất cả chìm trong không gian đen thui, nhưng lại cựa mình mạnh hơn trong bóng tối. Trên đường phố người ta đi lại đông đúc khác thường quá cả giờ giới nghiêm.

Gia đình tôi lúc ấy đang ở một căn cư xá công chức nơi mẹ tôi làm việc. Lúc 7 giờ sáng, một anh lính tống thư viên người Pháp vào sở đưa một giấy báo di chuyển, ghi đúng số người thuộc quyền sở này và gia đình nhân viên kể cả 4 gia đình ở cư xá. Tất cả mau lẹ tập trung đợi xe. Sau đó chừng 15 phút, một tiểu đội Bảo Chính Đoàn dẫn 4 xe vận tải trưng dụng của tư nhân đến nơi và cho biết đúng 8 giờ kém 15 mọi người phải có mặt đầy đủ trên xe.

Việc di tản có vẻ đã được chuẩn bị nhiều tuần lễ trước đó. Số người ngồi trên xe thoải mái rộng rãi vì không ai mang theo đồ đạc gì nhiều ngoài một vài chiếc valise và túi xách tay gọn nhẹ.

Lệnh di chuyển cho biết đoàn xe này phải qua trạm kiểm soát phía bắc hướng đi Phủ Lý-Hà Nội vào khoảng giờ nhất định mà tôi nhớ là sau 8 giờ và trước 8 giờ 10 phút. Lệnh này cũng cảnh cáo nếu xe nào đến sớm quá hay muộn quá theo giờ ấn định sẽ bị ủi ra khỏi mặt đường để tránh nhiễu loạn giao thông.

Hồi đó tôi còn là học trò. Vội vàng xếp quần áo, hình ảnh, giấy tờ cần thiết, cuống cuồng không biết phải mang theo gì và phải bỏ lại món nào. Lúc còn chừng 25 phút, tôi xin phép mẹ tôi chạy ra phố nói là để chào mấy thằng bạn. Cô ruột tôi, người nuôi nấng tôi từ nhỏ không chịu vì sợ tôi chậm trễ e sẽ kẹt lại. Nhưng mẹ tôi hiểu ý, mỉm cười can thiệp nói, “Chị cứ cho nó đi, nó không dám về muộn đâu.”

Mẹ tôi thừa biết tôi đi đâu. Tôi đạp xe với tốc độ không thua các tay đua vòng quanh Đông Dương, xẹt qua trước nhà cô bạn mà tôi thương vụng nhớ thầm từ năm 17 tuổi và chưa hề mở lời yêu đương.

Nàng đang ngồi chải tóc ở cửa sổ trên lầu. Không rõ nàng có nhìn thấy tôi hay không, nhưng tôi vội vàng đánh bạo thu hết can đảm hôn gió trên bàn tay phải ném về phía cửa sổ rồi lao xe như gió về nhà, trước giờ xe chạy khoảng 10 phút. Ở miền Bắc hồi ấy trai gái còn nhút nhát, phải can đảm lắm mới dám làm như thế vì tôi linh cảm chuyến đi này sẽ lâu lắm., có thể là cả đời. Sau này trong đời lính chưa bao giờ tôi phải vận dụng can đảm cao độ như vậy dù gặp nhiều tình thế rất khó khăn nguy hiểm.

Quân cảnh Pháp thi hành đúng giờ giấc như quy định. Tại trạm kiểm soát Cổng Hậu, từng đoàn xe gồm năm mười chiếc có lính hộ tống được cho khởi hành. Một vài xe đến muộn phải đậu một bên đường chờ giải quyết sau. Trên đường đi, tại mỗi cây cầu đều có một toán Công Binh đặt sẵn chất nổ. Một trung sĩ Công Binh Việt Nam cho biết họ phải phá nổ các cầu này khi đơn vị cuối cùng đi qua.

Buổi trưa đoàn xe chúng tôi đi đến Hà Nội. Gia đình tôi về ở nhà người thân. Đêm hôm ấy thị xã Phủ Lý bị một sư đoàn Việt Minh tấn công. Thành phố đã hư hại sẵn nay lại chịu tàn phá gần hết những gì còn lại.

Cuộc rút lui này tuy tiêu biểu cho việc Pháp thua trận nhưng lại là cuộc rút lui thành công. Dựa vào tài liệu của Pháp và thực tế quan sát thấy tại chỗ, cho thấy Đại Tá Vanuxem chỉ huy trưởng Phân Khu Nam đã điều động cuộc rút lui mau lẹ, có trật tự với tổn thất nhẹ không đáng kể. Đoàn quân rút lui vượt qua nút Phủ Lý trước khi bị địch đánh chận.

Kế hoạch tỉ mỉ do bộ tham mưu Pháp bí mật soạn thảo, trong đó chỉ có các sĩ quan từ đại úy mới được cho tham dự. Mọi việc đánh máy, chuyển nhận công điện, văn thư tài liệu đều do các cấp sĩ quan từ đại úy trở lên đích thân thi hành. Bí mật được giữ đến phút chót. Chỉ có một điều đáng tiếc là nhiều đội dân quân tự vệ ở nhiều làng mạc các tỉnh vùng này kể cả quanh những trung tâm chiến lược như Phát Diệm, Bùi Chu bị Pháp bỏ rơi. Nhiều dân quân chạy không kịp bị Việt Minh bắt và giết hại.

Hà Nội vốn yên tĩnh, lúc đó đang sống thanh bình không nghe tiếng súng. Những vũ trường, hàng quán sang trọng và độc đáo với những thắng cảnh nổi tiếng đầy bóng dáng người đẹp thướt tha. Cuộc di tản 4 tỉnh phía Nam làm cho đường phố Hà Nội đông người thêm nhưng vẫn không mất vẻ mỹ lệ của đất Thăng Long ngàn năm văn vật.

Lúc ấy hội nghị Geneve bắt đầu họp. Ai cũng thấy phe Cộng Sản đang nắm ưu thế. Những người có quan tâm đều lo ngại không biết sẽ đình chiến kiểu nào. Có thể là hai bên ngưng bắn xen kẽ mà sau này năm 1972-73 người ta gọi là “giải pháp da beo.” Cũng có thể là chia đôi đất nước thành hai miền Nam và Bắc. Người ta cũng bàn tán gay go về ranh giới đình chiến sẽ nằm ở vĩ tuyến nào ? Vĩ tuyến 13, 16 hay 19 ?

Đầu tháng 7, ông Diệm ra Hà Nội. Một số đông đảo dân chúng chào đón ông, và nhiều người hy vọng vị nhân sĩ này sẽ cứu vãn tình hình. Sau đó ngày 7 tháng 7 năm 1954 ông Diệm chính thức nhậm chức thủ tướng. Ông thành lập Ủy Ban Bảo Vệ Bắc Việt. Các đoàn thể, đảng phái chống Cộng đều ủng hộ đường lối này. Nhiều sĩ quan, binh sĩ cũng sẵn sàng tham gia việc phòng thủ lãnh thổ phe quốc gia đang nắm giữ. Một số đông đảo đặt niềm hy vọng lớn lao vào sự trợ giúp của Hoa Kỳ thay thế người Pháp.

Nhóm chúng tôi là đảng viên Đại Việt và Quốc Dân Đảng đều hăng hái tham gia tuyên truyền vận động ủng hộ chủ trương giữ Bắc Việt. Đêm đêm, chúng tôi đi ném truyền đơn ở khu Hồ Tây, Cổ Ngư, Ngọc Sơn và nhiều nơi khác kể cả những nơi có lính Pháp lui tới. Hà Nội bắt đầu có không khí căng thẳng và phảng phất mùi chiến tranh.

Đường phố Hà Nội về khuya lần đầu tiên có những bóng dáng cảnh sát võ trang súng trận Mas-36 và quân phục tác chiến đi tuần tiễu. Nhưng các cơ sở dân sự cơ yếu và doanh trại quan trọng của Quân Đội Quốc Gia đều thấy có lính Maroc hoặc da đen canh gác, rõ ràng là Pháp đang phòng ngừa chính biến chống lại họ.

Ngày 14 tháng 7, quân đội Pháp tổ chức diễn binh ờ Bờ Hồ phía Tòa Thị Chính. Thông cáo và bích chương của Pháp vẽ hình nắm đấm được thấy khắp nơi. Pháp giải thích rằng rút 4 tỉnh phía Nam là bàn tay trước kia xòe ra nay nắm lại để đánh mạnh hơn. Tất nhiên ít ai tin vào luận điệu này.

Đám học sinh chúng tôi từ Nam Định chạy về nhiều đứa tình nguyện vào Khóa 5 Sĩ Quan Trừ Bị và lục tục lên đường khoảng trước ngày 15 tháng 7 năm 1954. Phần còn lại thường tìm gặp nhau trao đổi tin tức và bàn luận về tình hình đất nước.

Chiều 21 tháng 7 năm 1954 khi bọn tôi đang tụ họp thì có tin trên đài Con Nhạn (Hirondelle) của quân đội Pháp vang lên lời loan báo “Hiệp Định Đình Chiến đã được ký kết.” Tờ báo của quân đội Pháp cũng đăng câu ấy trên trang nhất bằng chữ lớn. Mọi người bàng hoàng dù biết trước thế nào việc này cũng sẽ đến. Báo này cho hay đất nước phân chia ở sông Bến Hải, Vĩ Tuyến 17.

Tân Thủ Tướng Pháp Mendès-France nhậm chức ngày 17/6/54, đã tuyên bố rằng ông ta sẽ từ chức nếu không đạt được thỏa hiệp trước ngày 20 tháng 7 năm 1954. Vì thế hiệp định Geneve về Đông Dương được ký lúc sáng sớm ngày 21 nhưng nhà cầm quyền Pháp đã cho đồng hồ ngưng chạy từ đêm trước để làm như lúc ấy vẫn còn là ngày 20. Tại Việt Nam thời điểm này là trưa ngày 21.

Hà Nội liền thay đổi rõ rệt. Niềm hy vọng giữ Bắc Việt lịm tắt dần và dân chúng nóng lòng về tin tức sẽ có cuộc di cư. Một số bài trên báo chí đang từ thái độ chống cộng quay dần sang ủng hộ Việt Minh. Người các tỉnh đổ về Hà Nội đông đảo. Cán bộ Việt Minh cấp thấp ra vào Hà Nội dễ dàng. Đồ chơi trẻ em bày bán trước dịp Trung Thu có những chiếc máy bay, xe thiết giáp, xe chở lính, tàu thủy được sơn cờ đỏ sao vàng. Các cơ quan an ninh chẳng ai thèm để ý.

Một số cán bộ Việt Minh quen biết gia đình tôi đến thăm và khuyên gia đình tôi nên ở lại nhưng mẹ tôi và tôi đã dứt khoát ra đi. Sau đó 4 tháng, chúng tôi gặp lại vài người trong số cán bộ này ở Sài Gòn. Chính họ cũng đã mau chóng nhận rõ thực chất của Cộng Sản và kịp thời ra đi trước khi cảng Hải Phòng đóng cửa tháng 3 năm 1955.

Những gia đình chuẩn bị di cư đem đồ đạc bày bán dọc bờ hồ Thiền Quang làm thành một thứ chợ trời. Một buổi sáng sớm khi những người đầu tiên đang lục tục khuân đồ đạc đến chợ thì thấy có một lá cờ đỏ sao vàng treo trên tàng cây cao chừng ba bốn mét. Một thanh niên nổi nóng trèo lên giật lá cờ ném xuống đất.

Một trung tá người Pháp đi bộ ngang qua hung hăng can thiệp, lớn tiếng đại ý nói đó là quốc kỳ của một nhà nước, không được xúc phạm. Thế là xô xát xẩy ra, kết quả viên trung tá bị trọng thương vì gạch đá gậy gộc cho đến lúc xe quân cảnh Pháp cấp cứu.

Tin tức về di cư được loan báo chính thức vào đầu tháng 8. Nhiều nhà giầu đã đi vào Nam bằng phương tiện riêng. Đại đa số còn lại đợi ghi danh di cư bằng phi cơ và tàu biển. Trong nhóm chúng tôi từ Nam Định lên, phần đi Khóa 5 Thủ Đức, số còn lại một phần tham gia đoàn cán bộ xã hội được gửi vào Nam để phụ trách các trại tiếp cư do Bộ Xã Hội thiết lập. Tôi ở trong số này. Buổi chiều ngày 11 tháng 8 năm 1954 bốn đứa bọn tôi đi bộ thăm tất cả các di tích và thắng cảnh quanh Hà Nội lần cuối.

Sáng sớm 12 tháng 8 khi qua cửa kiểm soát phi trường Gia Lâm, một trung úy Nhảy Dù người Pháp hỏi chuyện chúng tôi vì thấy 25 đứa trong đoàn cán bộ xã hội toàn là thanh niên còn trẻ. Sau khi nghe chúng tôi nói rõ lập trường và mục đích ra đi, ông ta nắm tay chúng tôi giọng xúc động nói rằng, “Nước Pháp đã liên tiếp sai lầm để các bạn chịu hậu quả đau đớn hôm nay.” Nói xong không ai ngờ viên trung úy trẻ dưới 30 này bật khóc, nước mắt chảy dài trên má.

Chúng tôi cũng cảm động tuy nhiên vẫn còn cầm được nước mắt. Nhưng khi phi cơ lượn một vòng lấy cao độ, tất cả đều ngó xuống. Giữa tấm thảm mây mưa xám xịt che kín bên dưới phi cơ có một khoảng trống vuông vắn hiện ra Hồ Gươm và 36 phố phường. Cảnh tượng tuy tầm thường nhưng lại gây xúc động mạnh, khiến đứa nào cũng rưng rưng nước mắt. Đây là lần chúng tôi vĩnh biệt Hà Nội. Vĩnh biệt miền Bắc.

Sau những giờ bay dài phi cơ đến Tân Sơn Nhất, cảnh những con rạch đỏ ngầu giữa hai hàng dừa xanh làm chúng tôi tươi vui hơn. Được đưa về nhận việc tại trại Bệnh Viện Bình Dân dưới quyền Bộ Xã Hội, ngày hôm sau chúng tôi được phân phối đi các trại tiếp cư khắp Sài Gòn, Chợ Lớn và Gia Định. Đợt đầu tiên đồng bào di cư bằng cầu vận chuyển của chính phủ và các nước trợ giúp đã vào Sài Gòn từ đầu tháng 8 năm 1954.

Nhờ vào dịp hè, các trường học vùng Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định được trưng dụng để đón nhận người di cư đến bằng phi cơ quân và dân sự, các quân vận hạm Mỹ như Marine Serpent và Marine Addler, các mẫu hạm Anh và Pháp. Trại tiếp cư lớn nhất vùng Sài Gòn là trại Phú Thọ Lều (sát trường đua Phú Thọ, gồm hàng trăm lều vải lớn mỗi lều chứa bốn năm gia đình do quân đội Mỹ dựng. Gọi là Phú Thọ Lều để phân biệt với trại Học Sinh Di Cư Phú Thọ ở gần kế đó. Trại Phú Thọ Lều chứa trên 10 ngàn người.

Trợ cấp tiền mặt một ngày cho mỗi người lớn 12 đồng, trẻ em 6 đồng, dư để ăn ba bữa tươm tất. Lúc ấy một bát phở hay một tô hủ tiếu giá 3 đồng, một bữa cơm ở quán ăn xã hội hai món canh và mặn giá 5 đồng. Chai bia 3 đồng kể cả nước đá, một gói thuốc lá Ruby 8 đồng. Lương giáo viên tiểu học khoảng hơn 4,000 đồng, lương trung sĩ 2,200 đồng, lương cán bộ ngang lương thấp là 1,500 đồng. Một căn nhà gỗ lợp tôn 4×20 mét ở mặt đường khoảng chợ Hòa Hưng giá chừng 30,000 đồng.

Đời sống trong các trại tiếp cư rất đa dạng. Sống chật chội chung đụng và ồn ào, làm nảy sinh nhiều vui buồn, đụng chạm, kết bạn, rã bạn, tạo ra những mối tình ái lăng nhăng xấu tốt đủ cỡ đủ kiểu. Những cảnh âu yếm giao tình nặng nhẹ bên bờ bụi gần trại trong đêm khuya vắng vẻ của trai gái, vợ chồng đủ lứa tuổi, là những nét sinh hoạt rất sống động có đủ vui, buồn, yêu, giận, phát khóc và nực cười.

Từ tháng 8 năm 1954, mỗi ngày có trung bình hàng ngàn người từ Hà Nội và Hải Phòng vào Sài Gòn bằng đường hàng không và nhiều ngàn người mỗi tuần bằng tàu chiến. Công việc định cư được tiến hành song song và khẩn thiết. Phủ Tổng Ủy Di Cư lúc ấy đã thay thế bộ Xã Hội trong nhiệm vụ chuyên biệt này.

Thời gian tạm cư kéo dài đến cuối năm 1954 và các trường học được trả lại cho học sinh. Trại Phú Thọ Lều giải tán. Người di cư theo nhau đi định cư khắp nơi, ở nhà tư hoặc ở các trại định cư khắp các tỉnh. Tính đến chuyến tàu sau cùng tháng 3 năm 1955 có khoảng 950,000 người từ bắc Vĩ Tuyến 17 di cư vào Nam.

Nếu tính theo giấy tờ, con số này có thể lên tới hơn 1 triệu vì có sự gian lận sổ sách của một số viên chức cán bộ lợi dụng thủ tục khai và lãnh tiền trợ cấp dễ dàng. Và không phải 90% người di cư là tín đồ Công Giáo như nhiều người nhận định. Số đồng bào Công Giáo di cư có lẽ chỉ chiếm khoảng 70% tổng số.

Một điểm đáng ghi nhận là đáng lẽ số người di cư còn cao hơn nữa nhưng vì vụ tướng Nguyễn Văn Hinh chống ông Diệm và những cuộc giao tranh giữa quân chính phủ và lực lượng Bình Xuyên đầu năm 1955 ở Sài Gòn nên nhiều người Bắc không dám vào Nam. Tin tức về vụ này làm một số rất nhiều người đã định ra đi nhưng vì e ngại loạn lạc mà đổi ý.

Nói chung, sự xuất hiện của ông Ngô Đình Diệm và thái độ can dự của người Mỹ đã gây được tin tưởng trong một số đông đảo người miền Bắc khiến họ yên tâm vào Nam. Đại đa số thành phần trí thức, chuyên viên cao cấp như kỹ sư, bác sĩ, chuyên viên trung cấp, thợ giỏi, đã rời bỏ đất Bắc khiến chính quyền miền Bắc lúc ấy gặp khó khăn lớn trong mục tiêu xây dựng một đội ngũ chuyên viên kỹ thuật mà họ cho là xương sống của nền kinh tế và khoa học kỹ thuật XHCN.

Cuộc di cư năm 1954 tạo ra những thay đổi sâu rộng trong lịch sử Việt Nam. Xin ghi lại một vài sự kiện nổi bật xảy ra và những nét đặc biệt của cuộc di cư sau Hiệp Định Geneve 1954 điển hình tại vùng thủ đô Sài Gòn.

Trước hết phải nhìn nhận cuộc di cư đã giúp hàn gắn những chia cách đáng buồn giữa hai miền trong nước. Tình trạng chia rẽ do hậu quả của những năm dài dưới chế độ thuộc địa Pháp đã tiêu tan mau chóng. Những dị biệt về phong tục, ngôn ngữ vì ngăn cách, lâu ngày được san bằng gần hết. Những ngăn cách và hiểu lầm còn lại không gây hậu quả nào nghiêm trọng. Về mặt chính trị và xã hội, sau nhiều biến chuyển và chiến tranh, cuộc di cư vĩ đại năm 1954 đã góp phần thay đổi bộ mặt bề ngoài cũng như nếp sống của dân chúng đến chỗ tốt đẹp, phong phú hơn.

Trước tháng 10 năm 1954, chính quyền địa phương còn gần y nguyên như thời Pháp Thuộc. Văn thư, giấy tờ, tên công sở, phố xá còn dùng tiếng Pháp. Từ khi chính phủ Ngô Đình Diệm nắm toàn quyền sau những âm mưu đảo chánh bất thành, luật lệ được thi hành nghiêm chỉnh. Nhiều cải cách hành chánh đã làm giảm hẳn nạn giấy tờ nhiêu khê. Văn thư, giấy tờ đều bắt đầu dùng tiếng Việt. Xin Tư Pháp Lý Lịch bây giờ chỉ mất một tuần thay vì đợi 3 tháng. Xin chứng nhận bản sao đợi lấy ngay hay sau vài giờ thay vì một tuần lễ. Các cuộc cải tổ mạnh mẽ được tiến hành có kết quả tốt nhờ phần nào ở sự ủng hộ tích cực của đồng bào di cư đối với chính phủ.

Cuộc đổi tiền Đông Dương thành tiền Việt Nam năm 1955 trong 3 ngày không giới hạn số lượng là một đòn bất ngờ vô hiệu hóa hàng tỷ bạc Đông Dương mà chính quyền Hà Nội thu gom được ở miền Bắc vì họ không kịp chuyển vào Nam để đổi lấy tiền miền Nam mới. Đợt đổi tiền này cũng chấm dứt luôn thói quen tiêu dùng coi nửa tờ giấy bạc 1 đồng như 5 cắc (hào). Khi cần xài hay trả lại 5 cắc, chỉ cần xé đôi tờ giấy bạc một đồng. Đành rằng tập tục này không áp dụng cho những giấy bạc mệnh giá trên một đồng.

Lúc ấy ảnh hưởng tuyên truyền của Cộng Sản rất mạnh ở nam phần ngay tại Sài Gòn. Nhiều người mở đài Hà Nội công khai mà không ai bắt bớ. Nhiều người miền Nam ít hiểu biết về thực tế Cộng Sản đã thật thà hỏi mấy đồng bào di cư mới gặp gỡ rằng “Ngoài Bắc đã độc lập rồi, mấy thầy cô dô đây làm chi ?” Do đó đã xẩy ra một số đụng chạm nhỏ trong tháng đầu. Dần dần đồng bào miền Nam mới nhìn đồng bào di cư một cách có thiện cảm hơn.

Trong bối cảnh ấy, lực lượng học sinh di cư đã dẫn đầu cuộc biểu tình vào dịp 20 tháng 7 năm 1955 đòi tống xuất các đoàn đại biểu của quân đội Cộng Sản từ Hà Nội trú đóng tại hai khách sạn Majestic và Galliéni (đường Trần Hưng Đạo). Khi bị khiêu khích, cuộc biểu tình biến thành bạo động, gây thiệt hại nặng cho hai khách sạn nhưng không có thương vong quan trọng. Những hành vi cương quyết của quần chúng khiến bọn thân Cộng Sản không còn nhởn nhơ tuyên truyền bán công khai như trước.

Người di cư tiếp xúc, trao đổi với dân chúng địa phương mau chóng tạo ra những hiểu biết và thông cảm. Về kinh tế thương mại, người Bắc vào Nam đã mở mang thương trường, ra các cửa hàng nhất là hàng ăn. Năm 1954 hầu hết cửa tiệm ăn do người Hoa kinh doanh, và họ dành độc quyền ngành lúa gạo cũng như các sạp thịt ở mọi chợ. Đời sống dễ dàng ở miền Nam khiến người Việt ít muốn cạnh tranh, ngay như ngành công chức cũng không hấp dẫn nhiều người. Bà con lao động xích lô kiếm đủ tiền tiêu trong ngày nhiều khi đẩy xe lên lề dưới bóng cây làm một giấc, khách gọi mấy cũng từ chối. Cách biệt giầu nghèo ở Nam Việt lúc ấy rất ít.

Các tầng lớp dân di cư cần cù chịu đựng tham gia thị trường lao động đã làm cho đời sống kinh tế miền Nam lên cao nhưng lại buộc mọi người phải làm ăn chăm chỉ hơn. Một số người địa phương không hài lòng vì nếp sống thong thả lè phè cũ đã mất đi không còn trở lại.

Trang phục phụ nữ hai miền khác nhau, nổi rõ nhất là giới nữ sinh trung học tuổi đôi tám. Nữ sinh Hà Nội làm dáng sớm hơn, quần hẹp, áo dài nở vòng số một. Nữ sinh Sài Gòn vận quần trắng rộng, áo bà ba trắng nhiều hơn áo dài được may vòng số 1 tương đối phẳng phiu có lẽ vì đó là cách tỏ ra là con nhà nghiêm túc. Sau hơn một năm các cô hai miền tự nhiên hòa hợp cách ăn mặc, bọn thanh niên sinh viên học sinh chúng tôi không còn phân biệt được gốc gác các cô qua y phục nữa. Điều quan trọng và dễ thương hơn hết là những câu chuyện tình Bắc duyên Nam đã nhiều khi hóa giải rất nhiều cho những mâu thuẫn văn hóa chính trị.

Các trường phía Bắc di chuyển vào Sài Gòn giữ gần y nguyên ban giám hiệu và tổ chức riêng. Từ Hà Nội vào, Chu Văn An tiếp tục tại cơ sở cạnh Petrus Ký. Trưng Vương học chung cơ sở nhưng khác giờ với Gia Long… sau hai ba năm mới ra học ở các cơ sở riêng trước Thảo Cầm Viên. Mấy năm sau nữa thì học sinh gốc hai miền dần dần pha trộn.

Chuyện đáng nhớ là năm 1955 học sinh Bắc vào Nam và các bạn gốc miền Nam mở chiến dịch phá bỏ tên đường tiếng Pháp. Nhờ đó mà việc đặt tên đường mới, vốn là việc mất nhiều công sức, đã được Tòa Đô Chánh Sài Gòn thực hiện trong vòng khoảng một tháng.

Về mặt văn hóa và báo chí, các nhà văn, nhà thơ, nhà báo từ Bắc vào Nam đã hòa hợp với đồng nghiệp miền Nam tạo ra sinh khí mới, lối viết và văn phong, sắc thái trong sáng, có sức truyền đạt hơn. Sau một thời gian ngắn người đọc chỉ có thể nhận thấy một số khác biệt ít ỏi giữa bài vở sách báo do các tác giả gốc từ các miền khác nhau viết ra.

Đặc biệt là về tân nhạc, lớp nhạc sĩ và ca sĩ cũng như những người yêu nhạc từ miền Bắc vào Nam đã lôi cuốn được phong trào âm nhạc mới phát triển mạnh để tiến đến tới cao điểm nghệ thuật ca nhạc trong các thập niên sau. Và ngược lại số người Bắc di cư hâm mộ ca nhạc kịch cải lương cũng gia tăng nhiều.

Về mặt ăn chơi, sự thay đổi rõ rệt hơn. Sòng bạc Kim Chung, Đại Thế Giới, khu mại dâm Bình Khang bị đóng cửa đầu năm 1955. Giữa năm 1954 cả Sài Gòn hình như chỉ có 2 hay 3 tiệm phở Bắc. Chỉ sau vài tháng số tiệm phở tăng đến hàng chục. Các quán cà phê cũng lục tục ra đời cùng với các ngành buôn bán khác. Các xuất gọi là phụ diễn tân nhạc trước khi chiếu phim chính ra đời dần dần tiến đến những buổi trình diễn âm nhạc chuyên nghiệp gọi là “nhạc hội” giúp vào việc phổ biến âm nhạc sâu rộng hơn. Trước đó hoạt động âm nhạc chỉ được biết qua các chương trình ca nhạc và các cuộc thi hát, tuyển lựa ca sĩ của các đài phát thanh quốc gia, đài quân đội và đài Pháp Á cùng hai đài Huế và Hà Nội.

Ngôn ngữ hai miền sau cuộc di cư cũng thay đổi và pha trộn về từ ngữ tuy vẫn giữ những nét độc đáo của từng vùng mà không lai giọng. Điểm đáng lưu ý là sau nhiều năm gia đình gốc gác miền Bắc di cư có con cái đứa thì nói giọng địa phương (Nam hay Trung), đứa thì nói giọng Bắc, đứa thì nói cả hai ba giọng tùy theo môi trưởng xóm giềng và trường học. Nhưng không mấy ai nói lẫn lộn cùng một lúc các giọng khác nhau.

Về mặt đời sống xã hội, người di cư dần dần và chậm chạp chịu ảnh hưởng bởi lối sống phóng khoáng, chân thật, thẳng thắn của dân miền Nam. Sau một thế hệ, tính nết người Bắc di cư khác hẳn tính nết của đồng hương của họ còn ở lại quê nhà. Đến sau 30 tháng 4 năm 1975 người ta càng thấy điều này rõ rệt hơn khi gặp đợt Bắc Kỳ mới vào Nam.

Trong đời sống tinh thần, có hai sự kiện đáng nhớ trong thời gian ấy. Một là trước ngày Việt Minh tiếp thu Hà Nội thì chùa Một Cột, di tích quý báu nhất của Việt Nam bị kẻ vô danh phá bằng chất nổ. Rất may chùa chỉ hư hại một góc. Nghe tin ấy chúng tôi đều hết sức buồn phiền. Hai là giữa lúc nhịp độ di cư đang lên cao thì Hoàng Dương, em nhạc sĩ Hoàng Trọng cho ra đời ca khúc Hướng Về Hà Nội với lời ca tha thiết “Hà Nội ơi, hướng về thành phố xa xôi… mái trường phượng vĩ dâng hoa, dáng chiều ủ bóng tiên nga… biết đâu ngày ấy anh về.” Ca khúc này khiến lứa tuổi 18, 19 chúng tôi cảm thấy rõ điều mà các văn thi nhạc sĩ gọi là “tan nát cõi lòng.”

Dĩ nhiên trong ngót một triệu người Bắc di cư có đủ mọi thành phần tốt xấu kể cả đầu trộm đuôi cướp, quan lại tham nhũng, trọc phú bất lương, tay sai thực dân và nội tuyến Cộng Sản. Nhưng so với số các phần tử tinh hoa của xã hội, số người yêu nước, chuyên viên giỏi các loại, các nhân sĩ, trí thức, chiến sĩ quốc gia chân chính, thì những phần tử xấu xa nói trên chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ bé.

Tôi và các bạn cùng lứa tuổi di cư vào ở miền Nam gần 40 năm tính đến năm 1990 qua di trú sang Hoa Kỳ. Tuy sinh ra trên đất Bắc nhưng chỉ ở Bắc dưới 20 năm trong đó mới biết chuyện đời được dăm ba năm. Vì thế chúng tôi có hai miền quê quán. Quê quán thứ nhất ở miền Bắc còn ở trong tim nhiều hơn. Quê quán thứ hai ở miền Nam sau ngày di cư năm 1954 mới thực sự chứa đựng nhiều vui buồn, yêu thương, giận dỗi, vinh quang và tủi nhục vì trải qua quãng đường đời dài 40 năm với biết bao nhiêu là kỷ niệm.

Yên Huỳnh post (theo Lữ Tuấn)

 NHẠC PHẨM NGOẠI QUỐC CHỌN LỌC

Mời quý thân hữu thưởng thức 20 nhạc phẩm ngoại quốc tuyệt hay trong trang nhạc của người thường phê bình Bùi Phương.

http://www.youtube.com/playlist?list=PLuUrrk8zYVhMekQ8Wa5aWkVQ39WMbdJsW

Tran Nang Phung

CHIM LẠ

Exotic Birds of Paradise – tuyệt hảo ! Hy-Van – Mời Click vào đường dẫn :   1-Birds-Exotic Birds of Paradise-1

Xổ số

Một anh chàng tên Paul đến Texas mua một con lừa của một ông nông dân với giá 100 đôla. Ông nông dân đồng ý sẽ giao con vật vào ngày hôm sau. Sáng hôm sau, ông ta tới gặp Paul và nói :

– Tôi có tin xấu cho anh đây. Tối qua con lừa đã bị chết.

– Thế thì trả tiền lại cho tôi – Paul yêu cầu.

– Không thể được, tôi đã tiêu hết số tiền đó rồi.

– Vậy thì cứ để con lừa lại đây.

– Anh định làm gì với nó ?

– Tôi sẽ dùng nó làm phần thưởng xổ số.

– Không thể như thế được !!! – Ông nông dân thốt lên.

– Chắc chắn là được, ông cứ chờ xem, nhưng nhớ là đừng kể cho ai nghe là con lừa đã chết rồi nhé.

Một tháng sau ông nông dân gặp lại Paul :

– Chuyện thế nào rồi ?

– Tôi đã bán được 500 tờ vé số, mỗi tờ giá 2 đôla và kiếm lời được khoảng 900 đôla.

– Không ai phàn nàn gì à ?

– Chỉ duy nhất có gã đã trúng độc đắc, và tôi đã trả lại cho hắn 2 đôla !!!

Giá cả

Sáng sớm, chồng đưa vợ tiền đi chợ. Khi vợ đi chợ về chồng hỏi còn tiền dư đưa mua rượu uống. Vợ nói :

– Vật giá leo thang, cái gì cũng mắc, ông đưa có bấy nhiêu không đủ mua, lấy đâu mà dư ?

Chồng hỏi:

– Cái gì mà mắc ? Giá cả có chánh phủ kiểm soát, bọn gian thương sắp bị chém đầu rồi mà!

Vợ nói :

– Ông thử đi một lần sẽ biết. Món này hồi đó 10 nghìn, bây giờ 50 nghìn, món kia hồi đó 100 nghìn bây giờ 300 nghìn.

Chồng sừng sộ:

– Tại sao má mày không tìm cái món hồi đó mà mua có phải rẻ hơn món bây giờ không ?

Thả bồ câu

Trên chuyến xe lam, một anh chàng ngồi cạnh cô gái. Bỗng anh chàng đau bụng “Muốn” đánh rắm. Sợ quê, anh cắn răng nín. Nhưng, nó “đòi” dữ quá. Không biết làm sao, anh bật hát : Đôi bồ câu trắng bay về đâu ? Rồi nghiêng mông, phát ra hai tiếng “Chít, chít”. Chưa hết, nó còn “đòi” nữa. Bí quá anh lại hát tiếp : Đôi bồ câu trắng bay phương nào ? Rồi nhẹ nhàng nghiêng mông : “Chít, chít”.

Bỗng cô gái ngồi cạnh lên tiếng : Thả đại cả bầy luôn đi, thả từng đôi một đến bao giờ mới hết…

Yên Nhàn (tổng hợp)

KHÔNG CỦA RIÊNG AI (26)

BÁT BÚN RIÊU

Từ Auclair theo đường liên tỉnh 53 ngược lên mạn bắc là Salon Springs thì rẽ phải theo hương lộ P nhỏ hẹp ngoằn ngoèo lăn mình giữa những khu rừng phong ngút ngàn trùng điệp, tiếp tục thêm vào dăm vòng qua những lưng đồi thoai thoải dốc là tới thung lũng Nivagamond, trạm đặc khu của người da đỏ.

Trời vào thu, rừng phong đã thay chiếc áo choàng mầu hồng lựu. Hơn ½ giờ xe, không một bóng người ngoài tiếng gió thở dài, tiếng lá khô sào sạc, tiếng rừng cây trăn trở, không còn một âm thanh nào khác.

Tôi cảm tưởng như lạc vào 1 hành tinh xa lạ không sinh vật. Ðồi lại đồi liền liền  tiếp nối nhau sau cùng tới Nivagamond. Nơi đây có viện dưỡng lão Lakeview mà theo lịch trình thì mỗi năm tôi phải đến 1 lần để thanh tra y vụ.

Lần đầu tiên đến đây nên tôi không khỏi ngỡ ngàng tưởng dù hẻo lánh đến đâu ít ra cũng có xóm làng, một giáo đường nho nhỏ hay vài ngôi nhà be bé xinh xinh nhưng tuyệt đối không.

Ngoài rừng phong đỏ lá chỉ có hồ nước trong veo xanh ngắt mầu trời. Trung tâm an dưỡng Lakeview như tên gọi ẩn mình dưới tàng cây rợp bóng trên khu đất rộng.

Quay lưng vô rừng thông nhìn ra mặt hồ phẳng lặng như gương tôi ngẫm nghĩ, nơi đây có thể là điểm nghỉ ngơi lý tưởng cho những người quanh năm lao lực hoặc những ai muốn tìm sự quên lãng, còn chọn làm viện dưỡng lão thì hơi tàn nhẫn.

Tuổi già vốn đã cô đơn mà nơi đây lại hầu như tách biệt với thế giới bên ngoài. Trừ y tá, y công và vài chuyên viên dịch vụ thì chẳng còn ai, người nào cũng bận bù đầu, rảnh rỗi đâu mà tán gẫu với những người già. Nhất là sau buổi cơm chiều khi hoàng hôn buông xuống, ai nấy đều đã về nhà thì bóng đêm chắc phải thật dài.

Vừa đẩy cửa bước vào tôi đã giật mình vì gặp một hàng 6 chiếc xe lăn đang dàn chào. Trên mỗi xe là 1 lão ông hoặc lão bà độ 7, 8 mươi, mái tóc bạc phơ, mắt hom hem sau làn mục kỉnh. Có người trông còn sáng suốt, người thì như xác không hồn. Họ chăm chú nhìn tôi từ đầu đến chân như quan sát một quái nhân  đến từ hành tinh khác. Có lẽ vì tôi là người Á châu duy nhất tới đây chăng ? Cô y tá hướng dẫn như đoán được cảm nghĩ của tôi bèn nhoẻn miệng cười : ông ngạc nhiên lắm sao ? Tôi ngập ngừng :  bộ họ biết hôm nay tôi đến đây nên hiếu kỳ muốn trông thấy mặt tôi.  Cô y tá khẽ lắc đầu, mỗi ngày đều như vậy, sáng nào họ cũng ngồi đó để mong chờ ông ạ. Chờ thân nhân tới đón ? Dạ thưa không. Vậy hay là chờ bạn bè đến thăm ?  Cô y tá phì cười pha trò: ông nghĩ già ngần ấy tuổi mà còn hẹn bạn gái sao ? Không, ý tôi là bạn thông thường đấy.

Nếu những người bạn ấy chưa nằm xuống thì cũng đang ngồi xe lăn như họ tại một viện dưỡng lão nào đó thôi, rồi ngậm ngùi họ mong chờ  những hình bóng không bao giờ đến, xa xôi trong ký ức. Rồi khẽ thở dài : tôi làm việc ở đây hơn 10 năm, đã chứng kiến nhiều hoạt cảnh, tháng nào cũng có người mới tới và cũng có người vĩnh viễn ra đi. Chắc ít nhiều, lòng cô cũng có phần nào sao xuyến, phải không cô ? Thật tình mà nói lúc đầu thì có đấy, nhưng mà bây giờ tôi đã quen rồi. Tôi nghĩ là cô rất mẫn cảm ?  Chỉ là do tập luyện thôi chứ bằng không thì sẽ ngã quỵ đó ông !

Chúng tôi vào thang máy lên tầng trên, một cụ già chống gậy tập tễnh vô theo. Cô y tá nhìn ông ta và hỏi : ông đi lên thang máy hay là đi xuống ? Cụ đáp như cái máy, giọng nói khò khè yếu ớt khó nghe. Ði.. đi xuống, rồi đi.. đi lên, rồi đi.. đi xuống, đi lên.

Tôi nhận thấy ông ta chẳng nhìn ai cả, ánh mắt không hồn đang hướng về phương trời vô định. Dường như quá quen thuộc với những hiện tượng này, cô y tá thản nhiên nói : vậy thì xin ông bước ra chờ chuyến sau sẽ có người đi với, chúng tôi đang bận. Cô bèn nắm tay dẫn ông cụ ra ngoài rồi lạnh lùng khép cửa. Tôi thắc mắc : nếu ông ấy lại tiếp tục bấm nút thang máy thì sao cô ? Chúng tôi đã lượng trước được điều ấy cho nên tất cả nút cắt điện trong viện đều gắn rất cao người già không thể với tới. À thì ra vậy.

Công tác xong trời cũng về chiều, tôi từ giã, cô y tá tiễn tôi ra cửa. Ðoàn xe lăn vẫn còn dàn chào. Chợt trông thấy trong góc tối 1 ông lão độ trên dưới 80 đang cô đơn ngồi bất động trên xe lăn như pho tượng cũ. Ðiểm khác biệt khiến tôi chú ý là ông ta không phải người da trắng và cũng không hoà nhập vào toán dàn chào. Da ông mầu đồng nâu có nhiều vết nhăn đậm nét thời gian hằn trên mặt. Mái tóc bạc phơ rủ lòa soà trên trán, vóc người bé nhỏ, mắt hom hem trân trối nhìn tôi như muốn nói điều gì. Tôi đoán chừng ông là thổ dân da đỏ. Hiếu kỳ tôi hỏi cô y tá: và vị dưỡng lão này cũng là người Indian hở cô? Tôi nghĩ đó là trách nhiệm của chính phủ liên bang chứ? Cô ta ngạc nhiên, uả sao ông lại hỏi vậy ? Tôi trỏ ông lão ngồi xe lăn, vậy không phải Indian là gì? Cô y tá phì cười, ông ta là người Á đông đó ông ạ. Tôi giật mình : người Á đông ? Dạ phải, dường như là Việtnam đó.

Thêm một lần kinh ngạc, tôi không ngờ nơi vùng đất hẻo lánh đìu hiu lạnh lẽo này cũng có người Việt định cư. Tôi bèn hỏi dồn, sao cô biết ông ta là người Việt.  Dạ thưa ông hồ sơ có ghi đó ông ạ. Vậy thì ông ấy vào đây lâu chưa cô ? Hơn 10 năm. Rồi cô khẽ lắc đầu : tội nghiệp, ông ta rất hiền lành dễ thương ai cũng quí mến cả. Nhưng hiềm chẳng nói được tiếng Anh cho nên suốt ngày cứ thui thủi một mình không có bạn. Vậy thân nhân ông ấy có thường xuyên tới thăm ông ấy không ? Một lần cách đây lâu lắm, hẳn có uẩn khúc gì đây. Không cam tâm làm ngơ trước người đồng hương đang gặp cảnh bẽ bàng nơi đất khách, tôi tự giới thiệu : tôi cũng là người Việtnam.

Cô ta trố mắt : ồ, thế mà tôi cứ đinh ninh ông là người Trung Hoa. Tôi cười: trong mắt người Tây phương, thì bất cứ ai da vàng cũng là người tầu. Cô ta pha trò : cũng đâu phải lạ, nhiều anh Tầu nhan nhản khắp nơi. Ngay trong xóm da đỏ hẻo lánh tít mù trên miền bắc cũng có.  Lần nào qua đó tôi cũng ghé mua cơm chiên, chả giò vừa ngon vừa rẻ nhưng phải cái là… Tôi nhoẻn miệng cười: mỡ dầu và bột ngọt hơi nhiều phải không cô ? Cô ta cười xoà: phải nói là nhiều quá mới đúng.  Khổ công tập thể dục cả tháng, ăn 1 bữa cơm Tầu là đâu vào đấy, có khi còn thặng dư là khác.

Tôi quay lại vấn đề : tôi muốn tiếp xúc với ông lão người Việt để mà chào hỏi làm quen, có thể ông ấy cũng đang cần nói chuyện vì lâu lắm chưa có dịp.  Cô y tá mừng rỡ: hay lắm, đó cũng là điều tôi mong muốn. Vùng này hẻo lánh quá nên không tìm ra người thông dịch, nhân tiện nhờ ông hỏi xem ông ấy có nhu cầu hay đề nghị gì hầu chúng tôi đáp ứng không ? Vâng, tôi sẽ cố gắng làm điều đó cô.

Thấy tôi đi tới ông lão ngước lên, nhíu đôi mắt hom hem nhìn chầm chập, vừa ngạc nhiên vừa thoáng chút ngại ngùng. Tôi gật đầu chào: dạ thưa chào cụ ạ. Nét mặt rạng niềm vui, giọng nói run run vì xúc động. Dạ chào, chào thầy, thầy là người Việt à ? Giọng ông hơi nặng và chân thật. Tôi thân mật nắm tay ông. Thưa cụ cháu cũng là người Việt như cụ đấy ạ. Ông lại nghẹn ngào : cảm ơn Thiên chúa, cảm ơn Ðức mẹ từ bi đã cho tôi gặp được ông.

Tôi kéo ghế ngồi bên cạnh và bắt đầu trò chuyện. Thưa cụ, vì sao cụ cho là cuộc gặp gỡ hôm nay là do Thiên chúa và Ðức mẹ sắp đặt. Tại đêm nào tôi cũng cầu nguyện ơn trên cho tôi gặp được người đồng hương. Có chuyện gì khẩn cấp không thưa cụ ? Ðể được nói chuyện bằng tiếng Việt mình thôi. Cụ thở dài : lâu lắm rồi tôi chưa được nói hay là nghe tiếng mẹ đẻ. Nhức trong tim, tôi bùi ngùi thương cảm, một ước mơ thật đơn giản mà sao quá xa vời.

Chúng tôi bắt đầu trò chuyện. Ông kể : tên tôi là Tỉnh, Nguyễn văn Tỉnh, trước kia ở Bình Tuy, làm nghề biển, có thuyền đánh cá. Tuy không giầu nhưng cuộc sống cũng sung túc. Tôi có vợ, 3 con trai, đứa lớn nhất còn sống thì giờ này cũng đã gần 50.
Năm 75 , cả nước kéo nhau chạy nạn, sẵn phương tiện trong tay tôi chở vợ con vượt thoát, nhưng chẳng may là sau 3 ngày lênh đênh trên mặt biển thì gặp bão lớn tầu chìm. Tôi và đứa con út lên 6 được may mắn đã gặp tầu Mỹ nó vớt, còn vợ và 2 đứa con lớn thì mất tích thầy ạ. Sau đó thì tôi được bảo trợ về Louisiana , nơi đây có đông người đồng hương nên cũng đỡ buồn.

Tôi bắt đầu tái tạo sự nghiệp, hùn hạp với bạn bè mua tầu đánh cá làm việc ngày đêm, trước là để vơi buồn, sau là tạo dựng tương lai cho thằng Út, giọt máu cuối cùng còn sót lại của tôi. Tôi ước mong thằng bé sẽ theo cha mà học nghề biển nhưng nó thì không muốn. Nó chỉ thích làm bác sĩ, kỹ sư ngồi nhà mát thôi chứ không chịu dãi nắng dầm mưa như bố, thế nên thầy biết không, vừa xong trung học là nó quyết chọn trường xa để mà tiếp tục theo đại học.

Ông ngừng lại 1 chút để dằn cơn súc động rồi ngậm ngùi kể tiếp : tôi chỉ có  mình nó, không thể sống xa con, nên  quyết định là bán hết tài sản để mà dọn theo, bạn bè ai cũng ngăn cản thầy ạ, nhưng tôi quyết giử  lập trường, mang hết tiền dành dụm đến cái tiểu bang này mua 1 căn nhà nhỏ ở ngoại ô, còn chút ít thì gửi vào trong quỹ tiết kiệm lấy lời sống qua ngày. Hai cha con đùm bọc nhau, cuộc sống tuy chẳng sung túc nhưng chẳng nhẹ nhàng. Tuổi  ngày một già thì sức khỏe  càng yếu, năm ấy trời mưa đá, tôi bị ngã gẫy chân thầy ạ. Bác sĩ cho biết xương già thì không có lành được và phải vĩnh viễn ngồi trên  xe lăn. Thằng Út ra trường có việc làm tốt ở Nữu Ước.

Tự biết là khó có thể theo con và không muốn làm trở ngại bước tiến thân của nó nên tôi xin vào viện dưỡng lão. Tôi lên tiếng trước thầy ạ cho nó khỏi bị khó xử. Nó giúp tôi làm thủ tục và hứa là khi nào làm ăn yên ổn nó sẽ đón tôi về. Các viện dưỡng lão tương đối khá đều hết chỗ, may thay trong lúc đang bối rối thì có anh bạn học người da đỏ mách cho tôi nơi này. Thấy con tôi buồn tôi bèn an ủi nó : nơi nào cũng là quê người, cũng giống nhau thôi, thỉnh thoảng con về thăm bố là bố vui rồi.

Thế là cả ngôi nhà lẫn tiền dành dụm phải trao hết cho viện dưỡng lão, dĩ nhiên là tôi được nhận. Ánh mắt xa xôi nhìn về phía chân trời đang có đàn chim chiều đang soải cánh ông chép miệng : chà nhanh quá, mới đó đã 10 năm rồi. Thưa cu., thời gian qua chắc là anh Út vẫn thường xuyên về thăm cụ chứ ? Ừ, một năm thì nó cũng trở lại, nó khoe tôi hình cô gái Mỹ và nó nói, dâu tương lai của bố đó. Rồi thầy biết không, từ đó biệt tăm luôn. Cụ hoàn toàn không biết tin tức gì về anh ấy sao ? Không, mà thật tình tôi cũng không muốn biết nữa. Tại sao, anh ấy là con trai duy nhất của cụ mà ? Cháu sẽ giúp cụ tìm anh ấy nhé ? Ông lão rơm rớm nước mắt: tôi sợ lắm, thầy ơi, thà biền biệt như thế mà tôi vẫn tin tưởng là nó đang sống tốt với vợ con ở một nơi nào đó trên quả đất còn hơn là biết tin buồn. Quả tình tôi không kham nổi.

Tôi nghẹn lời nói không được, lát sau qua cơn xúc động, tôi bèn hỏi: giờ đây cụ có còn ước nguyện gì thì cụ cho cháu biết, cháu sẽ hết lòng giúp cụ với tất cả khả năng của mình thưa cụ. Ông lão thở dài, già rồi còn được mấy năm trước mặt hở thầy ? Ánh mắt chợt linh động, ông nhìn tôi và chép miệng : à, mà tôi thèm một bát bún riêu quá.

Hai tuần sau vào ngày Chủ nhật, tôi nhờ chị bạn thân nấu dùm 2 bát bún riêu cua, bún nước để riêng, có đầy đủ chanh, rau, nước mắm, ớt hiểm tươi còn đặc biệt có thêm lọ mắm ruốc thật ngon. Tôi cho tất cả vào túi xách đem vào viện dưỡng lão Lakeview. Mất hơn 4 giờ đường, sau cùng tôi đã tới. Như lần trước, ông lão vẫn ngồi trên xe lăn gần cửa sổ cuối phòng. Bất ngờ trông thấy tôi ông mừng rỡ kêu lên : ồ kìa thầy, thầy lại về đây công tác hở thầy ? Tôi chạy tới nắm tay ông. Dạ thưa lần này thì cháu chỉ đến đây thăm cụ và cháu có một món quà đặc biệt mang biếu cụ đây. Lộ vẻ cảm động ông cụ nhoẻn cười đôi mắt nhăn nheo. Bầy vẽ làm chi hở thầy, đến thăm tôi là quý rồi thầy ơi.

Tôi xin phép ban quản lý đưa cụ ra vườn vì thức ăn nặng mùi mắm ruốc nên tôi phải mang theo 1 lọ cồn nhỏ để đun nóng ngoài trời. Cụ chăm chú nhìn tôi bỏ bún ra tô, trộn rau ghém, nêm mắm ruốc, chan nước dùng nghi ngút  bốc hơi, rắc chút tiêu thơm trên lớp gạch cua nổi vàng trên mặt. Nặn hai lát chanh tươi và sau cùng là ba quả ớt hiểm đỏ thơm nồng cay xé lưỡi. Không nén được thèm thuồng, chốc chốc cụ lại nuốt nước bọt.
Tôi đặt tô bún riêu trước mặt và mời cụ cầm đũa. Cụ run giọng: cám ơn thầy, không ngờ hôm nay tôi còn được ăn bát riêu cua. Mời thầy cùng ăn cho vui ạ. Cám ơn cụ, cháu đã ăn xong ở nhà, xin cụ dùng tự nhiên, bún riêu còn nhiều, hết tô này cháu sẽ hâm  tô khác cho cụ. Cụ trịnh trọng húp từng muỗng súp, gắp từng đũa bún, cắn từng miếng ớt cay ngon lành  như chưa từng được ăn ngon, chốc chốc cụ dừng tay để lau mồ hôi và luôn mồm khen tấm tắc: trời ơi, bún riêu ngon quá mà mắm ruốc thơm quá thầy ơi.

Tôi cảm động đặt tay lên vai cụ. Thưa nếu cụ bằng lòng nhận cháu làm con, cháu sẽ thay anh Út và thường xuyên thăm viếng cụ nhé. Cụ sững sờ nhìn tôi thật lâu như không tin ở tai mình rồi hai dòng nước mắt từ từ lăn dài trên đôi má hóp. Trời ơi, sao tôi có được diễm phúc như vậy sao trời! Tôi yêu cầu ban quản lý ghi tên tôi vào danh sách thân nhân, và dặn dò khi có chuyện cần thì cứ gọi.

Năm sau, còn một ngày nữa là Tết, tôi đã chuẩn bị xong quà cáp có cả trà thơm, mứt ngọt dự định sáng hôm sau mồng một đầu năm sẽ mang lên Lakeview mừng tuổi cụ.
Ðang ngon giấc, chợt có chuông điện thoại, tôi nhấc ống nghe, bên kia đầu giây tiếng cô y tá trực của viện dưỡng lão Lakeview. Dạ thưa hỏi, có phải ông là ông Trần không ? Dạ vâng ạ, là chính  tôi đây. Dạ thưa ông, cụ Tính đau nặng. Tình trạng thế nào có nguy không cô ? À, đang nằm phòng hồi sinh bệnh viện ở thành phố đó thưa ông. Cám ơn cô rất nhiều, ngày mai tôi sẽ đến cụ. À ông nên đi sớm hơn đi là vì sợ không còn dịp nữa.
Tôi rụng rời, ngoài trời tuyết rơi càng lúc càng nhiều, trời trở lạnh, gió giật từng cơn, hoa tuyết bay nghiêng như ngàn vạn mũi tên bắn vào kính nghe rào rào như vãi cát. Không gian mờ mịt, rừng phong trắng xóa một mầu, tuyết phủ một lớp dầy trên mặt đất. Tôi rà thắng cho xe chạy chậm để khỏi rơi xuống hố. Sau cùng cũng tới được bệnh viện Hayward. Cô y tá nhìn tôi ái ngại. Thưa ông, suốt đêm qua ông ấy cứ gọi tên một người nào đó. Không biết có phải là ông không ạ. Cô còn nhớ là ông ấy gọi tên gì không ? Chỉ một tiếng duy nhất, dường như là work hay út gì đó. Tôi đã hiểu là thằng Út.

Tôi hé cửa lách vào trân trối nhìn ông rồi ngồi xuống bên giường, người ông khô đét, hai mắt nhắm nghiền, hơi thở yếu ớt. Tôi nhẹ nhàng đặt tay lên vầng trán nhăn nheo. Ông chợt cử động rồi thều thào.. Út… Út.. Nước mắt chực trào ra, giờ phút này tôi cần phải làm một điều gì để giúp ông được mỉm cười khi vĩnh biệt.

bóp nhẹ bàn tay già gầy guộc và nghẹn ngào : thưa cha, con đã về đây thưa cha. Mi mắt ông động đậy, cố nhướng nhìn lên. Rồi kiệt sức nên từ từ khép lại nhưng môi còn mấp máy : Út… Út., Út. con. Phải thưa cha con là Út đây cha. Con là đứa con bất hiếu đã quay về bên cha để xin cha tha thứ cho con.

Tôi cảm được các ngón tay khô gầy đang bắt đầu cử động trong lòng tay tôi, cố nắm giữ đứa con yêu đừng có xa rời.  Nước mắt tôi vô tình rơi xuống làn môi khô nứt nẻ đang hé một nụ cười. Gia tài ông để lại là một bọc vải nhỏ trong ấy có một tượng Chúa Giê su bị đóng đinh trên cây thập giá và tấm hình đen trắng đã trổ vàng chụp gia đình 5 người đoàn tụ, đứa nhỏ nhất còn bế trên tay, tôi đoán nó tên là Út.

Tuổi xuân giờ đã đi đâu

Còn đây tóc bạc phai mầu thời gian

Về đây vui hưởng đào già

Cà phê dưỡng lão còn nhà nào hơn …???!!!

(Dường như do sự cố ý? Người viết không để tên)

Trần Văn Tư post

MỘT CHÚT HOÀI NIỆM…

VỀ SÀI GÒN

Còn lại chút gì để nhớ, để thương Saigon. (HkThành)

Trong số hàng trăm con đường của Sài Gòn, đường Tự Do (sau này là Đồng Khởi) xưa là đường Catinat là một trong số rất ít những con đường kỳ cựu nhất. Nó hiện diện từ trước khi Pháp đánh chiếm Sài Gòn và tầm quan trọng của nó trải dài từ thời Pháp thuộc cho đến bây giờ.

Có thể nói đường Đồng Khởi là chứng nhân của những thăng trầm trong lịch sử đất Sài Gòn, là trái tim tưng bừng nhịp sống của một thành phố không ngừng đổi mới, cho đến ngày nay vẫn tiếp tục là một trong những con đường quan trọng nhất của Sai Gòn.

Năm 1861, khi Sài Gòn lọt vào tay quân Pháp thì con đường này đã có một quá trình dài góp mặt vào sinh hoạt của cư dân địa phương. Nó được biết đến nhiều vì ở đầu con đường, nơi giáp với bờ sông (sông Sài Gòn), từng là nơi vua nhà Nguyễn đến nghỉ ngơi và … tắm (Bến Ngự). Tuy nhiên, từ trước năm 1865, nó cùng 25 con đường khác chỉ mang số thứ tự kế tiếp nhau, từ 1 đến 26. Phải chờ đến ngày 1/2/1865, Đề đốc De La Grandière mới đặt tên cho từng con đường một và con đường số 16 lần đầu tiên mang tên Catinat. Nhiều người không rõ xuất xứ của tên này. Theo một số sử liệu, Catinat là tên một thống chế Pháp sinh năm 1637 và mất năm 1712, phục vụ dưới thời vua Louis XIV. Giữa thế kỷ XIX, Pháp lấy tên Catinat đặt cho một chiếc tàu chiến từng tham gia trận đánh Sài Gòn năm 1859 và dựa vào chi tiết này, De La Grandière đặt cho con đường số 16 tên Catinat (trường hợp tương tự cũng xảy ra với rạch Thị Nghè, được Pháp gọi là Arroyo d’Avalanche).

Một trong những tác giả Pháp đầu tiên là Pallu de la Barrière đã miêu tả con đường số 16 này vào năm 1861 như sau : “Du khách đến Sài Gòn nhìn thấy bên hữu ngạn con sông một loại đường phố mà hai bên bị đứt quãng bởi những khoảng trống lớn. Phần lớn nhà cửa làm bằng cây lợp lá cọ ngắn; số khác ít hơn, làm bằng đá. Mái nhà lợp bằng ngói đỏ làm vui mắt và tạo được cảm giác yên bình…”. Tính cách quan trọng của con đường Catinat thể hiện ở chỗ nó được thực dân Pháp sử dụng làm trung tâm của bộ máy thuộc địa. Đầu tiên, vào năm 1863, ở vạt đất nằm giữa hai con đường Mossard (nay là Nguyễn Du) và Gouverneur (sau là De La Grandlière, Gia Long, nay là Lý Tự Trọng), họ dựng lên dinh Thủy sư Đề đốc, cơ quan đầu não của thực dân Pháp tại Viễn Đông, gần chiếc đồng hồ lên cái tháp trước dinh, từ đó, quảng đất trống phía trước (nay là khu đất trước mặt tiền Nhà thờ Đức Bà) được gọi là “Quảng trường Đồng hồ” (Place de l’Horloge). Ngày 15/8/1865, tại quảng trường này đã diễn ra một buổi lễ trong thể có duyệt binh do chính De La Grandière chủ trì nhằm tôn vinh Hoàng đế Pháp Napoléon III và Hoàng hậu.

Năm 1864, Nha Giám đốc Nội vụ (Direction de I’ Intérieur), người dân đương thời gọi là “Dinh Thượng thơ”, được xây dựng, nhìn ra đường Catinat, ở phía đối diện dinh Thủy sư Đề đốc. Viên chức lãnh đạo cơ quan này, xét về mặt cai trị, chỉ xếp sau Thống đốc Nam Kỳ, trực tiếp chỉ huy các tham biện Pháp và quan lại Việt Nam hàng Huyện, Phủ, Đốc phủ sứ. Đầu thập niên 1880, ngay trên lộ trình con đường chạy qua, mọc lên ngôi nhà thờ Notre Dame, về sau được cư dân Sài Gòn gọi là Nhà thờ Đức Bà hay Vương cung Thánh đường. Sau lưng nhà thờ là đường Norodom, lấy tên ông hoàng xứ Cambodge (Campuchia) đến thăm Sài Gòn vào đầu năm 1867, nhân cuộc đấu xảo canh nông đầu tiên tổ chức tại đây.

Năm 1886, Pháp khởi công xây trụ sở chính Sở Bưu chính và Viễn thông (nay là Bưu điện ) trên khu đất đối diện với mặt tiền nhà thờ, nằm giữa con đường Catinat và đường Paul Blanchy (nay là Hai Bà Trưng). Cuối đường Catinat, người ta nhìn thấy một tháp nước cao được xây dựng năm 1878 nhằm cung cấp nước uống cho cư dân trong vùng. Tuy nhiên, đến năm 1921, với sự phát triển của dân cư, tháp nước này không còn đáp ứng được yêu cầu nên bị đập bỏ. Ngày 1-1-1900, nhà hát Tây (nay là Nhà hát thành phố) được khánh thành trên giao lộ đường Bonard (nay là Lê Lợi) và Catinat, trở thành nơi biểu diễn thường xuyên của những đoàn hát từ phương Tây đến.

Nhịp sống trên đường Catinat

Sinh hoạt của đường Catinat vào những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX được tác giả Nguyễn Liên Phong miêu tả sinh động trong Nam kỳ phong tục nhơn vật diễn ca xuất bản tại Sài Gòn năm 1906 :

Nhứt là đường Ca-ti-na,

Hai bên lầu các, phố nhà phân minh

Bực thềm lót đá sạch tinh

Các cửa hàng bán lịch thanh tốt đều

Máy may mấy chỗ quá nhiều,

Các tiệm tủ ghế dập dều (sic) phô trương

Đồ sành, đồ cẩn, đồ đương

Đồ thêu, đồ chạm trữ thường thiếu chi

… Nhà in, nhà thuộc, nhà chà,

Nhà hàng ăn ngủ với nhà lạc son (xoong) ~

… Phong lưu cách điệu ai bằng

Đường đi trơn láng, đền giăng sáng lòa

Thứ năm, thứ bảy, thứ ba

Với đêm chúa nhựt hát nhà hát Tây…

Vào thời kỳ này, đường Catinat là bộ mặt sinh hoạt của cả Sài Gòn, thành phố thuộc địa đầu tiên ở vùng Viễn Đông với sự hiện diện của khoảng 3.000 người Pháp, hơn 3/4 trong số này là sĩ quan và viên chức. Lính Pháp ở trong các bungalow (loại nhà gỗ có hiên rộng) nằm khuất trong những vườn cây xanh. Để tiết kiệm chi phí và tìm sự đông vui hai, ba anh chung nhau tiền mướn một chỗ ở, có sự giúp việc của một anh bồi (boy) bản xứ, đi chợ, giặt giũ, nấu ăn… Sinh hoạt dân sự trên đường Catinat cũng được những người Pháp đương thời miêu tả đúng như Nguyễn Liên Phong. Hai bên đường, các thợ may, thợ đóng giầy người Hoa hoạt động khá đông, sau đó đến các cửa hiệu tạp hóa, nơi du khách có thể tìm thấy thức ăn khô, mũ nón hay yên cương… Từ ngày 24/2/1897, đoạn đường Catinat từ phía sau nhà thờ Đức Bà đến tháp nước (nay là Hồ Con Rùa) mang một tên mới là đường Blancsubé. Về sau nữa, khi thành phố được mở rộng hơn, con đường được tiếp tục nối dài đến đường Mayer (sau là Hiền Vương ) và khúc cuối này có tên là đường Garcerie.

Tiêu biểu cho sinh hoạt trên đường Catinat vào thời kỳ đầu Pháp thuộc là nhiều cơ sở dịch vụ thương mại được thành lập từ rất sớm. Sớm nhất có thể không đâu hơn Hãng Denis Frère mọc lên ở đầu đường, phía bờ sông, nay là khu vực của Grand Hotel, đối diện với Nhà hàng Majestic phía bên kia đường. Sau Denis Frère là hiệu thuốc Tây đầu tiên của cả Sài Gòn nằm ở góc Catinat và Bonard (Lê Lợi), khai trương năm 1865, chủ nhân là Lourdeau, sau làm Xã trưởng Sài Gòn (1870). Ít lâu sau, hiệu thuốc được giao lại cho Holbé, tiến sĩ dược khoa, một nhân vật khá nổi tiếng của đất Sài Gòn xưa, từng làm Phó Chủ tịch Phòng Thương mại Sài Gòn, Phó Chủ tịch Hội đồng quản hạt Nam kỳ (Conseil colonial de la Cochinchine). Holbé từng điều chế ra một loai biệt dược có tên “Gouttes Holbé” dành cho những tay nghiện á phiện cai nghiện. Về sau, nhà thuốc Tây về tay Renoux, rồi Solirène và mang tên vị chủ nhân này trong một thời gian dài, trước khi bị thay thế bởi nhà hàng Givral còn hoạt động đến ngày nay.

Yên Huỳnh post

Chú thích hình

1/- Nhà thờ Notre-Dame de Sài Gòn và Place Pigneau de Béhaine, hình chụp từ đường Catinat. 2/- Hôtel de Ville de Sài Gòn nằm trên đường Rue d’Espagne đối diện với Boulevard Charner. 3/- Những biểu ngữ quảng cáo phim truyện với người lái xe mô-tô trên Boulevard Charner. 4/- Một quán café trên đường d’Ormay nhìn ra đường Catinat (đường Tự Do)

5/- Một tiệm bán hàng mỹ phẩm và nước hoa. 6/- Một cửa hàng bán đồng hồ đeo tay trong Thương Xá GMC. 7/- Cửa hàng giầy dép và đồ lót, có lẽ trên đường Bonnard (Lê Lợi)

8/- Hai vị tu sĩ tây thuộc dòng Francisco trên đường Catinat (Tự Do). 9/- Xe điện trên Boulevard de la Somme (Hàm Nghi). Xe điện mang quảng cáo thuốc lá Mélia của Hảng MIC (Manufacture d’Indochine de Cigarettes) và trên nóc nhà có đèn ống mang thương hiệu thuốc Aspirine – Usines du Rhône (Rhône-Poulenc). 10/- Jardin Botanique de Sài Gòn (Thảo cầm viên) giữa Kinh Thị Nghè và Boulevard Norodom (Thống Nhất cũ).

11/- Cầu Thị Nghè. 12/- Théâtre Nguyễn Văn Hảo trên Avenue Galliéni (Trần Hưng Đạo) đang chiếu phim «Till the Clouds Roll By».13/- Hồ bơi Le Cercle Sportif Saigonnais trong Jardin Maurice Long nằm ở góc Rue Taberd.

Thế là hai vợ chồng cãi nhau ! (2)

– Vợ tôi : Ngày cưới em có phải là ngày vui nhất đời anh không ?

Tôi nói : Không ! Chỉ là ngày vui hạng nhì thôi.

Vợ tôi : Chứ ngày vui thứ nhất là ngày gì ?

Tôi nói : Là cái ngày em cuốn gói “dzề” bên má em 3 tuần. Giời ơi ngày nào cũng xỉn.

Thế là hai vợ chồng cãi nhau.

– Vợ tôi : Cuối tuần này là sinh nhật của anh. Em muốn anh có được một cuối tuần thật là vui vẻ hạnh phúc. Nói em nghe anh muốn gì nào ?

Tôi nói : Sẽ không có gì làm anh vui và hạnh phúc nếu em cuốn gói “dzề” bên má em 3 tuần như lần trước

Thế là hai vợ chống cãi nhau.

– Trước ngày “Tình Nhân” (Valentine) vợ tôi nói : Đêm hôm qua, em nằm mơ thấy anh tặng em cái nhẫn hột xoàn, thế nghĩa là gì hả anh ?

Ngày lễ “Tình Nhân” tôi tặng nàng cuốn sách “Đoán điềm giải mộng”

Thế là hai vợ chống cãi nhau.

– Tôi đăng báo bán “Một quyển Tự Điển Bách Khoa Việt Nam, dầy 3.000 trang còn mới giá rẻ $10.00, lý do lấy dzợ tháng vừa rồi không cần nữa, có con dzợ cái gì nó cũng biết hết.”

Thế là hai vợ chồng cãi nhau.

– Tôi hỏi : Tối hôm qua em đi đâu, suốt đêm không về ?

Vợ nói: Em ở bên nhà con Phượng bạn thân em, đánh tứ sắc suốt đêm.

Tôi nói: Em học tánh nói láo từ hối nào vậy? Anh ở bên con Phượng suốt đêm có thấy em đâu.

Lần này xuýt chút nữa phải gọi xe cứu thương, con dzợ gì đâu dữ mà quá.

TÔI CHẲNG DẠI GÌ

Lêna :

– Này, chị biết không, chồng tôi chán lắm cơ, từ cơ quan về là ngồi đọc báo đợi ăn !

– Thế ăn xong, anh ấy làm gì ?

– Uống trà và xem tivi

– Chắc chị phải bận luôn tay luôn chân mất !

– Tôi chẳng dại gì. Tôi đi ngủ hoặc đi tán gẫu thế này chứ !

GIÁ TRỊ CỦA MỘT LỜI TỪ CHỐI

Hội phụ nữ Luân Đôn yêu cầu Bơcna Sô tặng hội một cuốn sách của ông nhà đề “Người Chỉ Đường Cho Trí Thức Đến Với Xã Hội Chủ Nghĩa”.

Nhà văn đã từ chối và viết thư trả lời :

“Mong quý hội thông cảm vì cuốn sách tặng, người ta thường ít đọc..”

Hội phụ nữ bèn đem bán bức thư đó với giá 30 đồng, đủ mua ba cuốn sách của Bơcna Sô.

Người mua bức thư đó đem bán lại cho một người chuyên sưu tầm các bút tích của nhà văn và nhận được số tiền đủ để mua toàn bộ các tác phẩm của nhà văn.

Yên Nhàn post

HẮC BẠCH CÔNG TỬ NAM KỲ

CÔNG TỬ BẠC LIÊU

CÔNG TỬ MỸ THO

Một bản tin trên báo cách đây 2 năm vào ngày 3/9/2010 với cái tựa đề “Con trai Công Tử Bạc Liêu vẫn chưa xây được nhà thờ tự”. Việc xây một căn nhà đối với người thường thì không có gì lạ, nhưng đối với “cậu ấm” con của Công Tử Bạc Liêu thì đúng là một chuyện đầy mâu thuẫn.

Nội dung bản tin, “Sau gần một năm xin được đất để xây nhà thờ phượng cho cha mẹ, cậu ấm Trần Trinh Đức, con trai của Công tử Bạc Liêu vẫn chưa có đủ tiền để xây nhà.”

Ông Trần Trinh Đức không có việc làm, không có nhà ở, chạy xe ôm mà không có khách, thậm chí không có tiền mua gạo. Cái nghèo của ông làm cho người ta nhớ đến người cha đã “đốt tiền nấu trứng tỏ ra mình giàu” ngày xưa.

Người dân Nam Kỳ miệt lục tỉnh trước kia không còn lạ gì với “cụm từ” “Công tử Bạc Liêu” đã trở thành một thành ngữ để chỉ chung những chàng trai hào hoa, phóng khoáng, sành điệu ăn chơi và xài tiền như nước.

Có nhiều giai thoại lý thú được loan truyền trong dân gian về cách ăn chơi của Hắc, Bạch công tử ở Nam Kỳ trong những thập niên 1930, 1940.

1/- Xuất thân của Công Tử Bạc Liêu

Công tử Bạc Liêu Trần Trinh Huy sinh ngày 22/6/1900, còn có tên là Ba Huy, là một tay ăn chơi nổi tiếng ở Saigòn và miền Nam vào thời đó. Tên thật là Trần Trinh Quy, nhưng cho rằng cái tên Quy không sang trọng cho nên đổi lại là Trần Trinh Huy.

Ba Huy là con trai của ông Trần Trinh Trạch, ông Trạch xuất thân là một thư ký vườn, nhà nghèo, được ông bá hộ Phan Văn Bì, một đại địa chủ “Vua lúa gạo Nam Kỳ” gả con gái cho, trở nên giàu có. Nhờ cha vợ cho đất và cấp vốn, cộng thêm chút đỉnh chữ nghĩa và biết làm ăn, chẳng bao lâu Trần Trinh Trạch trở nên một địa chủ xếp vào hạng nhất ở Nam Kỳ.

Trần Trinh Trạch sở hữu 74 sở điền với 145,000 hecta đất trồng lúa và 100,000 hecta ruộng muối. Ông Trạch có 7 người con. Ba Huy là con trai thứ hai.

2/- Con người của Trần Trinh Huy

Trần Trinh Huy, (Ba Huy, Hắc Công Tử) du học Pháp 3 năm. Về nước không có mảnh bằng nào, để lại một người vợ Pháp và đứa con ở Paris. Người Huy cao lớn, khoảng 1.7 mét, lực lưỡng nhưng không cục mịch. Dáng người thanh thoát, sang trọng đầy sinh lực. Ba Huy rất hào phóng, rộng rãi, dễ dãi. Người ăn kẻ ở trong nhà lầm lỗi cũng ít la rầy, bà con ở xa đến thăm cũng được cho tiền. Tá điền nghèo được giúp đở.

Giao thiệp với người Pháp thì không khúm núm, nịnh bợ như nhiều người khác. Giới giang hồ tứ chiếng xem Ba Huy như là tay nghĩa khí ngon lành nhất Nam Kỳ. Ba Huy cũng ủng hộ, giúp Việt Minh một lần 13,000 giạ lúa. Ông thích hội hè, là người đầu tiên tổ chức “Thi hoa hậu miệt vườn” ở Hậu Giang.

Vợ : Ba Huy có 4 vợ và rất nhiều nhân tình. Vợ 1. Người Pháp có 1 con. Vợ 2. Ngô Thị Đen, người Bạc Liêu. Có người con gái là Cô Hai Lưỡng sang sống bên Pháp. Vợ 3. Nguyễn Thị Hai. Có 3 con : Thảo, Nhơn, Đức. Vợ 4. Khoảng 1968, Ba Huy dọn về căn biệt thự đường Nguyễn Du, Saigòn. Mỗi buổi sáng, đứng trên lầu nhìn xuống, thấy một cô gái gánh nước đẹp quá. Con ông già sửa xe đạp. Ba Huy đến nhà, xin đổi căn biệt thự lấy cô gái, đó là người vợ sau cùng của Ba Huy.

Ông mất ngày 16/1/1973 đưa về an táng ở huyện Vĩnh Lợi, Bạc Liêu.

3/- Những giai thoại

Đi thăm ruộng bằng xe hơi hoặc ca nô : Ba Huy được cha ủy nhiệm cho trông coi điền sản. Ông đi thăm các sở điền bằng xe hơi hoặc ca nô. Việc nầy là một sự kiện đặc biệt. Ba Huy đi đến đâu thì tá điền ùn ùn kéo đến xem, vì cả đời họ chưa thấy xe hơi bao giờ. Đi đòi nợ các tỉnh, ông dùng xe Ford Vedette, đi chơi thì dùng xe Peugeot Sport, loại xe nầy chỉ có 2 chiếc ở miền Nam, chiếc kia là của vua Bảo Đại.

– Ba Huy thuê người Pháp làm công cho mình : Đó là ông Henri, chồng bà Tư Nhớt, một người trong gia tộc Trần Trinh. Henri làm quản lý, điều hành tài sản, dưới quyền của Ba Huy. Quản lý được hưởng 10% lợi tức thu được hàng năm, vì thế  ông Henri làm việc mãi cho đến sau ngày 30/4/1975 mới về Pháp.

– Công tử Bạc Liêu mê nghề võ : Cái mốt của thời đó là học võ nghệ để nâng cao khí phách thượng võ của kẻ anh hào. Ông không học võ Tây, võ ta, mà sang Thái Lan mướn một ông thầy thượng hạng về dạy võ Xiêm cho mình và người em út là Tám Bò.

Một sự kiện chấn động cả nước là đi thăm ruộng bằng máy bay : Vì điền sản của gia tộc Trần Trinh lúc đó là 145,000 hecta ruộng lúa và 100,000 hecta ruộng muối, cho nên cần máy bay để đi thăm ruộng, vì đi xe hơi rất mệt mỏi.

Lúc đó, cả nước cũng chỉ có 2 chiếc máy bay tư nhân. Chiếc kia là của vua Bảo Đại.

Một lần đi thăm ruộng ở Rạch Giá, vì thấy lái máy bay dễ quá, cho nên Ba Huy mới giành với phi công người Pháp, để cho ông lái. Hứng chí, bay qua Hà Tiên cho đến khi đồng hồ báo sắp hết xăng nên phải đáp khẩn cấp, mới biết đó là đất Thái Lan.

Cha của ông phải đem 200,000 giạ lúa qua nộp cho Thái Lan để chuộc người và máy bay. Sự việc máy bay đi lạc đường được tờ báo Le Courrier Saigonnais đăng tin và nhiều tá điền xác nhận là họ đã tham gia làm phi trường ở Cái Dầu. Đó là loại L-19 2 chỗ ngồi.

– Sinh hoạt cực kỳ sang trọng và xa hoa : Ra đường đóng bộ Veston bằng thứ hàng đắt nhất thời đó. Ăn sáng kiểu Tây, trưa ăn cơm Tàu, chiều cơm Tây. Khi đi Saigòn, xe mới cáu cạnh có tài xế lái. Không ở ngôi biệt thự riêng mà ở nhà hàng khách sạn sang trọng nhất. Có lúc hứng chí, đi dạo phố với hàng chục chiếc xe kéo. Chiếc ông ngồi, còn những chiếc khác thì để những vật dụng lặt vặt như là cái nón, cây can… chạy theo xe không cũng được trả tiền.

Ông luôn luôn xê dịch và thích ở những nơi ăn chơi. Chiều cuối tuần thì nghỉ mát ở Vủng Tàu, Đà Lạt hoặc Cần Thơ…Rất mê cờ bạc, có khi đánh một ván 30,000 đồng, trong thời điểm mà lúa chỉ có 1.7$ một giạ, lương tháng của Thống Đốc Nam Kỳ là 3,000$/tháng.

4/. Hắc Công tử và Bạch Công tử

– Bạch Công tử : Bạch Công tử cũng là tay ăn chơi nổi tiếng ở miền Nam thời đó. Bạch Công tử tên thật là Lê Công Phước, thường gọi là Phước George. Là con trai thứ tư của Đốc Phủ sứ Lê Công Sủng, người làng Điều Hoà, quận Châu thành tỉnh Mỹ Tho (Định Tường, Tiền Giang).

Bạch Công tử sang Pháp du học năm 1909. Phước George da trắng nên gọi là Bạch công tử để phân biệt với Công tử Bạc Liêu, da ngâm đen, là Hắc Công tử.

Phước G. rất mê cải lương, sang Pháp học về sân khấu. Về nước, cùng với Nguyễn Ngọc Cương lập ra gánh hát lấy tên 2 người là gánh Phước Cương. Một năm sau, Phước tách ra lập gánh Huỳnh Kỳ để cho Phùng Há quản lý và cưới Phùng Há sau đó.

a/- Giai thoại : Tác giả Nguyễn Thiện viết : “Đang lúc cô Ba Trà, một phụ nữ có sắc đẹp làm xao xuyến tâm hồn Bạch công tử, cô nầy thua bài sạch túi, thì Bạch công tử lái xe đến nhà rủ xuống Cần Thơ ăn cá cháy và đánh bài gỡ vốn. Hai người vừa đến khách sạn Bungalows thì Hắc công tử vừa tới, thắng xe cái két. Cả hai lâm vào cảnh khó xử trước người đẹp, việc chiếm mỹ nhân chỉ còn nhờ vào tài nghệ chinh phục của mỗi người.

Cả ba cùng vào khách sạn. Bạch công tử lột chiếc cà rá nhận hột xoàn trị giá 3,000$ để trên bàn, trước khi vào phòng tắm. Lúc trở ra, thấy cô Ba Trà đang đeo thử chiếc cà rá vào ngón tay, thì Bạch công tử lên tiếng tặng luôn cho cô. Sau đó, Hắc công tử mua tặng cho cô một chiếc giá gấp đôi.

Một lần, gánh Huỳnh Kỳ xuống hát ở Bạc Liêu cùng cô Bảy Phùng Há. Hắc công tử được mời đi xem. Đang xem hát, Bạch công tử rút thuốc ra hút làm rớt tờ giấy bạc Con Công (5$), và cúi xuống tìm. Hắc công tử bèn đốt tờ giấy “Bộ Lư” (100$) soi sáng cho Bạch công tử.

Bị chơi một vố khá đau về mặt mũi, Bạch công tử thách thức, mỗi người mua một kí lô đậu xanh nấu chè. Dùng tiền giấy thay củi để đốt, nồi chè nào sôi trước thì người đó thắng.

Tối hôm đó, Hắc công tử cho trải thảm đỏ từ ngoài cổng vào tận thềm nhà, cứ mỗi một thước thì có gia nhân cầm đuốc soi đường chào đón phái đoàn của Bạch công tử.

Nhiều người chứng kiến cuộc thi, vì thấy số tiền giấy bị đốt khá nhiều, ai nấy đều toát mồ hôi. Cuối cùng thì Bạch công tử thắng.”

Ba Huy, Hắc công tử, mất ngày16/1/1973. Sau 30/4/1975, tất cả tài sản, nhà cửa của Công tử Bạc Liêu bị tịch thu. Hiện nay, dinh thự vẫn còn giữ nguyên kiến trúc và nhà của Ba Huy được dùng làm nhà hàng khách sạn mang tên “Công tử Bạc Liêu” là thương hiệu kinh doanh du lịch của tỉnh ủy Bạc Liêu.

5/. Biệt thự

Biệt thự xây cất năm 1909 do kỷ sư Pháp thiết kế. Toàn bộ vật liệu xây dựng như thép đúc, cửa, đá cẩm thạch lót nền, gạch, khung sắt trang trí đều nhập từ Pháp qua. Các bù lon, đinh ốc vít đều có khắc chữ P chứng tỏ rằng sản xuất từ Paris. Nội thất được trưng bày bằng đồ gổ, sứ, đồng rất quý giá.

Khách sạn có 6 phòng, 5 phòng thường và một phòng đặc biệt mang tên “Phòng Công Tử”, giá tiền gấp đôi và phải đặt trước cả tháng mới hy vọng có phòng. Đa số là du khách ngoại quốc.

6/. Cậu ấm chạy xe ôm kiếm ăn từng bữa

Người con của Ba Huy là ông Trần Trinh Đức, 61 tuổi, cho biết gia đình ông gặp nhiều khó khăn, nợ nần chồng chất do đứa con gái sa vào cờ bạc. Bán hết tài sản nhỏ mọn không đủ trả nợ, phải chạy trốn nợ sang Campuchia làm nghề mua bán giày dép cũ. Sống không nổi phải trồi về Việt Nam chạy xe ôm kiếm ăn từng bữa.

Nhân dịp về Bạc Liêu tổ chức giỗ thứ 36 của cha, ông Trần Trinh Đức được một nhà mạnh thường quân là ông Nguyễn Chí Luận, chủ tịch Hội đồng Quản trị, Giám đốc công ty cổ phần địa ốc Bạc Liêu tặng cho một lô “đất vàng” 200 m2 ở khu du lịch Hồ Nam, Bạc Liêu. Đồng thời vận động các nhà mạnh thường quân khác góp tiền mua một căn nhà 3 gian trị giá 300 triệu đồng cho gia đình ông Đức làm nơi thờ phượng đồng thời kết hợp với kinh doanh du lịch để cho khách đến tham quan. Ông Đức cũng được trả 5 triệu đồng/tháng về công tác quản lý nhà thờ Công Tử Bạc Liêu.

7/. Mối tình giữa Bạch công tử và Phùng Há

– Phùng Há : Phùng Há tên thật là Trương Phụng Hảo (30/4/1911 – 5/7/2009), người làng Điều Hoà, quân Châu Thành tỉnh Mỷ Tho. Thân phụ là người Hoa tên là Trương Nhân Trưởng, gốc ở Sơn Đông, Trung Quốc. Thân mẫu là Lê Thị Mai, người Mỹ Tho.
Phùng Há là phát âm theo tiếng Quảng Đông của Phụng Hảo

Thân phụ qua đời năm bà 9 tuổi. Gia đình lâm vào cảnh nghèo khó. Năm 13 tuổi bà phải đi làm công trong một lò gạch để kiếm tiền.

Giọng ca thiên phú của bà được ông bầu Hai Cu để ý nâng đở, mời bà vào gánh Tái Đồng Ban, đóng cặp với Năm Châu. Năm Châu và nhạc sĩ Tư Chơi (Huỳnh Thủ Trung) là 2 người thầy đầu tiên của bà và cũng là 2 người đàn ông có mặt trong cuộc đời tình cảm của bà. Năm 1926, bà kết hôn với nghệ sĩ Tư Chơi. Năm Châu thua buồn, rời gánh hát ra đi. Năm 1929, bà li dị.

Sau đó, bà kết hôn với Bạch công tử Phước George. Ông lập gánh hát Huỳnh Kỳ cho bà làm bầu gánh năm 18 tuổi. Gánh Huỳnh Kỳ rất nổi tiếng trong thời đó.

Bà có 2 con với Phước G, cả hai đều chết sớm.

Do khủng hoảng kinh tế thế giới năm 1933 và do Bạch công tử vung tiền qua cửa sổ cho nên gánh Huỳnh Kỳ bị sập tiệm.

– Cuộc đời thê thảm của Bạch Công tử : Do ăn chơi phung phí, cờ bạc, phụ nữ, hút xách cho nên bị tán gia bại sản. Con bị bịnh không có tiền chạy thuốc, con chết. Vợ bỏ. Ông lại mang bịnh ghiền á phiện mà không có tiền hút. Ông sống lang thang trong khu vực Vườn Ông Thượng (Vườn Tao Đàn, Saigòn). Nhờ có một địa chủ ở Chợ Gạo (Mỹ Tho) là ông Nguyễn Hoàng Phi đem về nhà nuôi và ông chết một thời gian ngắn sau đó.
Cho đến nay, mồ của ông cũng còn là một nắm đất, không có mộ bia.

Năm bà Phùng Há 99 tuổi, bà có tìm đến mộ và muốn đem hài cốt ông về hoả táng, đem tro vào thờ ở Chùa Nghệ Sĩ Gò Vấp, do bà làm Chủ tịch Hội đồng Quản trị, nhưng bị người giữ mộ là con của ông Nguyễn Hoàng Phi từ chối.

KẾT LUẬN

Những công tử con nhà giàu ăn chơi hoang phí, thì tiền bạc cao như núi cũng hết sạch. Không có một quan niệm đúng đắn và lý tưởng của cuộc đời đối với bản thân, gia đình và xã hội thì khi gặp nạn, tất cả đều sụp đổ. Con cái không có một cái nghề nuôi thân.
Về tài sản, nhà cửa của Công Tử Bạc Liêu thì sau 30/4/1975, nhà nước có quyền tịch thu hết cũng không có gì đáng nói, xin miễn bàn. Nhưng việc lợi dụng và sử dụng tên tuổi của “kẻ xấu” để kinh doanh hốt bạc thì thật là không ổn.

Khách sạn “Công Tử Bạc Liêu” và “Phòng công tử” là thương hiệu kinh doanh du lịch cần phải được sử dụng hợp pháp thì mới chính đáng và trung thực. (theo Trúc Giang)

NGƯỜI VIẾT THƯ THUÊ

Ở BƯU ĐIỆN SÀI GÒN

Thấy bài viết đáng được ghi nhớ nên chuyển đến các thân hữu bạn bè đọc câu chuyện của 1 nhân viên công chức bưu điện Saigon của chế độ cũ còn ở lại tiếp tục giúp đồng bào trong nước dịch những bức thơ tình cảm giao liên giữa gia đình tại VN ra nước ngoài và ngược lại. Rất đáng được biết đến và suy ngẫm tình con người với nhau.

Người viết thư thuê

“… phải viết tay mới rèn giũa được nhân cách, giữ được lòng người. Tôi sợ sau này sẽ chẳng còn ai nhớ đến thư tay nữa. Tôi chỉ mong là người giữ lại hồn cho những lá thư, chứ mọi danh hiệu đều vô nghĩa…”, ông Dương Văn Ngộ, người viết thư thuê lâu năm nhất Việt Nam tâm sự.

Những cánh thư xuyên thế kỷ

Tôi đã cố ý đến Bưu điện trung tâm Sài Gòn từ sớm để chờ cảnh ông đến. Nhưng ngay khi bước vào sảnh chính của tòa nhà, tôi đã nhận ra dáng ông cụ Dương Văn Ngộ, người viết thư thuê cuối cùng ở Sài Gòn, ngồi đó. Ông cụ nhỏ con, đầu bạc trắng, áo sơ mi trắng ngắn tay và cặp kính rất dày. Một tay ông cầm chiếc kính lúp tra từ điển, tay còn lại đang chậm rãi viết lên giấy.

Tôi im lặng dõi theo, ông đang dịch một đoạn thư của một người mẹ sang tiếng Pháp cho gia đình con trai đang sinh sống ở ngoại quốc, để cô con dâu người Pháp cũng hiểu được lá thư. Ông còn đọc lại cho bà mẹ nghe xem đã đúng nội dung chưa, có cần sửa gì không. Bà mẹ gửi ông 50.000 đồng tiền công nhưng ông chỉ lấy 10.000 đồng. “Việc này đơn giản, tôi chỉ lấy vậy thôi ! Tiền còn lại bà để làm được nhiều việc khác”, ông giải thích.

Ông chưa kịp nghỉ tay, một người phụ nữ khác đến nhờ viết giúp địa chỉ lên phong thư gửi con ở Úc. Thấy thiếu địa chỉ, ông giải thích cặn kẽ và yêu cầu gọi cho người thân bổ sung địa chỉ, để tránh thất lạc. Ông còn hướng dẫn cách ghi số điện thoại lên bì thư, một số thủ tục đăng ký kết hôn với người nước ngoài.

Phải đợi ông tiếp xong hai vị khách, tôi mới dám đến gần trò chuyện. Ông tuy đã ngoài 80 nhưng vẫn còn nhanh nhẹn, hoạt bát. “Ở nhà không làm gì, buồn tay buồn chân lắm, lên đây làm việc, gặp mọi người tôi mới vui. Chắc là cái nghiệp nó bám với mình rồi”.

Ông Ngộ thường làm việc từ 8h sáng đến 16h chiều mỗi ngày, đạp xe từ nhà ở Thị Nghè lên Bưu điện thành phố cũng mất khoảng 20 phút. Ông bảo : “Việc hôm nào, tôi làm xong hôm đó không nhận và hứa hẹn đén ngày mai, vì đâu biết mai mình có khỏe để tiếp tục được không. Nhiều người ở xa gắn bó với tôi nhiều năm nay, thường phải liên lạc trước xem hôm nay tôi có đi làm không để mà sắp xếp kẻo mất công mất việc”.

Ông còn được một nhà báo nước ngoài gọi là “người nối thế giới bằng những cánh thư”. Hơn nửa thế kỷ qua, ông đã viết hàng vạn lá thư, mỗi bức là một nội dung hỉ nộ ái ố khác nhau. Trong đó là những bức thư tình gửi đến hàng chục nước trên thế giới, chủ yếu là Pháp, Anh, Canada, Mỹ… kết nối tình yêu, nhiều đôi đã thành vợ thành chồng.

Có những bức thư đã giúp mọi người tìm được thân nhân. Ông xúc động kể về trường hợp một người mẹ ở Bình Phước nhờ ông viết thư hỏi thăm khắp nơi mà tìm thấy người con trai làm thợ hồ bên Pháp. Hai mẹ con ngày vẫn thường xuyên đến thăm và cảm ơn ông.

“Tôi sẽ không để ngành Bưu điện mang tiếng”

Ông Ngộ chia sẻ thêm về nguyên tắc làm việc của mình : đúng giờ, đúng lương tâm, đúng trách nhiệm. Ông không bao giờ nhận viết những lá thư có nội dung gây hiềm khích, bêu riếu, kích động nhau. Ông luôn yêu cầu phải ghi đủ họ tên, địa chỉ kể cả người gửi và người nhận, chỗ dán tem đúng quy định.

Ông hóm hỉnh nói : “Kiến thức học được hơn 70 năm trước vẫn nhớ rõ, cộng với hơn 30 năm làm nhân viên bưu điện càng vận dụng khéo léo. Vậy mà có tên của mấy cô quầy dịch vụ ngày nào cũng gặp mà không nhớ nổi. Đó cũng là nguyên tắc trong nghề, phải tuyệt đối giữ bí mật và quên ngay những gì mình vừa viết ra cho khách”.

Bằng thứ giọng đặc và ấm, ông chậm rãi kể về cuộc đời mình. Ông sinh ngày 3/3/1930. Ông từng học trường Petrus Ký, lấy bằng trung học Pháp năm 22 tuổi và gia nhập đội ngũ nhân viên Bưu điện Sài Gòn. Được học và tiếp xúc từ nhỏ nên ông thông thạo cả tiếng Pháp và Anh, được giáo viên nhận xét “có thể nói như người bản xứ”.

Ông tâm sự : “Sau khi về hưu, tôi và mấy anh em có xin lãnh đạo Bưu điện bố trí bàn làm việc để tư vấn, dịch và viết thư thuê cho bất kỳ ai có nhu cầu. Chẳng có gì phải ngại cả. Đến nay, đa số anh em ngày đó đã mất, còn một người đã hơn 90 tuổi không thể tiếp tục công việc. Tôi ráng bám nghề đến chừng nào không làm được nữa”.

Ông còn giải thích nghề này trong tiếng Anh gọi là “public writer”, nghĩa là “người viết thư cho công chúng”. Ông bảo từ này dịch sát nghĩa nhất, bởi vì phí dịch vụ là tùy lòng hảo tâm của mỗi người. “Tôi làm trước hết để phục vụ công chúng, không để ngành Bưu điện mang tiếng. Thứ hai nữa là để bạn bè quốc tế có cái nhìn thiện cảm với Việt Nam”.

Vì vậy, dù có mệt trong người nhưng ông vẫn luôn mỉm cười trò chuyện, chụp hình cùng khách nước ngoài. Đa số khách tham quan Bưu điện Trung tâm Sài Gòn bởi ta vẫn giữ được nét văn hóa riêng này.

Những kỷ vật vô giá

Ông Ngộ bảo rằng mình lên báo đã nhiều; nhưng khi viết về cuộc đời ông, nhiều tờ báo nhằm thu hút độc giả cải biên, nói quá lên. Ông không kiện tụng gì mà chỉ lấy bút mực khoanh tròn những chỗ viết sai. Như để minh chứng cho điều đó, ông lấy một xấp giấy cũ photo hàng chục bài báo viết về ông, có cả báo Đức, báo Mỹ, báo Nhật…

Ánh mắt ông ánh lên niềm tự hào, mỗi trang là một câu chuyện khác nhau “Bài này của cô Thanh Trúc, phóng viên người Việt của một tờ báo tại Mỹ. Cô ấy phỏng vấn tôi qua điện thoại rất lịch thiệp và không làm phiền nhiều. Nhờ vậy mà tôi được nhiều người biết đến”.

“Tôi nhớ nhất là ông Trần Hải, gốc Hải Phòng, là Việt Kiều bên Mỹ. Ông ấy mến tôi lắm, thấy báo ở Âu châu đăng bài về tôi, ông ấy liền cắt và gửi về Việt Nam kèm theo phong thư nữa” – Ông kể tiếp.

Trên bàn làm việc của ông còn có rất nhiều thứ khác như : Giấy chứng nhận Người viết thư thuê lâu năm nhất Việt Nam của Trung tâm sách Kỷ lục Việt Nam, những bức thư, hình ảnh, bưu thiếp… cảm ơn từ nước ngoài gửi về. Ông coi chúng như vật báu, phân loại và giữ gìn cẩn thận. Đó là niềm vui lớn nhất, giúp ông gắn bó công việc đến tận bây giờ.

Hơn nửa thế kỷ qua, ông vẫn cần mẫn với công việc của mình. Được biết thêm, gia đình ông rất khó khăn, có một người con gái mắc bệnh tâm thần, bản thân ông cũng bị cao huyết áp. Ngoài ra, ông không nhận được thêm khoản lương hay trợ cấp nào.

Trước khi chào tạm biệt, ông cười hiền và nói : “Đám trẻ giờ chẳng quan tâm đến viết thư nữa, chúng có máy tính thư điện tử, điện thoại 3G. Mấy cái đó “vô tính” lắm, phải viết tay mới rèn giũa được nhân cách, giữ được lòng người. Tôi sợ sau này sẽ chẳng còn ai nhớ đến thư tay nữa. Tôi chỉ mong là người giữ lại hồn cho những lá thư, chứ mọi danh hiệu đều vô nghĩa cả…”.

Yên Huỳnh post

Thế là hai vợ chồng cãi nhau !

– Vợ tôi hỏi: Trên TV có gì lạ không anh ?

Tôi trả lời: Có rất nhiều bụi bậm, chắc tại em quên lau.

Thế là hai vợ chồng cãi nhau.

– Cuối tuần, vợ tôi muốn đi đến một nơi thật đắt tiền.

Tôi chở bả tới cây xăng (gas station) gần nhà.

Thế là hai vợ chồng cãi nhau.

– Ngày mai sinh nhật bà xã tôi, tôi hỏi bả muốn gì ?

Bả nói bả muốn một cái gì láng cóng, đi từ 0 tới 200 trong vòng 3 giây. Tôi mua cho bả cái cân nhỏ để trong phòng tắm.

Thế là hai vợ chồng cãi nhau.

– Vợ tôi khỏa thân đứng trước tấm gương ngắm nghía 5 phút rồi bảo tôi :

Em thấy hình như em ốm đi và giảm cân một chút phải không anh ?

Tôi nói : Chắc em cần phải đi bác sĩ mắt khám lại.

Thế là hai vợ chồng cãi nhau.

– Vợ tôi khỏa thân đứng trước gương ngắm nghía 5 phút rồi bảo tôi :

Sau hai mươi năm lấy nhau, em thấy mình già hơn, mập hơn và xấu hơn trước nhiều phải không anh ? Em buồn quá, ơ anh nói gì đi chứ.

Tôi nói : Tuy vậy mắt em vẫn còn tốt như hai mươi năm về trước, 20/20.

Thế là hai vợ chồng cãi nhau.

– Kỷ niệm hai mươi năm cưới nhau, tôi hỏi bả muốn đi đâu.

Bả nói : Em muốn đi đến một chổ mà từ lâu em đã không đặt chân đến

Tôi nói : Ủa Em muốn vào trong bếp hả ?

Thế là hai vợ chồng cãi nhau.

– Vợ tôi hỏi : Anh ơi cái quần xanh này có làm mông em to hơn không anh ?

Tôi nói : Ừa, nhưng mà không to bằng cái quần trắng hôm qua.

Thế là hai vợ chồng cãi nhau.

– Giáng Sinh năm vừa rồi, tôi có tặng cho bà già vợ tôi một mảnh đất thiệt to trong một nghĩa trang thành phố rất đẹp để mai này bả có…  đi thì có chỗ đẹp.

Giáng Sinh năm nay, vợ tôi muốn biết tôi sẽ mua quà gì cho má của bả.

Tôi nói : Mua quà làm gì, quà năm rồi bả chưa xài tới mà mua quà mới chi cho tốn tiền.

Thế là hai vợ chồng cãi nhau.

– Tôi muốn mua một thùng Heineken giá $29.90, bà xã tôi không chịu vì mắc quá. Nhưng khi tôi thấy bả mua một lọ kem dưỡng da mặt cho đẹp giá $7.50.

Tôi nói : Em biết không sau khi hết thùng Heineken anh thấy em đẹp hơn nhiều…

Thế là hai vợ chồng cãi nhau.

– Khi đi ngang qua tiệm Walmart, tôi mua 4 cái vỏ bánh xe hơi, Vợ tôi cằn nhằn :

Anh mua vỏ bánh xe làm gì, anh đâu có xe đâu.

Tôi nói : Chứ hồi nãy em mua 4 cái “sú-chiêng” anh có cằn nhằn gì em đâu.

Thế là hai vợ chồng cãi nhau.

– Tôi nói : Sau ngày cưới em, anh thành Triệu phú.

Vợ tôi : Em hãnh diện quá. Có phải nhờ em anh thành công không ?

Tôi nói : Trước khi cưới em anh là Tỷ phú.

Thế là hai vợ chồng cãi nhau.

– Tôi với vợ tôi vào phòng khám bệnh Nha Khoa

– Bác sĩ nhổ răng tốn bao nhiêu tiến vậy?

– $100.00

– Ối ! Đắt quá bớt được không ?

– Nếu không dùng thuốc tê $80.00.

– $60.00 vẫn đắt.

– Nếu nhổ bằng cái kìm bình thường để nhổ đinh thì $40.00.

– Vẫn còn đắt.

– OK ! $20.00, nhưng học trò tôi sẽ nhổ chứ không phải tôi.

– Được… Được. Em em mau mau ngồi xuống trước khi Bác sĩ đổi ý.

Lần này hai vợ chồng uýnh nhau chứ không cãi nhau.

Yên Nhàn post (theo NDLe  – TVG St)